1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài Giảng Kế Toán Quản Trị

186 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 1: Tổng Quan Về Kế Toán Quản Trị
Tác giả Nguyễn Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh
Chuyên ngành Kế Toán Quản Trị
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (8)
    • 1.1. SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP (8)
    • 1.2. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (9)
      • 1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị (9)
      • 1.2.2. Khái niệm về kế toán quản trị (13)
      • 1.2.3. Bản chất của kế toán quản trị (14)
    • 1.3. PHÂN BIỆT KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH (15)
      • 1.3.1. Điểm giống nhau (15)
      • 1.3.2. Điểm khác nhau (16)
    • 1.4. KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI CHỨC NĂNG QUẢN LÝ (20)
      • 1.4.1. Lập kế hoạch và dự toán (20)
      • 1.4.2. Tổ chức thực hiện (21)
      • 1.4.3. Kiểm tra và đánh giá (21)
      • 1.4.4. Ra quyết định (22)
    • 1.5. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIỆP VỤ SỬ DỤNG TRONG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (23)
      • 1.5.1. Nội dung của kế toán quản trị (23)
      • 1.5.2. Phương pháp nghiệp vụ sử dụng trong kế toán quản trị (25)
  • Chương II: PHÂN LOẠI CHI PHÍ (28)
    • 2.1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA CHI PHÍ DOANH NGHIỆP (28)
      • 2.1.1. Khái niệm (28)
      • 2.1.2. Bản chất của chi phí (30)
    • 2.2. PHÂN LOẠI CHI PHÍ (30)
      • 2.2.1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động (31)
        • 2.2.1.1. Chi phí sản xuất (32)
        • 2.2.1.2. Chi phí ngoài sản xuất (36)
        • 2.2.1.3. Chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm (Phân loại dựa trên thời điểm ghi nhận các chi phí trên báo cáo kế toán) (37)
      • 2.3.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí (37)
        • 2.3.2.1. Biến phí (38)
        • 2.3.2.2. Định phí (40)
        • 2.3.2.3. Chi phí hỗn hợp (44)
      • 2.3.3. Mô hình vận động của chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất (Cách phân loại chi phí trên các báo cáo kế toán) (51)
      • 2.3.4. Các cách phân loại khác nhằm mục đích ra quyết định (53)
        • 2.3.4.1. Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và đối tượng chịu chi phí, chi phí được (53)
        • 2.3.4.2. Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và mức độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị, chi phí được chia thành 2 dạng: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được (54)
        • 2.3.4.3. Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với các quyết định kinh doanh, chi phí được chia thành nhiều dạng: Chi phí cơ hội; chi phí chênh lệch; chi phí chìm… (54)
    • Chương 4: MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG - LỢI NHUẬN (CVP) (57)
      • 4.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN (CVP) (58)
        • 4.1.1. Số dư đảm phí (Contribution margin – Phần đóng góp) (58)
          • 4.1.1.1. Tổng số dư đảm phí – Phần đóng góp (58)
          • 4.1.1.2. Tỷ lệ số dư đảm phí (59)
          • 4.1.1.3. Kết cấu chi phí (59)
        • 4.1.2. Đòn bẩy kinh doanh (62)
      • 4.2. MỘT SỐ ỨNG DỤNG QUAN HỆ CVP VÀO QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH (64)
        • 4.2.1. Tình huống 1 - Thay đổi định phí và sản lượng tiêu thụ (64)
        • 4.2.2. Tình huống 2 - Thay đổi biến phí và sản lượng tiêu thụ (65)
        • 4.2.3. Tình huống 3 - Thay đổi định phí, giá bán và sản lượng tiêu thụ (65)
        • 4.2.4. Tình huống 4 - Thay đổi định phí, biến phí và sản lượng tiêu thụ (66)
        • 4.2.5. Xác định giá với lợi nhuận mong muốn (67)
      • 4.3. PHÂN TÍCH HOÀ VỐN (69)
        • 4.3.1. Khái niệm (69)
        • 4.3.2. Phương pháp xác định điểm hoà vốn (70)
          • 4.3.2.1. Sản lượng hòa vốn (70)
          • 4.3.2.2. Doanh thu hòa vốn (71)
        • 4.3.3. Đồ thị hoà vốn (72)
          • 4.3.3.1. Đồ thị hòa vốn (73)
          • 4.3.3.2. Đồ thị lợi nhuận (74)
      • 4.4. PHÂN TÍCH ĐIỂM HOÀ VỐN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI GIÁ BÁN VÀ KẾT CẤU BÁN HÀNG (76)
        • 4.4.1. Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với giá bán (76)
        • 4.4.2. Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với kết cấu bán hàng (78)
        • 4.4.3. Những điểm hạn chế khi phân tích mối quan hệ CVP (80)
    • Chương 5: PHÂN BỔ CHI PHÍ VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO BỘ PHẬN (81)
      • 5.1. PHÂN BỔ CHI PHÍ CỦA CÁC BỘ PHẬN PHỤC VỤ (81)
        • 5.1.1. Sự cần thiết phải phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ (81)
          • 5.1.1.1. Khái niệm bộ phận (81)
          • 5.1.1.2. Sự cần thiết phải phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ (81)
