BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ TÁC ĐỘNG CỦA MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA THANH, THIẾU NIÊN H[.]
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
TÁC ĐỘNG CỦA MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA THANH,
THIẾU NIÊN HIỆN NAY Thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Bộ 2017-2018: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trước tác động của
phương tiện truyền thông mới
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Lan Hương
Hà Nội - 2019
Trang 3DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 GS TS Trương Quốc Bình Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
2 PGS TS Bùi Hoài Sơn Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
3 ThS Bùi Thị Kim Phương Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
4 TS Mai Thị Thùy Hương Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
5 ThS Nguyễn Anh Tuấn Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
6 ThS Trần Hồng Quang Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 9
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
2 Tính cấp thiết của đề tài 19
3 Mục tiêu nghiên cứu 22
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 23
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
6 Nội dung nghiên cứu 26
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI 27
1.1 Một số vấn đề lý thuyết 27
1.1.1 Một số khái niệm công cụ liên quan đến đề tài 27
1.1.2 Quan điểm lý thuyết trong nghiên cứu về tác động của các phương tiện truyền thông mới đối với lối sống của thanh, thiếu niên ở Việt Nam hiện nay 39
1.2 Khái quát về quá trình hình thành, phát triển của mạng xã hội trên thế giới, ở Việt Nam và diện mạo một số mạng xã hội phổ biến 57
1.2.1 Mạng xã hội trên thế giới 57
1.2.2 Mạng xã hội ở Việt Nam 63
1.2.3 Diện mạo một số mạng xã hội phổ biến 68
Tiểu kết 75
Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA THANH, THIẾU NIÊN HIỆN NAY 77
2.1 Các mạng xã hội được ưa chuộng nhất ở Việt Nam hiện nay 77
2.2 Mục đích sử dụng mạng xã hội 81
2.3 Đối tượng kết nối 85
2.4 Địa điểm và phương tiện sử dụng mạng xã hội 86
2.5 Thời gian sử dụng mạng xã hội 88
2.6 Ngôn ngữ sử dụng trên mạng xã hội 90
2.7 Quan điểm của thanh, thiếu niên về việc sử dụng mạng xã hội 91
Tiểu kết 97
Chương 3: NHẬN DIỆN, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA THANH, THIẾU NIÊN HIỆN NAY 99
3.1 Nhận diện tác động của mạng xã hội đến lối sống của thanh, thiếu niên 99
3.1.1 Thay đổi về thời gian và không gian 99
Trang 53.1.2 Thay đổi phương thức giao tiếp 101
3.1.3 Thay đổi trong cách thức thu nhận và chia sẻ thông tin 103
3.1.4 Thay đổi trong cách thức thể hiện bản thân 114
3.1.5 Thay đổi trong ngôn ngữ giao tiếp 122
3.1.6 Thay đổi về thói quen sinh hoạt hằng ngày,công việc và học tập 125
3.1.7 Thay đổi về lối sống gia đình 134
3.1.8 Thay đổi về cách thức sử dụng và tương tác với các phương tiện truyền thông đại chúng 135
3.2 Đánh giá tác động của mạng xã hội đến lối sống của thanh, thiếu niên 145
3.2.1 Tác động tích cực 142
3.2.2 Tác động tiêu cực 156
Tiểu kết 177
Chương 4: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẠNG XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA THANH, THIẾU NIÊN HIỆN NAY 176
4.1 Dự báo xu hướng phát triển và tác động của mạng xã hội đến lối sống của thanh, thiếu niên trong thời gian tới 176
4.2 Một số văn bản chính sách của Nhà nước đã ban hành trong lĩnh vực quản lý mạng xã hội và các lĩnh vực có liên quan 181
4.3 Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý MXH ở Việt Nam hiện nay 184
4.4 Đề xuất giải pháp quản lý, phát huy vai trò của mạng xã hội trong việc xây dựng văn hóa, lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay 189
Tiểu kết 200
KẾT LUẬN 202
KIẾN NGHỊ 206
TÀI LIỆU THAM KHẢO 208
PHỤ LỤC 225
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT-TT Công nghệ Thông tin - Truyền thông
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tương quan giữa địa bàn nghiên cứu với những ảnh hưởng tích cực của MXH 93 Bảng 2.2 Tương quan giữa địa bàn nghiên cứu với những ảnh hưởng tiêu cực của MXH 97 Bảng 3.1 Việc đầu tiên thanh, thiếu niên làm khi vào mạng Internet 99 Bảng 3.2 Những vấn đề thanh, thiếu niên lựa chọn để đăng tải lên MXH 117
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Các MXH được thanh, thiếu niên sử dụng phổ biến 78
Biểu đồ 2.2 Thời gian sử dụng MXH của thanh, thiếu niên tính đến năm 2017 81
Biểu đồ 2.3 Mục đích sử dụng MXH của thanh, thiếu niên 81
Biểu đồ 2.4 Số lượng bạn bè trong danh sách (%) 85
Biểu đồ 2.5 Thành phần trong danh sách bạn bè trên MXH của thanh, thiếu niên 86
Biểu đồ 2.6 Địa điểm truy cập MXH của thanh, thiếu niên 87
Biểu đồ 2.7 Phương tiện truy cập MXH của thanh, thiếu niên 88
Biểu đồ 2.8 Thời gian sử dụng MXH hằng ngày của thanh, thiếu niên 89
Biểu đồ 2.9 Ngôn ngữ thanh, thiếu niên sử dụng để giao tiếp trên MXH 90
Biểu đồ 2.10 Đánh giá của thanh, thiếu niên về những ảnh hưởng tích cực của MXH 91
Biểu đồ 2.11 Đánh giá của thanh, thiếu niên về những ảnh hưởng tiêu cực của MXH 94
Biểu đồ 3.1 Mục đích chính khi đăng tải thông tin lên MXH của thanh, thiếu niên 116
Biểu đồ 3.2 Mức độ quan tâm về sự đánh giá của người khác với những chia sẻ của mình trên MXH của thanh, thiếu niên 119
Biểu đồ 3.3 Chế độ chia sẻ những status/hình ảnh/video trên MXH của thanh, thiếu niên 120
Biểu đồ 3.4 Mức độ xác thực của các thông tin cá nhân khai báo trên MXH của thanh, thiếu niên 121
Trang 9BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I THÔNG TIN CHUNG
1 Đề tài
Tên đề tài: Tác động của mạng xã hội đối với lối sống của thanh, thiếu niên
hiện nay
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Lan Hương
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Thời gian thực hiện đề tài: 2017-2018
2 Mục tiêu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của MXH đối với lối sống
của thanh, thiếu niên hiện nay, trong đó trình bày và giới thuyết một số khái niệm công cụ và các quan điểm lý thuyết liên quan đến đề tài
- Nhận diện, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng tác động của
MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay từ nhiều phương diện trong các môi trường gia đình, nhà trường và xã hội
- Dự báo xu hướng phát triển và sự tác động của MXH đối với thanh,
thiếu niên trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT-TT trong thời gian tới, nhằm làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp
- Đề xuất các giải pháp quản lý khả thi bao gồm nhóm giải pháp mang
tính phòng ngừa và nhóm giải pháp mang tính chất can thiệp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực của MXH trong việc xây dựng
lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay
3 Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Đề tài bước đầu khái quát được diện mạo của MXH trên thế giới và ở Việt Nam Phân tích thực trạng sử dụng MXH của thanh, thiếu niên thể hiện qua
Trang 10các phương diện: Mục đích sử dụng; Đối tượng kết nối; Địa điểm và phương tiện sử dụng; Thời gian sử dụng; Ngôn ngữ sử dụng; Quan điểm của thanh, thiếu niên về việc sử dụng MXH Từ kết quả khảo sát thực tế và sử dụng các quan điểm lý thuyết về lối sống và tác động của CNTT-TT, đề tài đã nhận diện, đánh giá sự tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay một cách toàn diện theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số dự báo về xu hướng phát triển và tác động của MXH trong thời gian tới, và một hệ thống các giải pháp nhằm quản lý và phát huy vai trò của MXH trong việc xây dựng văn hóa, lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay
Xét về mặt lý luận và thực tiễn, vấn đề nghiên cứu khảo sát mối tương tác giữa MXH với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay theo hướng tiếp cận liên ngành, đặc biệt là tiếp cận thể chế của đề tài đã có ý nghĩa nhất định trong việc xác định sự tác động nhiều chiều (tích cực và tiêu cực), những thách thức và cơ hội mà MXH đem lại trong việc hình thành lối sống của bộ phận này Trên cơ sở
đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách đối với các PTTTM những gợi ý thiết thực nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực của MXH trong việc xây dựng văn hóa lối sống của thanh, thiếu niên - những chủ nhân tương lai của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
4 Sản phẩm
01 Báo cáo tổng hợp
01 Báo cáo tóm tắt
15 Báo cáo nội dung
01 Báo cáo tổng thuật tài liệu
01 Báo cáo phân tích số liệu điều tra khảo sát
Trang 115 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng
Kết quả nghiên cứu của đề tài có khả năng ứng dụng và khảo cứu tại: các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Văn hóa cơ sở, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam… nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về văn hóa cũng như các hoạt động nghiên cứu khoa học và tuyên truyền phổ biến, giáo dục cho thanh, thiếu niên hiện nay
Hà Nội, ngày tháng… năm 2019
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
Bùi Hoài Sơn
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
* Nhóm công trình nghiên cứu về lối sống và lối sống thanh niên
Trước hết là một số nghiên cứu tiêu biểu của các học giả nước ngoài như: nhà Tâm lý học người Áo Alfred Adler (1870-1937) khi bàn về tâm lý cá
nhân (individual psychology) lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm “lối sống” - một khái niệm có thể được hiểu tương đương với khái niệm lifestyle, life-style hay style of life trong tiếng Anh và mode de vie trong tiếng Pháp Vào những
năm 1970, lối sống được đưa ra vừa như một khái niệm khoa học vừa mang tính thực nghiệm trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: nghiên cứu về các cộng đồng di cư, nghiên cứu về đô thị, nghiên cứu về tiếp thị, chính sách cộng đồng, du lịch, và lý thuyết xã hội nói chung (Veal 2001) Vào những năm 1980 khái niệm lối sống thu hút được nhiều hơn sự chú ý của các nhà xã hội học quan tâm đến cơ cấu xã hội nói chung (Bourdieu 1980; Scheys 1987), tuy nhiên phải đến cuối những năm 1980 thì lối sống mới trở thành một thuật ngữ thực sự và thuật ngữ này tiếp tục được xây dựng trong thập kỷ tiếp theo
và được sử dụng đắc lực trong các nghiên cứu xã hội học về thời gian thư nhàn (Veal 2000) Tác giả David Chaney thậm chí đã viết riêng một cuốn
sách mang tên Lối sống (1996) và kết luận rằng: “…hiện tượng xã hội về lối
sống là một đặc điểm gắn liền với sự phát triển của hiện đại, đặc biệt với ý nghĩa là lối sống là một biểu hiện rất quan trọng của sự tìm kiếm bản sắc cá nhân và nó đồng thời cũng là một đặc điểm xác định tính hiện đại” (Chaney 1996: 158) Bên cạnh đó, khái niệm lối sống đặc biệt còn được bàn bạc trong nghiên cứu xã hội học về thời gian nhàn rỗi Những tác phẩm tiêu biểu bàn
đến thuật ngữ này nhiều nhất là Leisure in Contemporary Society [Thời gian rỗi trong xã hội đương đại] (1999) của Ken Roberts, Youth Lifestyles in a Changing World [Lối sống của thanh niên trong thế giới đang thay đổi]
Trang 13(2000) của Steven Miles hay Leisure and Culture [Giải trí và văn hoá] (2000)
của Chris Roje Về lối sống thanh niên, một trong những nghiên cứu tiêu biểu được giới thiệu là công trình của Steven Miles (2000) với việc đề xuất
dùng khái niệm lối sống thanh niên phù hợp hơn là tiểu văn hoá thanh niên
trong nghiên cứu về thanh niên ngày nay
* Nhóm công trình nghiên cứu về các PTTTM, MXH và sự ảnh hưởng tác động của chúng tới cuộc sống con người
Với sự phát minh ra Internet ở thế kỷ XXI, thế giới trở thành một ngôi làng toàn cầu theo đúng nghĩa của nó, và quá trình làm phẳng thế giới đang diễn ra nhanh hơn bao giờ hết Internet kết nối mọi người ở khắp nơi trên thế giới, xóa đi mọi khoảng cách về không gian địa lý và thời gian Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nhu cầu chia sẻ thông tin, kết nối bạn bè ngày càng phát triển đã thúc đẩy sự ra đời của MXH Và khi ra đời, MXH đã có những ảnh hưởng, tác động không nhỏ làm thay đổi cuộc sống, lối sống của con người nhất là khi nó đang trở thành một phần cuộc sống của những nhóm xã hội, cộng đồng trên khắp thế giới với đối tượng sử dụng đông đảo nhất chính là giới trẻ bởi họ đã tìm kiếm được nơi thỏa mãn gần như hoàn hảo mọi nhu cầu
về thông tin, giải trí, kết nối
Cho đến nay, sự ảnh hưởng, tác động của các PTTTM đối với đời sống
xã hội của con người đương đại là chủ đề hấp dẫn với các học giả phương Tây, thậm chí có nhà nghiên cứu còn nhận định: nghiên cứu về các PTTTM hiện đang là một trào lưu rất được các nhà nghiên cứu quan tâm Điều này có thể được minh chứng bằng sự việc hằng năm, các nhà nghiên cứu về các PTTTM vẫn thường nhóm họp trong các cuộc hội thảo được tổ chức ở nhiều nơi như Philipin (2003), Hồng Kông (2004), Trung Quốc (2005), Hàn Quốc (2006), Nga, Pháp và Philipin (2007)… để trao đổi kinh nghiệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về hiện tượng lý thú này Các chuyên gia cũng tập hợp nhau lại thành một cộng đồng với tên gọi “Mobile-society” trên địa chỉ
Trang 14trang web groups.google.com/group/mobile-society để giữ liên hệ thường xuyên với nhau hơn, trong đó, các nhà nghiên cứu thuộc các nước ở khu vực Đông Á, Phần Lan, Mỹ, Úc, Italia, Pháp, Hà Lan là những thành viên tích cực nhất của nhóm nghiên cứu này với sự góp mặt của các học giả nổi tiếng như James Katz, Mama Aakhus, Leopoldina Fortunati, Christian Licoppe, Sum Dong Kim, Patrick Law, Rama Pertierra
Theo nhận định của PGS TS Bùi Hoài Sơn (2008), trên thực tế, việc nghiên cứu về các PTTTM trên thế giới đã trải qua 2 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất bắt đầu với các nghiên cứu mang nặng tính mô tả để trả lời các câu hỏi:
Ai là người sử dụng các PTTTM; Họ sử dụng với tần suất như thế nào và mục đích sử dụng ra sao; Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của việc sử dụng các PTTTM đó; Tiến hành các nghiên cứu so sánh việc sử dụng giữa các quốc gia với nhau… Giai đoạn thứ hai được đặc trưng bởi những giải thích về việc sử dụng các PTTTM thông qua các lý thuyết hoặc phát triển lý thuyết thông qua các phân tích về các PTTTM Kết quả là, một loạt các cuốn sách được ra đời,
tiêu biểu như: Machines That Become Us: The Social Context of Personal Communicication Techology ( 2001) do J Katz biên tập; Perpetual Contact: Mobile Commmunicication, Private Talk, Puplic Performance ( 2002) do J Katz và M.Aakhus biên tập; Wireless World; Social and Interactional Aspects
of the Mobile Age do D.Diaper và C Sanger biên tập hay Mediating The Human Body; Technology, Communication and Fashion (2003) do L
Fortunati, J.Katz và R.Riccini biên tập… Trong nhiều công trình, các lý thuyết được áp dụng nhiều nhất bởi các nhà nghiên cứu là lý thuyết “vòng xoáy của sự im lặng” (The Sprial of Silence), “quá trình cá nhân hóa” (personalizalion), “vốn xã hội” (Social Capital) Việc lý giải những biến đổi
xã hội hay văn học hoặc trong tâm lý của các cá nhân cũng là chủ đề chính trong giai đoạn nghiên cứu này
Trang 15Được xem như một kênh truyền thông mới, kể từ khi xuất hiện cho tới nay, hàng trăm MXH khác nhau đã được thiết lập thu hút số lượng người sử dụng ngày càng đông đảo (trong đó chiếm đại bộ phận là thanh, thiếu niên) mang lại nhiều tiện ích cho cuộc sống con người song cũng không ít biểu hiện tiêu cực đã nảy sinh từ hệ lụy của chứng “nghiện” MXH Những vấn đề đó đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Cuốn sách The Virtual Community: Homesteading on the Electronic Frontier (1993) của Howard Rheingold được xem như kết quả của một cuộc
điều tra xã hội, ở đó thảo luận về các cuộc tìm tòi việc giao tiếp thông qua liên lạc sử dụng máy tính làm trung gian và thông qua các nhóm xã hội, mở rộng chúng thành khoa học thông tin Rheingold đã chỉ ra những lợi ích tiềm tàng cho các cá nhân cũng như cho xã hội nói chung khi gia nhập những nhóm như
vậy Thuật ngữ “cộng đồng ảo” (virtual community) mà hiện chúng ta hay dùng
để chỉ cộng đồng cư dân mạng xuất hiện đầu tiên chính trong công trình này
Ba năm sau đó, Rob Shields công bố công trình Cultures of Internet; Virtual Spaces, Real Histories, Living Bodies (1996) cho thấy người sử dụng
