Chương 1 KHÁI LƯỢC KÍ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VŨ BẰNG
1.3. Quan niệm về văn học của Vũ Bằng
Văn học Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 làm thay đổi diện mạo của cả nền văn học nhờ ở những thành tựu mà nó đạt được trong quá trình hiện đại hóa.
Cùng với sự cách tân mới mẽ đa dạng về thể loại, sự xuất hiện những nhà lí luận, phê bình văn học chuyên nghiệp là thành tựu tiêu biểu của văn học giai đoạn này. Tuy nhiên, không chỉ các nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp như Thiếu Sơn, Trương Chính, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Trần Thanh Mại… viết lý luận phê bình mà một số nhà văn như Thế Lữ, Thạch Lam,
luận về văn học. Và đây cũng là một trong những trường hợp không nhiều lắm của văn học hiện đại Việt Nam khi nhà văn đồng thời cũng là nhà nghiên cứu phê bình văn học, những điều họ viết ra dù ý thức hay không ý thức đã hình thành một quan niệm trong sáng tác văn học. Vũ Bằng là một trong những nhà văn như thế. Quan niệm ấy cũng thể hiện rõ trong tác phẩm của ông và có thể khái quát thành những vấn đề sau:
1.3.1. Quan niệm về nhà văn, nghề văn
Có thể nói, tư duy lý luận văn học tiền hiện đại, nhất là khoa học thực chứng, luôn quan tâm đến mối quan hệ nhân quả, đề cao yếu tố môi trường, tác giả trong nghiên cứu các hiện tượng văn học. Vì vậy, họ rất đề cao vai trò của nhà văn, xem đây là yếu tố trung tâm của quá trình sáng tạo văn học. Chịu ảnh hưởng tư tưởng Phương Tây trong những năm 1930 - 1945, khi văn học Việt Nam bước vào thời kì hiện đại hóa, Vũ Bằng cũng rất quan tâm đến vai trò của nhà văn trong sáng tạo văn học. Và đấy chính là cơ sở tư tưởng để hình thành quan niệm của ông về nhà văn và nghề văn.
Đến với nghề văn, bắt đầu từ sự yêu thích, say mê từ thưở nhỏ. Sau này đối với nghề văn hay là nghề báo, Vũ Bằng đều xem đó là nghiệp dĩ - có nghĩa là phần họa phúc, sướng khổ của nghề dành riêng cho cuộc đời mỗi người đã được định sẵn từ trước. Đây cũng là quan niệm của nhiều nhà văn cùng thời Vũ Bằng như Trần Huyền Trân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Khổng Dương, Cuồng Sỹ… Tam Ích trong bức thư cuối cùng gửi cho Vũ Bằng trước khi chết năm 1948 ở miền Nam cũng khẳng định: “Đối với tôi, văn chương là cái nghiệp. Đã là cái nghiệp thì phải trả” [49;134]. Với nghề văn, Vũ Bằng trải lòng: “Nếu quả viết văn là dại, tôi cứ muốn dại cho đến khi nhắm mắt và sang đến kiếp sau vẫn cứ dại luôn” [45;758]. Đó là một sự dấn thân với nghề dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng chẳng đổi thay. Coi văn chương như là một thứ nghiệp nhưng trong thực tế, ý thức, quan niệm và hoạt động sáng tạo của Vũ Bằng lại là những biểu hiện của một người đã xem văn chương như là nghề. Và sống chết với nghề nên nhà văn cũng đặt vấn đề một cách nghiêm túc về vai trò và trách nhiệm của nhà văn trong sáng tác. Theo Vũ Bằng, tính chân thực, ý thức trách nhiệm có tiếng nói riêng… là những phẩm chất quan trọng của nhà văn. Khi dự định in lại Cai (với tên sách mới Phù Dung ơi vĩnh biệt), nhà xuất bản Lửa Sống đã yêu cầu Vũ Bằng viết lại 32 trang mà thợ in bất cẩn đánh mất nhưng tác giả từ chối:
“Tôi không viết lại vì nghĩ rằng viết lại thì giọng văn khác hẳn mà tình cảm, ý
nghĩa cũng như sự việc nêu ra sẽ không “thành thực”. Đó là điều tối kỵ, cái lối nhà văn bao giờ cũng thế: túng thiếu một tí thì chịu khó làm điều gì không vừa ý thì không bao giờ làm” [45;310]. Quan điểm của Vũ Bằng trong sáng tác là
“thành thực”. Hơn thế nữa, đó còn là sự tự ý thức về tư cách nghề nghiệp của nhà văn. Cái khát vọng “thành thực” ấy đã được Hoài Thanh nói đến trong Thi nhân Việt Nam. Theo ông, điều làm nên diệu kì của Thơ Mới chính là khát vọng
“thành thực”, nhà văn không sống thực với cuộc đời nhất định sẽ không viết nên những tác phẩm văn học giá trị, có thể sống mãi với thời gian. Vì vậy, nếu nhà văn không dốc tâm, dốc sức cho văn chương, nhất định họ sẽ sinh ra những đứa con dị dạng và tất nhiên nó sẽ yểu mệnh. Quan niệm của Vũ Bằng có sự gặp gỡ với quan niệm của các nhà văn cùng thời như Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân “tin sự “thành thực” là một đức tính, là một quan điểm của nghệ sĩ chính hiệu” [109;364]. Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… ở giai đoạn sau cũng có quan niệm như thế.
Quan niệm về phong cách của nhà văn, Vũ Bằng cho rằng, mỗi người nhận xét một kiểu, mỗi người có một cái hay riêng, chưa chắc ai đã hơn ai. Và do đó, theo ông, các nhà văn cần phô bày cái mà “họ tự cho là nhận xét lạ” – vừa để bộc lộ khả năng của chính mình, vừa để độc giả biết đến mình. Bởi vì, bất cứ nhà văn nào muốn khẳng định sự hiện hữu của mình trong đời sống văn học, phải tạo cho mình được một phong cách riêng vì đây là một chuẩn giá trong sáng tạo nghệ thuật để “xác định nhà văn này với nhà văn kia”. Quan niệm của Vũ Bằng về cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn có sự tương hợp với Tam Ích khi ông cho rằng: “Nhà văn có cá tính sáng tạo và phong cách là phải làm nên sự khác biệt nhằm tạo cho mình “một cõi không giống ai” [70;150].
Từ cách nghĩ trên,Vũ Bằng tỏ thái độ phê phán quan niệm chọn con đường sáng tác đơn giản, không chú tâm, không sống hết lòng với cuộc đời hoặc dễ dãi với văn chương nghệ thuật. Theo nhà văn, “cái quan niệm ngồi khểnh chơi nhìn đời không thể dung thứ được. Cái quan niệm cho nghệ thuật là một trò chơi không thể đứng được” [45;757]. Và đây cũng chính là quan niệm của Vũ Bằng về vai trò vốn sống của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật. Từ thành công của Tô Hoài trong việc phản ánh hiện thực và xây dựng nhân vật điển hình mà Vũ Bằng rất trân trọng, ông đã chỉ ra một vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Đó là vốn sống. Theo ông, các nhà văn cần phải có ý
nhiên là phải sống thật sâu xa và hòa mình sống cùng với những người mình muốn hiểu chớ không hời hợt được” [52;996]. Quan niệm này của Vũ Bằng cũng có những điểm tương đồng với Nhật Tiến khi cho rằng: “Kinh nghiệm sống là điều kiện tất yếu để cấu tạo nên một tác phẩm hay”.[107;68].
Những quan niệm về nhà văn, về nghề văn của Vũ Bằng tuy chưa đầy đủ, toàn diện nhưng cho thấy ông là nhà văn có trách nhiệm với nghề, sống hết mình với nghề. Cả cuộc đời làm kiếp tằm nhả tơ của Vũ Bằng là một minh chứng sinh động cho những quan niệm ấy.