        • 5.1.2. Các nguyên tắc phân bổ chi phí (82)
          • 5.1.2.1. Lựa chọn căn cứ phân bổ (82)
          • 5.1.2.2. Các hình thức phân bổ chi phí (84)
          • 5.1.2.3. Một số chú ý khi phân bổ chi phí (88)
        • 5.1.3. Phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ theo cách ứng xử của chi phí (89)
          • 5.1.3.1. Biến phí (89)
          • 5.1.3.2. Định phí (90)
        • 5.1.4. Những điểm cần ghi nhớ khi phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ (93)
      • 5.2. PHÂN TÍCH BÁO CÁO BỘ PHẬN (94)
        • 5.2.1. Báo cáo bộ phận (94)
          • 5.2.1.1. Đặc điểm báo cáo bộ phận (94)
          • 5.2.1.2. Phân bổ chi phí cho các bộ phận (96)
        • 5.2.2. Phân tích số dư bộ phận (99)
        • 5.2.3. Phân tích báo cáo theo doanh thu (101)
          • 5.2.3.1. Phân tích theo loại sản phẩm tiêu thụ (102)
          • 5.2.3.2. Phân tích doanh thu theo khu vực tiêu thụ (103)
  • Chương VI: ĐÁNH GIÁ HOÀN VỐN ĐẦU TƯ VÀ ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM. 105 6.1. ĐÁNH GIÁ HOÀN VỐN ĐẦU TƯ (105)
    • 6.1.1. Đánh giá trách nhiệm quản lý (105)
      • 6.1.1.1. Trung tâm chi phí (107)
      • 6.1.1.2. Trung tâm kinh doanh (108)
      • 6.1.1.3. Trung tâm đầu tư (109)
    • 6.1.2. Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) (111)
      • 6.1.2.1. Mô hình cấu trúc ROI (111)
      • 6.1.2.2. Các chỉ tiêu cơ cấu của ROI (112)
    • 6.1.3. Các biện pháp làm tăng ROI (113)
      • 6.1.3.1. Tăng doanh thu (113)
      • 6.1.3.2. Giảm chi phí hoạt động (114)
      • 6.1.3.3. Giảm vốn hoạt động (115)
    • 6.1.4. Một số điểm hạn chế của chỉ tiêu ROI (116)
    • 6.2. THU NHẬP THẶNG DƯ (117)
    • 6.3. ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP (119)
      • 6.3.1. Định giá dự toán thông thường (121)
        • 6.3.1.1. Định giá theo phương pháp xác định chi phí toàn bộ (122)
        • 6.3.1.2. Định giá theo phương pháp trực tiếp (123)
        • 6.3.1.3. Xác định tỷ lệ phần tiền cộng thêm (123)
      • 6.3.2. Xác định giá chuyển nhượng (125)
        • 6.3.2.1. Giá chuyển nhượng theo chi phí sử dụng (126)
        • 6.3.2.2. Xác định giá chuyển nhượng theo giá thị trường (128)
        • 6.3.2.3. Xác định giá chuyển nhượng thông qua thương lượng (129)
      • 6.3.3. Định giá theo nguyên liệu sử dụng và thời gian lao động (131)
      • 6.3.4. Định giá sản phẩm mới (133)
      • 6.3.5. Định giá đặc biệt (135)
  • Chương VII: KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH (138)
    • 7.1. NHẬN DIỆN THÔNG TIN THÍCH HỢP VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN (139)
      • 7.1.1. Khái niệm quyết định ngắn hạn (139)
      • 7.1.2. Tiêu chuẩn chọn quyết định ngắn hạn (140)
      • 7.1.3. Phân tích thông tin thích hợp (141)
      • 7.1.4. Chi phí chìm không phải là thông tin thích hợp ...................................... 142 7.1.5. Các khoản thu chi không chênh lệch không phải là thông tin thích hợp . 142 (142)
      • 7.2.1. Quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục kinh doanh một bộ phận (146)
      • 7.2.2. Quyết định nên làm (Tự sản xuất) hay nên mua ngoài (149)
      • 7.2.3. Quyết định nên bán ngay bán thành phẩm hay tiếp tục sản xuất thành thành phẩm rồi mới bán (153)
      • 7.2.4. Quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất có giới hạn (156)
  • Chương VIII: KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN SẢN XUẤT (162)
    • 8.1. KHÁI QUÁT VỀ DỰ TOÁN (162)
      • 8.1.1. Khái niệm dự toán (162)
      • 8.1.2. Kỳ dự toán (162)
      • 8.1.3. Tác dụng của dự toán (163)
      • 8.1.4. Trình tự dự toán (164)
      • 8.1.5. Hệ thống dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm (165)
    • 8.2. XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CHI PHÍ TIÊU CHUẨN (166)
      • 8.2.1. Phân biệt định mức và dự toán (167)
      • 8.2.2. Nguyên tắc xây dựng định mức tiêu chuẩn (167)
      • 8.2.3. Các hình thức định mức (167)
      • 8.2.4. Xây dựng các định mức chi phí sản xuất (168)
        • 8.2.4.1. Định mức chi phí nguyên liệu trực tiếp (168)
        • 8.2.4.2. Định mức chi phí lao động trực tiếp (169)
        • 8.2.4.3. Định mức chi phí sản xuất chung (171)
        • 8.2.4.4. Tổng hợp các định mức chi phí sản xuất (172)
    • 8.3. LẬP DỰ TOÁN SẢN XUẤT KINH DOANH (173)
      • 8.3.1. Dự toán tiêu thụ (173)
      • 8.3.2. Dự toán sản xuất (175)
      • 8.3.3. Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp (176)
      • 8.3.4. Dự toán chi phí lao động trực tiếp (179)
      • 8.3.5. Dự toán chi phí sản xuất chung (180)
      • 8.3.6. Dự toán chi phí lưu thông và quản lý (181)
      • 8.3.7. Dự toán tiền mặt (182)
      • 8.3.8. Dự toán báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (184)
      • 8.3.9. Dự toán bảng cân đối kế toán (185)