Internet với nhiều lý do như: tranh luận, đưa ra quan điểm cá nhân, buôn bán, lập kế hoạch, sáng tạo, yêu đương, hận thù… và có các tính chất khác nhau như: quan hệ giữa cá nhân, tính chất hòa đồng, thoải mái, trao đổi văn hóa, giúp đỡ của thành viên công xã…
Media Studies (1998) của Stuart Price được biết đến như một nghiên
cứu sâu về các loại hình truyền thông đại chúng, tác giả đặc biệt chú ý đến hiện tượng các PTTTM với những thay đổi mà chúng đã, đang và sẽ mang đến cho cuộc sống con người
Trong cuốn The psychology of the Internet (1999), Patricia M Wallace
đã công bố những thực nghiệm về cách con người ứng xử khi tương tác, giao tiếp trực tuyến và lý giải về sự ảnh hưởng của môi trường trực tuyến tới hành
vi của con người theo những cách đáng ngạc nhiên Trong đó, một trong
Trang 16những tác động đáng chú ý khi con người tương tác với nhau trên Internet, theo ông, là họ làm mất đi những hành vi cử chỉ phi ngôn ngữ và bản chất
“lạnh” khi giao tiếp online có thể dẫn đến nhiều vấn đề Ngoài ra, tác giả còn
đề cập đến một số vấn đề như sự nhạy cảm của thanh thiếu niên với hành vi lừa đảo trên mạng, hành vi tình dục…
Thomas L Friedman trong Thế Giới Phẳng (2006) đã nhấn mạnh đặc
biệt vai trò của các phương tiện truyền thông như một trong những yếu tố căn bản nhất góp phần làm cho thế giới trở nên “phẳng” thông qua các loại tín hiệu kỹ thuật số, các chương trình Internet, điện thoại di động với nhiều chức năng mới, và nhiều hình thức lưu trữ, chuyển tải thông tin khác
Trong Social networks and Internet usages by the young generations
(2013) Sophie Tan-Ehrhardt đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của MXH và Internet trong xã hội hiện đại, đồng thời chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng MXH và Internet Nghiên cứu đã tiến hành so sánh những thói quen này với hành vi trong đời thực của các đối tượng sử dụng cũng như tìm hiểu những quan điểm của thế hệ trẻ về MXH hiện nay
Một nghiên cứu khác là Young and old use social media for surprisingly different reasons đã chỉ ra những lý do mà mọi người tham gia sử
dụng MXH, tìm hiểu MXH đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào và dự báo xu hướng sử dụng MXH trong tương lai ra sao
Ngoài ra, bàn về các PTTTM trong đó có MXH và những tác động của chúng đến con người còn có hàng loạt các bài viết đăng tải trên các website chính thống hoặc không chính thống Các tác giả chủ yếu bàn tới hai mặt lợi ích và tác hại mà MXH mang đến cho người dùng Và đa số ý kiếu đều thống nhất cho rằng: sẽ không có giải pháp nào hiệu quả và tối ưu hơn là từ chính việc siết chặt công tác quản lý của cơ quan chức năng có thẩm quyền và sự nhận thức, mục đích của người sử dụng Nhiều cuộc tranh luận rất sôi nổi xung quanh vấn đề “những tác động tích cực và tiêu cực của MXH đối với thế hệ
Trang 17trẻ” đã diễn ra trên nhiều diễn đàn Đáng chú ý là cuộc tranh luận trên trang
web Debate.org với tiêu đề: Is social networking bad for today's generation?
đã tập hợp được rất nhiều ý kiến trong đó có khoảng 58% ý kiến đồng ý rằng MXH đang có những tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ, và khoảng 42% không đồng ý khi đưa ra những ưu điểm mà MXH đã và mang lại cho con người
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Nhóm công trình nghiên cứu về lối sống và lối sống thanh niên
Bên cạnh những nghiên cứu của các học giả nước ngoài, những công trình về chủ đề lối sống của các tác giả trong nước cũng được giới thiệu khá đầy đủ và chi tiết Năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thực hiện
cả một Chương trình khoa học và công nghệ cấp Bộ về Tác động của một số hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đối với lối sống con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với 08 đề tài
khoa học Đây có thể xem là một sự nghiên cứu tổng thể, hệ thống và mang tính liên ngành song đồng thời cũng có tính chuyên sâu về sự tác động của các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đối với lối sống của con người Việt Nam hiện nay Từ nhiều góc độ khác nhau, các công trình đã đi vào nhận diện những tác động tích cực và tác động tiêu cực không mong muốn cùng việc lý giải cơ chế tác động và nguyên nhân của sự tác động đa chiều này Trên cơ sở
đó tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm điều chỉnh hệ thống các chính sách, xây dựng hệ thống các hoạt động phù hợp, hoàn thiện và nâng cao chất lượng các hoạt động của ngành, phát huy tác động tích cực đối với lối sống của người dân (Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Chí Bền 2016) Nhìn chung, mặc dù các đề tài của Chương trình này đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của lối sống, song chưa trực tiếp đề cập đến lối sống riêng của thanh, thiếu niên Việt Nam Từ những nghiên cứu về lối sống xuất hiện vào khoảng 30 năm trước - vào thời kỳ kinh tế bao cấp với các công trình đầu tiên mang đậm ảnh hưởng
của các nghiên cứu của Liên xô cũ (Thanh Lê 1979; Nhiều tác giả 1982;
Trang 18Phạm Văn Bích 1983; Đỗ Thái Đồng 1983; Trần Độ 1984 và 1985; Nguyễn Quang Vinh 1984), đến thời kỳ Đổi mới, các vấn đề về lối sống được các nhà nghiên cứu đề cập đến đã đa dạng hơn cả về nội dung lẫn phương pháp tiếp cận (Võ Văn Thắng 2006; Phạm Hồng Tung 2007; Nguyễn Ngọc Hà 2011 ) Một số tác giả khác lại nhấn mạnh yếu tố tâm lý và văn hóa dân tộc trong lối sống của người Việt Nam trong tương quan với các điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị (Đỗ Huy 2008), đồng thời đề cao việc phát huy những giá trị tốt đẹp của đạo đức, lối sống truyền thống (Lê Như Hoa 2003; Võ Văn Thắng 2006; Ngô Đức Thịnh 1999 và 2010)
Ảnh hưởng của các yếu tố trong bối cảnh mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đổi mới và hội nhập quốc tế, bao gồm cả các mặt tích cực cũng như tiêu cực tới lối sống con người Việt Nam cũng được nhiều tác giả
đề cập đến (Nguyễn Việt Hương 2000; Huỳnh Khái Vinh 2001; Nguyễn Văn Huyên 2003; Nguyễn Thị Thanh Huyền 2007; Nguyễn Văn Dân 2008; Phạm Hồng Tung 2011; Vũ Quang Thọ 2015) Và như một yêu cầu cấp bách, một
số tác giả đã đề xuất xây dựng một số tiêu chí chung và cụ thể về lối sống của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế (Bùi Hoài Sơn 2011) Lối sống các nhóm xã hội đặc biệt là đối tượng thanh niên cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm (Nguyễn Thị Oanh 2001, Đặng Quang Thành 2005, Nguyễn Quý Thanh 2011) Lối sống cũng được nghiên cứu trong tương quan với môi trường đô thị (Lê Như Hoa 1993, Đặng Quang Thành 2000) hay mang tính vùng miền (Đỗ Huy 2005, Lương Thanh Tân) hoặc một nhóm cư dân (Nguyễn Duy Thiệu 2008)
Ngoài ra, vấn đề lối sống cũng được đề cập đến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều Chương trình khoa học cấp Nhà nước như Chương trình
KX.07: Con người là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế, xã hội 1995); KX.06-13: Văn hóa lối sống và môi trường (1993-1994), KHXH-04: Phát triển văn hoá, xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
Trang 19(1991-đại hoá (1996-2000); KX.05-07: Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên; KX.06: Văn hóa văn minh, vì sự phát triển và tiến bộ xã hội (1994-1996); KX.03.16: Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế (2006-2010)
* Nhóm công trình nghiên cứu về các PTTTM, MXH và sự ảnh hưởng tác động của chúng tới cuộc sống con người
Trong khoảng hơn chục năm trở lại đây, nghiên cứu về các PTTTM bắt đầu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đa số các tác giả đều nhận thấy vai trò quan trọng với sức mạnh không thể phủ nhận của các PTTTM, Internet và nhiều ứng dụng CNTT trong thời đại truyền thông đa phương tiện hiện nay Song hành với việc trở thành một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống, CNTT-TT đã có những tác động hết sức mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, trong đó nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng nhanh và mạnh hơn cả chính là thanh, thiếu niên khi họ sử dụng nhiều ứng dụng CNTT trong các hoạt động học tập, giải trí và giao tiếp xã hội (Bùi Thế Duy 2015) Internet và sau đó là MXH được du nhập và sử dụng ở Việt Nam chưa phải đã lâu, song Việt Nam lại là quốc gia có mức độ phát triển và phổ biến rất nhanh chóng công nghệ này đủ để Internet trở thành môi trường sống mới cho giới trẻ Việt và tạo nên hàng loạt những thay đổi thể hiện ở nhiều mặt của cuộc sống khi không gian Internet đã tạo ra không gian kết nối và thể hiện bản sắc đa chiều của các bạn trẻ (Nguyễn Thị Minh Phương 2002, Nguyễn Thị Phương Châm 2013)