1.3.2. Quan niệm của Vũ Bằng về kí.
Vũ Bằng không nêu quan niệm, bàn luận riêng về thể loại kí là do đặc điểm của thời đại. Bởi những năm 30 - 45, tiếp xúc với văn xuôi Phương Tây, các nhà văn chủ yếu đọc tiểu thuyết. Hơn nữa, giai đoạn này, Vũ Bằng lại chủ tâm tìm tòi và sáng tạo ở thể loại tiểu thuyết. Tuy nhiên, dùng quan niệm của các nhà nghiên cứu ngày nay về kí để đối chiếu, ta có thể nhận thấy quan niệm của Vũ Bằng về tiểu thuyết có những điểm tiếp cận về kí hiện đại.
Theo Hà Minh Đức, “Kí văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính chất thời sự của đối tượng miêu tả” [61;18]. Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Kí là ghi chép, về nguyên tắc là viết về sự thật mắt thấy tai nghe, do vậy, không chấp nhận hư cấu, bịa đặt” [67;216]. Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Văn Sĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường… cũng có những quan niệm riêng nhưng về cơ bản, các ý kiến có nhiều điểm tương đồng ở việc “lấy sự việc làm mục đích và nội dung thông tin cơ bản, ở việc bộc lộ ý nghĩ và cảm xúc của nhà văn”.
Như vậy, quan niệm của Vũ Bằng về loại truyện Gần đời thiết thực, tả chân cuộc sống, về nhân vật sống, về nghệ thuật tả chân ngôn ngữ, nghệ thuật tả chân tư tưởng của nhân vật… gần gũi với những đặc điểm của thể loại kí nên cũng có thể xem những sáng tác kí của Vũ Bằng chịu sự chi phối của những quan niệm này.
Trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945 thể loại truyện gần đời, thiết thực Giáo sư Mã Giang Lân đã cho rằng: “Cái mới của truyện là miêu tả những sự việc trong cuộc sống hàng ngày” [78;46]. Cái mới ấy được thể hiện ở quan niệm và thực tế sáng tác của nhiều nhà văn. Nam Cao từng bộc bạch với Vũ Bằng: “Tôi quan niệm cuộc đời giản dị lắm. Đời không có nhiều khe như người ta vẫn viết trong tiểu thuyết trữ tình. Đói thì ăn khát thì
uống. Tôi thấy thế nào cứ viết in như thế, không thêm bớt. Thế cũng đủ rồi, lọ là phải bày đặt thêm ra làm gì” [49;39]. Trong hồi kí Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng kể lại việc trao đổi vói ông chủ bút Tiểu thuyết thứ bảy Vũ Đình Long:
“Cuộc đời, theo tôi nghĩ, thường bình dị, xuôi đuột, không có khúc mắc như các tiểu thuyết gia thường tả. Bịa đặt, phóng đại hay phiền phức hóa cuộc đời không phải là hiện thực” [29;117]. Với Vũ Trọng Phụng thì “tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Vũ Bằng cho rằng: “Ý niệm về tiểu thuyết về đời người như Nam Cao có nhiều chỗ giống tôi nên chúng tôi có nhiều chỗ tương đồng” [49;39].
Thực tế cho thấy trong sáng tác của Vũ Bằng. Quan niệm về loại truyện gần đời, thiết thực dù là gián tiếp xác định đối tượng phản ánh của văn học.
Theo ông truyện gần đời, thiết thực là truyện mà nhà văn phải bày tỏ cho độc giả thấy những cái mắt thấy hàng ngày. Cách phân loại của Vũ Bằng tuy mang tính chất đại thể, tùy hứng nhưng có điểm mới so với truyền thống và phù hợp với yêu cầu cách tân của văn xuôi lúc ấy, cụ thể là hướng tiếp cận của văn xuôi
hiện đại. Và cũng có thể nói, nó được cụ thể hóa từ quan niệm của tác giả, trùng quan niệm với các nhà văn cùng thời như Nguyễn Công Hoan,
Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng… Vũ Bằng đã đề cập đến nội dung phản ánh của tác phẩm, cũng như là cách lựa chọn nội dung phản ánh của nhà văn. Nó đòi hỏi ở nhà văn cái nhìn hiện thực vừa chân xác, vừa bao quát, vừa sâu sắc, tinh tế…
Chương 2