Nhìn nhận về tác động của MXH theo một chiều hướng khác - bởi những hệ lụy khôn lường, một số tác giả cho rằng: MXH đang có xu hướng khiến nhiều người dùng quá tập trung vào bản thân và thiếu kiểm soát dẫn đến chứng “nghiện” MXH Cuộc sống ảo với những nút “like” dễ dãi hay vô cảm của cộng đồng cư dân mạng đang vô tình kích thích sự tự mãn cá nhân Những hiện tượng này nếu lặp lại thường xuyên có thể dẫn đến những chứng
Trang 20bệnh tâm lý: thiếu kiểm soát, kiềm chế, ý chí không đủ mạnh để có thể điều chỉnh hành vi và nhiều vấn đề tiêu cực khác: làm giảm thiểu các mối quan
hệ ngoài đời thực, việc sử dụng tiếng Việt đang ngày càng thiếu chuẩn xác… (Phan Thị Mai Hương 2013; Trần Hữu Luyến và Hạ Thị Kim Cúc 2014)
Một số nghiên cứu khác tập trung chủ yếu vào những tính năng, cách thức truyền thông thông tin trên MXH như: việc tham gia thường xuyên vào một số MXH của giới trẻ; việc đưa - tiếp nhận thông tin trong lĩnh vực văn hóa, giải trí trên các trang MXH nổi tiếng; MXH và báo chí trực tuyến hay mối quan hệ tương tác giữa MXH và truyền thông cá nhân (Lê Thu Quỳnh 2003; Lê Thị Minh Trà 2004; Ngô Lan Hương 2006; Trần Thị Oanh 2009; Lê Minh Thanh 2010; Nguyễn Thị Cẩm Nhung 2011; Hoàng Thị Hải Yến 2012; Nguyễn Minh Hạnh 2013)
Một số công trình nghiên cứu bước đầu đi sâu khảo sát về sự ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên (mà chủ yếu là giới học sinh, sinh viên) tại các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh theo hướng tiếp cận xã hội học Ở đó đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh từ sự tác động mang tính hai mặt tích cực và tiêu cực của việc sử dụng Internet trong các hoạt động: học tập, giải trí, tra cứu, giao tiếp… và một số quan điểm sống mới của giới trẻ: thích độc lập, sành điệu, cái nhìn “thoáng” về quan hệ tình dục trước hôn nhân… Về cơ bản, các công trình này đã chỉ ra được các mối liên
hệ có ý nghĩa giữa tần suất sử dụng Internet với các hành vi cá nhân trong hoạt động học tập và giải trí Song, như nhiều nghiên cứu khác về các PTTTM ở Việt Nam hiện nay, những công trình này mới chỉ đề cập đến việc
sử dụng Internet nói chung trong nhóm thanh niên, đánh giá và xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet vào các mục đích khác nhau với sự ảnh hưởng về nhận thức, về tâm lý tình cảm (tình bạn, tình yêu), về mặt xã hội (tính kinh tế, sự khác biệt về giới trong việc tiếp cận thông tin và mục đích sử dụng Internet)… (Bùi Hoài Sơn 2006; Nguyễn Thị Hậu 2010; Nguyễn Quý
Trang 21Thanh 2011; Hoàng Thị Hải Yến 2012; Nguyễn Thị Phương Châm 2013; Nguyễn Văn Thọ 2015)
Vấn đề ảnh hưởng của MXH tới lối sống cũng đã được đề cập đến trực
tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều hội thảo khoa học như: “Mạng xã hội với lối sống trẻ thành phố Hồ Chí Minh”, “Truyền thông xã hội - Truyền thông cổ điển và Dư luận xã hội” và “Nghiện internet: Những thách thức mới của xã hội hiện đại” và trong một vài công trình nghiên cứu có phạm vi rộng hơn khi
tìm hiểu về ảnh hưởng của các PTTTM đến mọi mặt của đời sống văn hóa - xã hội và lối sống của con người Việt Nam nói chung trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Một số tác giả đã tập trung vào lý giải bản chất, đặc trưng của các PTTTM theo đó là các dịch vụ mà con người được
sử dụng, thừa hưởng, sáng tạo các giá trị, làm phong phú hơn đời sống tinh thần và vật chất của con người Việt Nam trong điều kiện mới Hệ quả của sự tác động ấy đã đưa đến những thay đổi trong giao tiếp xã hội, cách truyền đạt tri thức trong xã hội, cách thức kinh doanh và cung cấp dịch vụ, các loại hình giải trí… theo hai chiều hướng tích cực, tiêu cực cũng như gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về thách thức và khó khăn cần phải ứng phó trong lĩnh vực này (Bùi Hoài Sơn 2008, Từ Thị Loan 2014) Liên quan đến PTTTM, báo chí Việt Nam cũng tỏ ra rất quan tâm đến chủ đề điện thoại di động và Internet, theo đó đã có rất nhiều bài báo được đăng tải về các vấn đề khác nhau trong việc sử dụng điện thoại di động và Internet, đặc biệt là đối với thanh niên hay liên quan đến mặt trái của việc sử dụng các phương tiện này
Tóm lại, tổng quan tình hình nghiên cứu nói trên cho thấy, cho đến thời điểm này, những vấn đề lý luận và thực tiễn trong mối quan hệ tác động giữa các PTTTM với đời sống con người đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu, tổng kết, qua đó mang đến một cái nhìn tổng quát về vai trò, ảnh hưởng của các PTTTM tới đời sống nhân loại nói chung và các quốc gia nói riêng Đặc biệt trong vòng hơn chục năm trở lại đây ở Việt Nam, sự
Trang 22tác động, ảnh hưởng của Internet đối với giới trẻ đã trở thành chủ đề rất được quan tâm dưới nhiều khía cạnh: thực trạng, tiện ích, hệ lụy, cảnh báo… và từ nhiều góc nhìn: tích cực, tiêu cực hay trung tính Tất cả điều đó đã phản ánh tính chất phức tạp của các PTTTM trong tư cách là một trong những phát minh vĩ đại của loài người Tuy nhiên, trong xu hướng nghiên cứu sôi nổi ấy, quan hệ tương tác giữa MXH - một PTTTM với lối sống của thanh, thiếu niên dường như chưa trở thành một chủ đề gắn kết để nghiên cứu chuyên biệt và chuyên sâu Các nghiên cứu về lối sống thường chỉ tập trung vào những vấn
đề lý thuyết như khái niệm, cấu trúc, tiêu chí… hay những vấn đề thực tiễn xây dựng văn hóa lối sống của con người trong bối cảnh thế giới mới Trong khi đó, những công trình nghiên cứu đã công bố về ảnh hưởng của các PTTTM, đặc biệt là Internet đối với giới trẻ chủ yếu sử dụng các cách tiếp cận như xã hội học hay nhân học để bàn thảo từ nhiều chiều cạnh và quan điểm khác nhau về vai trò, chức năng và những tác động của chúng đến đời sống văn hóa - xã hội vốn rất phong phú, đa dạng của mỗi quốc gia trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Đó chính là khoảng trống khoa học để
đề tài nghiên cứu sự tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên
có thể triển khai thực hiện theo hướng tiếp cận liên ngành, đặc biệt là tiếp cận thể chế trong việc hướng tới những giải pháp quản lý nhà nước trước tình hình phát triển nhanh chóng khó kiểm soát của các PTTTM nói chung và MXH nói riêng trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay
2 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời và phát triển của khoa học công nghệ là thành tựu sáng tạo của
xã hội loài người Về lý thuyết, những phát minh này tạo điều kiện cho con người thuận tiện hơn trong hoạt động sống của mình, không tự thân hoàn toàn tốt cũng như xấu, tích cực hay tiêu cực đối với việc phát triển con người Tuy nhiên, càng ngày, con người càng lệ thuộc nhiều hơn vào công nghệ, đến mức
Trang 23nhiều người cho rằng chúng ta không thể sống thiếu chúng được Công nghệ đang có sự ảnh hưởng toàn diện đến đời sống của con người, trong đó có văn hóa nói chung, lối sống nói riêng
Sự xuất hiện và phổ biến của Internet là một trong những thành tựu quan trọng nhất mà con người đạt được trong thế kỷ XX Internet đã khiến thế giới thay đổi trong cách quan niệm, trong giao tiếp, trong giáo dục, giao dịch kinh tế… thậm chí đã tạo ra một thế giới mới - thế giới ảo - tương tác với thế giới thực Sự xuất hiện của Internet đã đặt ra nhiều bài toán với con người trong việc ứng xử với phát minh quan trọng này của nhân loại Các tiền tố e- trở nên thông dụng như những giải pháp thích ứng với công nghệ đó: e-learning (học trên mạng), e-banking (giao dịch ngân hàng qua mạng), e-mail (thư điện tử), e-commerce (thương mại điện tử), e-government (chính phủ điện tử)… Năm 1997, Internet chính thức xuất hiện ở Việt Nam, và sau hơn
20 năm, những ảnh hưởng của nó thực sự đã được cảm nhận ở mọi ngõ ngách của đất nước
Mạng xã hội (social network) được xem như một trong những dịch vụ trên nền tảng Internet có ảnh hưởng lớn nhất đến Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ ở đô thị Hiện nay, thế giới có hàng trăm MXH khác nhau như Facebook, Twitter, MySpace, Instagram, YouTube, Tumblr, Line, Viber… Ở Việt Nam, ngoài một số mạng đang là trào lưu của thế giới, còn có nhiều MXH thuần Việt đang hoạt động, phổ biến là ZingMe, Zalo, Yume.vn, Tamtay.vn, Go.vn… Bản chất của các MXH là dịch vụ kết nối, chia sẻ thông tin của các
cá nhân, các nhóm trên Internet với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Với hàng loạt tính năng như chat/voice chat, e-mail, giải trí (phim ảnh, thời trang, game, thể thao), chia sẻ file, mua bán, hỏi đáp, blog và xã luận… MXH đã đổi mới hoàn toàn cách con người liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống hằng ngày của hàng trăm triệu thành viên trên khắp thế giới Mỗi MXH đều có một sự thành công
Trang 24nhất định dựa trên sự phù hợp với những yếu tố về địa lý, văn hóa của các quốc gia để mang đến những tiện ích không thể phủ nhận cho cuộc sống con người như: là nơi để mỗi cá nhân có thể tự cung cấp tri thức, nâng cao giá trị bản thân;
là nơi để gắn kết và chia sẻ cộng đồng…
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, đối tượng sử dụng MXH chủ yếu là thanh, thiếu niên - những người ngày càng có nhiều cơ hội tham gia vào thế giới thông tin và kết nối vô cùng rộng lớn, cùng lúc có thể tiếp cận với nhiều
hệ tư tưởng và giá trị sống khác nhau Không thể phủ nhận những tác động tích cực của MXH đối với giới trẻ nếu họ biết cách sử dụng chúng một cách
hợp lý như: thể hiện bản thân (tính cách, sở thích, quan điểm, năng lực…) và
trong nhiều trường hợp nó có thể giúp họ tìm kiếm những cơ hội phát triển
bản thân; kết nối bạn bè, hợp tác nhiều mặt; tiếp nhận thông tin, học hỏi kiến thức và kỹ năng giúp hoàn thiện bản thân; cơ hội kinh doanh khi MXH chính
là một môi trường kinh doanh khá lý tưởng; mang đến lợi ích nhất định về sức
khoẻ dựa vào một số nghiên cứu khoa học về việc sử dụng Internet đối với
quá trình hoạt động và phát triển não bộ… Tuy nhiên, bên cạnh đó MXH cũng có không ít những ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến lối sống của giới trẻ như: việc sử dụng thái quá dẫn đến chứng “nghiện MXH” gây ra hàng loạt các hệ lụy đáng tiếc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống sinh hoạt và lao động của mỗi cá nhân; tình trạng khủng hoảng/nhiễu loạn thông tin gây rối dư luận và thậm chí mang tính chất kích động, phản động… Tất cả những hiện tượng tiêu cực ấy đang trở thành mối nguy hại ảnh hưởng tới lối sống, tư tưởng, tinh thần của thanh, thiếu niên nước ta hiện nay Nhiều bài học thực tiễn đã cho thấy, những tác hại tiêu cực từ Internet, từ MXH chính là một trong những tác nhân làm hủy hoại các giá trị đạo đức, văn hóa nhân văn dẫn đến những tư tưởng, hành vi sai lệch đáng tiếc của một bộ phận thanh, thiếu niên trong thời gian vừa qua
Trang 25Ảnh hưởng của các PTTTM tới đời sống văn hóa - xã hội nói chung, lối sống của con người Việt Nam nói riêng đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà quản lý cũng như các nhà nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu khảo sát mối tương tác giữa MXH với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay theo hướng tiếp cận liên ngành, đặc biệt là tiếp cận thể chế rất có ý nghĩa trong việc xác định sự tác động nhiều chiều (tích cực và tiêu cực), những thách thức
và cơ hội mà MXH đem lại cho việc hình thành lối sống của bộ phận này Trên cơ sở đó, tìm ra những giải pháp ứng phó hữu hiệu nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực của MXH trong việc xây dựng văn hóa lối sống của thanh, thiếu niên - những chủ nhân tương lai của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là một việc làm cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn, quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay, trong đó trình bày và giới thuyết một số khái niệm công cụ và các quan điểm lý thuyết liên quan đến đề tài
- Nhận diện, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay từ nhiều phương diện trong các môi trường gia đình, nhà trường và xã hội
- Dự báo xu hướng phát triển và sự tác động của MXH đối với thanh, thiếu niên trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT-TT trong thời gian tới, nhằm làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp
- Đề xuất các giải pháp quản lý khả thi bao gồm nhóm giải pháp mang tính phòng ngừa và nhóm giải pháp mang tính chất can thiệp nhằm giảm thiểu
Trang 26tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực của MXH trong việc xây dựng lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Đề tài lựa chọn một số cách tiếp cận chủ yếu sau đây:
- Tiếp cận liên ngành với sự kết hợp giữa các ngành khoa học: xã hội học, nhân học, văn hóa học, tâm lý học, kinh tế học… nhằm nghiên cứu sự ảnh hưởng, tác động đa chiều của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay
- Tiếp cận từ góc độ tổng thể lối sống của thanh, thiếu niên để nhìn ra những khía cạnh, những phương diện bị tác động và thay đổi
- Tiếp cận thể chế được xem là quan trọng nhất nhằm tạo ra các khung quản lý hoạt động của các PTTTM trong đó có MXH
- Tiếp cận dựa trên quan điểm tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết, cơ sở
lý luận về sự ảnh hưởng, tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên và căn cứ vào tình hình điều kiện thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sẽ được sử dụng như: tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu đã có; tiến hành điều tra khảo sát thực trạng việc sử dụng MXH của thanh, thiếu nhiên hiện nay Từ đó đối chiếu so sánh giữa các kết quả nghiên cứu để nhìn ra những tác động mang tính đa chiều của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên Các kết quả đánh giá, nhận định cũng sẽ được kiểm chứng khoa học thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên gia và tọa đàm khoa học
a Phương pháp tổng hợp, thống kê có ý nghĩa trong việc tổng quan
tình hình nghiên cứu từ các nguồn tư liệu có sẵn về đề tài, xác định các vấn đề
Trang 27đã được nghiên cứu từ hệ thống các văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án liên quan đến nội dung đề tài
b Phương pháp phân tích, so sánh giúp đảm bảo tính chính xác, khoa
học, khách quan của các dữ liệu, nhận định trong đề tài nghiên cứu
c Phương pháp dự báo có ý nghĩa trong việc nhìn ra xu hướng phát
triển và tác động của MXH đến lối sống của thanh, thiếu niên trong thời gian
tới, là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các kiến nghị, giải pháp của đề tài
d Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Tổng số phiếu khảo
sát là 600 phiếu, trong đó phân chia đều cho hai địa bàn: Thủ đô Hà Nội 300 phiếu và tỉnh Lào Cai 300 phiếu, tập trung vào các đối tượng thanh, thiếu niên với những khác biệt trong các biến số về địa bàn cư trú (đồng bằng - miền núi,
đô thị - nông thôn), nghề nghiệp (học sinh, sinh viên; công nhân; cán bộ viên chức nhà nước, kinh doanh buôn bán và nông dân), mức sống (giàu, khá giả, nghèo), thói quen, sở thích, mong muốn, nhu cầu và những đánh giá khác trong việc sử dụng MXH cũng như ảnh hưởng của MXH đến lối sống của họ
e Phương pháp phỏng vấn sâu: các nhà nghiên cứu; các nhà quản lý
văn hóa; thanh, thiếu niên về các vấn đề liên quan đến MXH
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác động (tích cực và tiêu cực) của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên
5.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên Theo thống kê hiện có hàng trăm MXH đang cung cấp dịch vụ tại Việt Nam, tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài chỉ giới hạn nhận diện sự tác động chủ yếu của một số MXH đang có số lượng thanh, thiếu niên
sử dụng đông đảo nhất như Facebook, YouTube, Instagram, ZingMe, Zalo
Trang 28Mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phạm trù lối sống tùy theo góc tiếp cận và mục đích nghiên cứu, song nhìn từ góc độ cụ thể, trong tương quan tác động của MXH tới đối tượng thanh, thiếu niên, trong
phạm vi đề tài, lối sống được xác định bao gồm 4 thành tố: Cách ứng xử, thói quen sinh hoạt hằng ngày; Ngôn ngữ giao tiếp; Cách học tập và làm việc; Cách thể hiện bản thân Sự tác động, ảnh hưởng của MXH (với tư cách là
một phương tiện truyền thông) đối với lối sống của thanh, thiếu niên được nhận diện trước hết ở các khía cạnh bề nổi dễ nhận thấy của lối sống (thói quen sinh hoạt, học tập, lao động, giao tiếp ứng xử…), bên cạnh đó là sự ảnh hưởng, tác động tới những khía cạnh chiều sâu của lối sống (quan điểm, tư tưởng, nhân cách, đạo đức…) của nhóm đối tượng này
Trong phạm vi đề tài, đối tượng thanh, thiếu niên được nghiên cứu khảo sát có giới hạn độ tuổi từ 11 đến 30 tuổi với những khác biệt về: địa bàn
cư trú (đồng bằng - miền núi, đô thị - nông thôn), nghề nghiệp (học sinh, sinh viên; công nhân; cán bộ viên chức nhà nước, kinh doanh buôn bán và nông dân); mức sống (giàu, khá giả, nghèo); thói quen; sở thích; nhu cầu và những đánh giá trong việc sử dụng MXH cũng như ảnh hưởng của MXH đến lối sống của họ
* Phạm vi không gian
Đề tài lựa chọn điểm thực hiện điều tra, khảo sát dựa trên một số tiêu chí: mang tính đại diện cho các môi trường sống khác nhau, bao gồm các khu vực: đồng bằng - miền núi, đô thị - nông thôn với những khác biệt về lối sống; sự đa dạng về nghề nghiệp của đối tượng được hỏi: học sinh, sinh viên, công nhân, cán bộ viên chức nhà nước, kinh doanh buôn bán và nông dân Theo đó, địa bàn nghiên cứu khảo sát gồm:
Thủ đô Hà Nội nằm ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ - là trung tâm kinh
tế, văn hóa, khoa học và công nghệ năng động hàng đầu của Việt Nam, do
Trang 29vậy giới trẻ nơi đây có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với các phương tiện truyền thống mới, trong đó có MXH
Tỉnh Lào Cai - một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc vốn nổi tiếng là mảnh đất phong phú về bản sắc văn hóa, truyền thống lịch sử và đặc biệt là di sản văn hóa, đã và đang trở thành điểm
du lịch lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước Bên cạnh đó, với vị trí
là một trong những tỉnh liên tục đứng ở tốp đầu trong bảng xếp hạng những năm gần đây về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI đã thể hiện những thành tựu trong việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân sinh của tỉnh Lào Cai Đó chính là những lợi thế cơ bản để thanh, thiếu niên Lào Cai trong thời gian gần đây có điều kiện để tiếp cận và sử dụng các PTTTM như MXH
Tại Hà Nội và Lào Cai, tiến hành điều tra bảng hỏi ở cả hai khu vực đô thị và nông thôn, cụ thể: Trung tâm thành phố Hà Nội và huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội); Tp Lào Cai với vị trí trung tâm và quan trọng nhất của tỉnh và thị trấn Sa Pa - một thị trấn vùng cao thuộc huyện Sa Pa
* Phạm vi thời gian
Đề tài nghiên cứu sự tác động, ảnh hưởng của MXH kể từ năm 2009 khi Facebook và một số MXH nội địa trở thành trào lưu thực sự ở Việt Nam cho đến nay (2018)
6 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về mạng xã hội
Chương 2: Thực trạng sử dụng mạng xã hội của thanh, thiếu niên hiện nay Chương 3: Nhận diện, đánh giá tác động của mạng xã hội đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay
Chương 4: Xu hướng phát triển và giải pháp phát huy vai trò của mạng
xã hội trong xây dựng lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay
Trang 30Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI
1.1 Một số vấn đề lý thuyết
1.1.1 Một số khái niệm công cụ liên quan đến đề tài
* Phương tiện truyền thông mới
Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ PTTTM xuất hiện và phát triển khá nhanh từ cuối những năm 80 trở đi Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra một khái niệm về PTTTM Trong rất nhiều tranh
luận, có quan điểm cho rằng, PTTTM có thể gọi là phương tiện truyền thông hội
tụ bởi đó là sự kết hợp của ba yếu tố: công nghệ điện toán, mạng truyền thông và nội dung thông tin Gần với quan điểm này, một số khác nhìn nhận PTTTM là
phương tiện truyền thông kỹ thuật số, là nội dung tích hợp dữ liệu (âm thanh, hình ảnh, chữ ), được lưu trữ trong các định dạng kỹ thuật số, được phân phối thông qua các mạng lưới như cáp quang, vệ tinh, hệ thống truyền tải siêu thanh [41]
Trong công trình Hand book of New Media (2006) (Sổ tay phương tiện
truyền thông mới), một số tác giả cho rằng, PTTTM cần phải có ba yếu tố: các đồ tạo tác hoặc các thiết bị cho phép và mở rộng khả năng giao tiếp; các hoạt động và công tác truyền thông giúp phát triển và sử dụng các thiết bị này; và các thoả thuận, tổ chức xã hội hình thành xung quanh các thiết bị và công việc này [107]
Với góc nhìn rộng hơn, nhóm tác giả Martin Lister, Jon Dovey, Seth
Giddings, Ianin Grant và Kieran Kelly trong New Media - A Critical Introduction (2009) (Phương tiện truyền thông mới - một giới thiệu có tính
phản biện) đưa ra quan điểm: điều quan trọng trong nghiên cứu truyền thông
là phải hiểu “phương tiện truyền thông” là các tổ chức xã hội đầy đủ chứ không phải chỉ nói về công nghệ truyền thông Chúng ta cũng không thể nói
đó là một “phương tiện truyền thông mới”, nếu sau gần 30 năm nó vẫn được ít người biết đến Theo hướng này, các tác giả nhìn nhận PTTTM có 3 đặc
Trang 31điểm: một là, chúng có đóng góp lớn vào sự thay đổi mang tính lịch sử của toàn cầu; hai là, chúng đóng vai trò như một “nhà cải cách” đầy quyền lực và mạnh mẽ cho khái niệm “mới”; và ba là, chúng là sự lai ghép hữu ích, toàn diện và cân bằng giữa kỹ thuật và chuyên môn (truyền thông) [108]
Điểm lại một vài quan điểm trên để thấy rằng hiện chưa có sự chưa đồng thuận trong cách hiểu về PTTTM và những vấn đề xoay quanh chúng Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận, PTTTM chính là một phần quan trọng của sự thay đổi toàn cầu Sự xuất hiện của PTTTM được xem như một hiện tượng thời đại, đó là một phần của nền văn hóa công nghệ mới trong một thời đại mới/kỷ nguyên mới của loài người
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhìn nhận các PTTTM là một trong những thành tựu quan trọng nhất mà loài người đã đạt được trong vòng 3 thập kỷ trở lại đây, là một bước ngoặt truyền thông trong thời đại số
Và, thuật ngữ PTTTM được dùng chủ yếu để mô tả những lựa chọn truyền thông số xuất hiện trong những năm gần đây Đặc biệt, chúng tôi nhìn nhận các PTTTM không chỉ đơn thuần là công nghệ mà còn bao gồm cả bối cảnh
sử dụng và sự tác động của chúng tới đời sống văn hóa - xã hội của con người Với khả năng tưởng chừng “không giới hạn”, có thể nói, các PTTTM
đã và đang làm thay đổi cả thế giới và cách tư duy của chúng ta, đúng như nhận định của Thomas L Friedman trong cuốn sách “Thế Giới Phẳng” (2006): các phương tiện truyền thông như một trong những yếu tố căn bản nhất góp phần làm cho thế giới trở nên “phẳng” thông qua các loại tín hiệu kỹ thuật số, các chương trình Internet, điện thoại di động với nhiều chức năng mới, và nhiều hình thức lưu trữ, chuyển tải thông tin khác từ người này đến người khác hay từ nơi này sang nơi khác [80]
* Mạng xã hội
Thế kỷ 20 được xem là kỷ nguyên toàn cầu bởi sự phát minh ra Internet
và MXH Với sự ra đời của MXH, trái đất hình tròn của chúng ta dường như
Trang 32đã trở thành một “đường thẳng”, ở đó tất cả mọi người đều có thể được kết nối với nhau bất kể họ đang ở nơi đâu và vào thời điểm nào Trong một xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống công nghiệp bận rộn khiến con người có ít thời gian để gặp gỡ nhau trực tiếp, MXH đã làm thay đổi cách chúng ta giao tiếp với nhau theo cách giúp mọi người giao lưu và chia sẻ với nhau mọi lúc, mọi nơi mà ở đó không còn rào cản về khoảng cách không gian địa lý hay thời gian Nhờ những tính năng ưu việt ấy, hiện nay số lượng người đăng ký thành viên và truy cập các trang MXH đang không ngừng tăng lên Có thể nói, sự phổ biến của MXH đang dần thay đổi cách sống và làm việc của xã hội loài người
từ cá nhân cho đến tập thể, tổ chức… và thậm chí nó đang dần trở thành một phần cuộc sống của một cộng đồng người trong chúng ta
MXH được coi là môi trường thể hiện rõ nhất đặc trưng tương tác của các PTTTM, và cũng giống như các PTTTM, hiện còn nhiều quan điểm khác nhau trong việc định nghĩa MXH cùng những vấn đề tính năng, ưu điểm hay hạn chế của MXH Bản thân cụm từ “social network” là thuật ngữ quốc tế rất thông dụng song vẫn còn có rất nhiều tranh cãi trong việc chuyển ngữ chính xác
Theo Từ điển Bách khoa Wikipedia: “Mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo (tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian” [93] Theo cách định nghĩa như vậy, MXH có thể
ngầm hiểu là một thế giới ảo (xã hội ảo) với các thành viên là các cư dân mạng Các cư dân mạng liên kết với nhau theo cách có thể dựa trên các nhóm (group), dựa trên các thông tin cá nhân, sở thích cá nhân hoặc lĩnh vực quan tâm Với cách hiểu này, khái niệm MXH đã gây ra rất nhiều tranh luận khi chỉ tập trung vào vấn đề coi chúng là sự kết nối những người có chung sở thích, mục tiêu và họ là những người kiến tạo nội dung của MXH Đi cùng với sự lý giải này, có ý kiến cho rằng nên đổi thành thuật ngữ “mạng giao lưu” cho đúng với ý nghĩa và mục đích của “social network”
Trang 33Laura Garton - nhà nghiên cứu xã hội học, chuyên gia nghiên cứu
chiến lược của Đại học Toronto lại đưa ra một định nghĩa rất đơn giản “khi một mạng máy tính kết nối mọi người hoặc các cá nhân, tổ chức lại với nhau thì đó chính là mạng xã hội” [47] Theo cách hiểu này, MXH là một tập hợp
người/hoặc các tổ chức/hoặc các thực thể xã hội khác được kết nối với nhau thông qua mạng máy tính Như vậy trái với cách hiểu của nhiều người, MXH
là mạng máy tính lớn với nhiều thành viên thì thực chất MXH đơn giản chỉ là
hệ thống của những mối quan hệ con người với con người, và trên bình diện
đó, bản thân Facebook, YouTube hay Twitter sẽ không phải là MXH mà chỉ
là những dịch vụ trực tuyến được tạo lập để xây dựng và phản ánh MXH
Có một cái nhìn cụ thể hơn, nhà nghiên cứu Eric K Clemons thuộc Đại học Pennsylvania, Mỹ đã phân chia MXH ra làm 6 loại căn bản dựa trên sự tương đồng giữa MXH trong thực tế cuộc sống với MXH online, tùy theo mục đích sử dụng của người dùng:
- Để giải trí: điển hình có Second Life của Mỹ, hoặc VinaGame của
Việt Nam, và Garena của Singapore…
- Để kết nối: nổi bật nhất là Facebook, MySpace của Mỹ, hay
Yume.vn, Gov.vn, ZingMe, Zalo… của Việt Nam Đây là những mạng phổ biến nhất hiện nay
- Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin: đây là những cộng
đồng mạng có cùng mối quan tâm đến một vấn đề nào đó Ví dụ yelp.com của
Mỹ (và website tương tự yup.vn và thodia.vn của Việt Nam) là nơi cộng đồng chia sẻ thông tin đánh giá về những địa điểm mà cư dân trong cộng đồng quan tâm và thường lui tới (nhà hàng, siêu thị…) Hoặc tripadviser.com là cộng đồng dành cho những người thích du lịch
- Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin dành cho giới chuyên gia: điển hình là LinkedIn.com của Mỹ, XING.com của Đức và CyVee.com
của Việt Nam
Trang 34- Để tìm sự hỗ trợ và hỗ trợ cộng đồng: thường nhắm đến những
nhóm đối tượng cụ thể, ví dụ lamchame.com, webtretho.com, otosaigon.com
- Để giải trí, tạo và quản lý nội dung: tiêu biểu là YouTube, Flickr,
WordPress, hay vnphoto.net của Việt Nam
Nhìn vào cách phân loại trên, MXH được Clemons định nghĩa như là tập hợp những cá nhân có cùng chung những mối quan tâm, cùng chia sẻ những giá trị… tập hợp lại để trao đổi thông tin, kết bạn, hỗ trợ lẫn nhau và cũng là để giải trí, bộc lộ cái tôi của mình Việc phân loại các MXH giúp hiểu được mục đích của người dùng khi “tìm đến” các trang mạng này, từ đó các nhà hoạch định chiến lược có thể tìm ra những phương thức phù hợp nhằm tạo doanh thu (monetizing) từ những cộng đồng này [14]
Ở Việt Nam, một trong những định nghĩa về MXH nhận được nhiều sự quan tâm và đồng tình của giới nghiên cứu là của PGS.TS Vũ Duy Thông khi
cho rằng: “Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thực thể truyền thông trên Internet với nhau thành những cụm mạng nhỏ hơn theo sự liên kết tự nguyện không phân biệt thời gian, không gian” [83] Hiểu một cách đơn giản hơn, MXH là một bộ
phận của Internet được hình thành từ sự kết hợp tự nguyện những blog, website của các cá nhân hoặc nhóm cá nhân có cùng sở thích, mục đích
Tại chương 1 Nghị định 97/2008/NĐ - CP, điều 3 - khoản 14 đã định
nghĩa về MXH như sau: “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi, người sử dụng khả năng, tương tác chia sẻ, lưu trữ
và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo nhật ký (blog), diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác” [11]
Nhìn chung có nhiều quan điểm khác nhau về MXH xong tất cả đều thống nhất ở việc cho rằng với những tính năng được tích hợp, MXH đã đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống mỗi ngày của hàng trăm triệu thành viên trên khắp thế
Trang 35giới khi họ có thể khai thác các tính năng dịch vụ theo nhiều phương cách để phục vụ cho mục đích tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim/ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán
Trên cơ sở tổng hợp những cách hiểu về MXH, trong phạm vi đề tài, các vấn đề nghiên cứu được dựa trên nội dung về MXH như sau: Mạng xã hội
là một xã hội ảo, trong đó có hai thành tố chính là các thành viên và sự liên kết giữa các thành viên đó Mạng xã hội là dịch vụ Internet cho phép kết nối các thành viên cùng sở thích không phân biệt không gian và thời gian qua những tính năng như kết bạn, chat, email, phim/ảnh… nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của cộng đồng mạng và chúng mang chứa những giá trị xã hội nhất định
* Tác động
Chúng ta đều biết rằng mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan đều không thể tồn tại một cách độc lập, đơn lẻ mà luôn nằm trong những mối liên hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau Theo từ điển Tiếng Việt,
“tác động” được định nghĩa là việc làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định [95] Một số quan điểm cho rằng, tác động là sự chuyển dịch có định hướng của đối tượng này lên đối tượng khác trong mối quan hệ tương tác được xác lập giữa chúng Như vậy, tác động là khái niệm có nội hàm rộng bao trùm lên cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần, ở đó chỉ cần một kích thích nào đó của đối tượng này sẽ gây ra biến đổi ở đối tượng kia Trong rất nhiều dạng thức tác động và biến đổi, tác động gây biến đổi về tâm lý, đạo đức, lối sống của con người được xem là dạng thức tác động phức tạp nhất Trong mối quan hệ với giới tự nhiên và xã hội, con người vừa là chủ thể tác động song đồng thời cũng là đối tượng chịu sự tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến những biến đổi về tâm lý, hành vi của họ Theo quan điểm của Karl Marx, đạo đức của con người là sản phẩm của
Trang 36những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, nói cách khác, đạo đức, lối sống của con người là sản phẩm của quá trình tác động hoạt động của họ trong hiện thực khách quan [15] Theo tâm lý học hoạt động, lối sống của thanh, thiếu niên được hình thành và phát triển thông qua quá trình hoạt động
và giao tiếp của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội của họ Nói cách khác, lối sống của mỗi cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng từ chính những hoạt động của họ trong đời sống xã hội Đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ CNTT-TT như hiện nay đã xuất hiện một dạng thức tác động mới mẻ chưa từng có trước đó - tác động của các PTTTM, nhất là MXH đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội của con người, đặc biệt là sự tác động gây ra những biến đổi về tâm lý, đạo đức, lối sống vốn được xem là hình thức tác động phức tạp nhất Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng, bản thân MXH cùng các PTTTM khác là thành tựu của nhân loại, mang tính chất trung tính, khách quan Chúng được sáng tạo ra nhằm mục đích trước hết như một phương tiện hỗ trợ, mang đến những tiện ích cho cuộc sống mỗi cá nhân trong thời đại số, ở đó ẩn chứa nhiều hấp dẫn song cũng không ít cám dỗ, tiêu cực Trong phạm vi đề tài, sự tác động của MXH được nhìn nhận có thể theo chiều hướng tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào cách thức, mục đích và thời gian sử dụng MXH của mỗi người Sở dĩ sự tác động của MXH có thể sẽ gây ra những biến đổi theo nhiều chiều hướng và mức độ trong lối sống của thanh, thiếu niên bởi thực tế sẽ có những khác biệt căn bản về thể chất, tâm sinh lý lứa tuổi, điều kiện sống, nghề nghiệp, nhu cầu… của mỗi cá nhân ở từng nhóm tuổi
Mỗi cá nhân khi trở thành thành viên của một cộng đồng mạng rộng lớn, tất yếu sẽ chịu ảnh hưởng, tác động của những nguyên tắc, chuẩn mực hành vi của cộng đồng mạng theo cơ chế tác động nhất định Theo nhận định của nhà nghiên cứu Bùi Thế Duy: “thông qua cơ chế xã hội hóa cá nhân, tập nhiễm và áp lực nhóm thì những gì cá nhân học được trên internet, mạng xã hội và cộng đồng
cư dân mạng sẽ trở thành những giá trị đạo đức, lối sống đặc trưng và thể hiện
Trang 37chúng thông qua các hoạt động mà cá nhân đó thực hiện trong các mối quan hệ với xã hội, tự nhiên và môi trường” [15] Nói cách khác, lối sống của thanh thiếu niên được hình thành, phát triển, bộc lộ thông qua các hoạt động sống, do vậy sự tác động của MXH tới lối sống của họ cũng sẽ được biểu hiện thông qua các hoạt động sống cơ bản ấy, bao gồm: Ứng xử, thói quen sinh hoạt hằng ngày; Giao tiếp; Học tập và làm việc; Thể hiện bản thân Tuy nhiên, đề tài nhận định
sự tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên theo cơ chế khá phức tạp: thanh, thiếu niên trong tư cách là những chủ thể có ý thức, sự tác động của MXH tới các chủ thể này phải thông qua ý thức chủ quan mới làm cho mỗi
cá nhân có những biến đổi nhất định, có nghĩa rằng đó không phải là sự tác động mang tính trực tiếp, có thể gây ra biến đổi tức thì, mà là sự tác động theo con đường gián tiếp thông qua nhận thức và sự quyết định lựa chọn của mỗi cá nhân người dùng (đối tượng bị tác động) Và, như bất cứ sự tác động nào trên phương diện xã hội, tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên bao giờ cũng diễn ra trong những không gian, thời gian xác định và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Điều này sẽ quy định mức độ tác động trên mỗi cá nhân Mặt khác, sự tác động này không phải chỉ mang tính một chiều
mà đó là sự tác động, ảnh hưởng có tính chất tương tác qua lại lẫn nhau giữa MXH và người dùng, theo đó việc sử dụng MXH của thanh, thiếu niên dù ít hay nhiều cũng có những động thái tác động trở lại đối với các dịch vụ MXH, chẳng hạn như nhu cầu của giới trẻ (nhu cầu giao lưu và chia sẻ là cao nhất) luôn là một trong những yếu tố hàng đầu kích thích nhà mạng không ngừng cải tiến các trang mạng có cấu trúc phong phú, giao diện thu hút, tăng khả năng tương tác và liên kết cộng đồng … và có một điều dễ nhận thấy nhất đó là chính những người dùng chúng ta đã và đang làm cho MXH trở nên ngày càng phổ biến
* Lối sống
Theo cách nói thông dụng trong tiếng Anh “Lối sống” có thể được hiểu
là tương đương với khái niệm lifestyle/ life-style/style of life Trong giới học
Trang 38thuật trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phạm trù lối sống tùy theo góc tiếp cận và mục đích nghiên cứu Nếu như trong cuộc sống hằng ngày, lối sống thường gắn liền với mọi hành vi của con người, có khả năng chi phối hành vi của mỗi cá nhân và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thì trong khoa học, lối sống giữ vai trò như một phạm trù lớn, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành/lĩnh vực khoa học có thể được tiếp cận tùy theo từng chuyên ngành và trọng tâm nghiên cứu khác nhau [2]
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế - xã hội của một phương thức sản xuất nhất định, phù hợp với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Lối sống bị quyết định bởi các điều kiện sinh hoạt khách quan, đồng thời cũng phụ thuộc cả vào các nhân tố chủ quan Lối sống mang tính giai cấp Trong xã hội học, lối sống được hiểu là cách thức sống của một người hoặc một nhóm vào một thời gian và trong một không gian nhất định bao hàm các dạng quan hệ xã hội, cách thức tiêu thụ, cách giải trí và ăn mặc Một lối sống cũng phản ánh thái độ của một cá nhân, các giá trị, thế giới quan của cá nhân đó Các cách ứng xử và tập quán của các lối sống là một sự tổng hợp của các thói quen, các ứng xử mang tính quy ước và các hành động lý tính Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Phạm Hồng Tung, lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm tất
cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động được một
bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương quan biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng” [91] Gần với quan điểm trên, một số nhà nghiên cứu tiếp cận lối sống như tổng thể các đặc điểm, biểu hiện chủ yếu nói lên hoạt động sống của cá nhân
và cộng đồng trong những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định [2] Mặt
Trang 39khác, khái niệm lối sống có thể được hiểu rõ hơn khi đặt nó trong mối quan hệ với các khái niệm có liên quan như: lẽ sống, nếp sống, mức sống, phong cách sống… Mặt ý thức của lối sống là lẽ sống, mặt ổn định của lối sống làm thành nếp sống, mặt trình độ của lối sống làm nên mức sống, chất lượng sống, mặt riêng biệt của lối sống làm thành phong cách sống
Nhìn chung, mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phạm trù lối sống tùy theo góc tiếp cận và mục đích nghiên cứu, song các khái niệm
đều gặp nhau ở những điểm sau: một là, xem lối sống là một dạng hoạt động sống của con người; hai là, hoạt động sống này phụ thuộc chặt chẽ vào phương thức sản xuất và điều kiện sống của con người; ba là, nó thể hiện đặc
trưng riêng của từng cộng đồng người Từ góc độ khái quát, đa số ý kiếu đều
tán thành trong cách hiểu lối sống là tổng hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống; lối sống được hình thành qua quá trình xã hội hóa Nhìn từ góc độ cụ thể, trong tương quan tác động của MXH
tới đối tượng thanh, thiếu niên, trong phạm vi đề tài, lối sống được xác định bao gồm 4 thành tố:
- Cách ứng xử, thói quen sinh hoạt hằng ngày
- Ngôn ngữ giao tiếp
- Cách học tập và làm việc
- Cách thể hiện bản thân
Đề tài xác định sự tác động, ảnh hưởng của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên trước hết chính là sự tác động lên các khía cạnh bề nổi dễ nhận thấy của lối sống (thói quen sinh hoạt, học tập, lao động, giao tiếp ứng xử…), từ đó có thể nhìn ra sự tác động tới chiều sâu của lối sống (tư tưởng,
nhân cách, đạo đức…) của nhóm đối tượng này
Trang 40* Thanh, thiếu niên
Trong phạm vi đề tài, thanh, thiếu niên được nhìn nhận là một thời kỳ phát triển của cuộc đời con người, bao gồm hai giai đoạn phát triển và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là một số đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý và sự gia nhập các mối quan hệ xã hội của các nhóm đối tượng mà chúng tôi cho rằng rất cần quan tâm khi nhận diện và đánh giá về tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên
Thiếu niên (11 đến 15 tuổi)
Hiện nay, trong các văn bản luật của Việt Nam tuy chưa có quy định về
độ tuổi thiếu niên, song theo các chuyên gia, trong sự phát triển của con người thì thiếu niên là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành, thường được bắt đầu từ tuổi 11 đến tuổi 15 Sự chuyển tiếp này có liên quan đến những thay đổi về sinh học, xã hội và tâm lý, trong đó những thay đổi về sinh học và tâm lý được cho là dễ nhận thấy nhất Nhóm đối tượng thiếu niên có những đặc điểm tâm lý phổ biến như: Ý thức tập làm người lớn với nhu cầu tự làm chủ, thể hiện/khẳng định bản thân; Nhu cầu cao về giao lưu, mở rộng quan hệ xã hội; Tâm lý, tình cảm chưa có sự phát triển toàn diễn, dễ bị hưng phấn, kích động, mang tính chất bồng bột
Thanh niên (16 đến 30 tuổi)
Thanh niên là mốc đánh dấu giai đoạn kết thúc của tuổi thiếu niên và sự khởi đầu của tuổi trưởng thành Theo Liên Hợp Quốc, thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 và được coi là bộ phận công dân trẻ tuổi có nhiều năng lượng và động lực nhất cho các hoạt động sáng tạo Độ tuổi thanh niên được ghi nhận có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia, và khái niệm thanh niên cũng thường được sử dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với từng hoạt động và vùng lãnh thổ Chẳng hạn, ở các quốc gia châu Phi, độ tuổi thanh niên được quy định là từ 15 đến 35 tuổi, trong khi ở Việt Nam, theo Luật Thanh niên (2005), độ tuổi của nhóm đối tượng này là từ 16 đến 30