Nội dung

Trường ĐH Kinh tế & QTKD Khoa Kế toán Bài giảng Kế toán quản trị 1 ƯVGV Nguyễn Thị Hường Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 8 1 1 SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 8 1 2 KHÁ[.]

TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP

Kinh tế phát triển kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt giữa doanh nghiệp, tập đoàn và quốc gia Thành công hay thất bại của các doanh nghiệp phụ thuộc vào thông tin mà các nhà quản trị nhận được Các nhà quản lý cần hiểu rõ về bản thân doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động để đưa ra quyết định tối ưu cho phương án sản xuất kinh doanh.

Trong bối cảnh thông tin ngày càng phong phú và đa dạng, việc chỉ dựa vào báo cáo tài chính hàng tháng, quý, năm để ra quyết định là không khả thi Các báo cáo này chủ yếu phục vụ cho các bên ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư và ngân hàng Tuy nhiên, các nhà quản trị nội bộ cũng cần thông tin kịp thời để đưa ra quyết định hàng ngày Ban giám đốc cần thông tin để đánh giá hoạt động và thiết lập mục tiêu, trong khi trưởng các bộ phận chức năng cần dữ liệu để thực hiện và kiểm tra kế hoạch Các nhà quản lý cấp thấp, như đại diện bán hàng và quản đốc phân xưởng, cũng cần thông tin chi tiết để hỗ trợ quyết định hàng ngày của công ty.

Kế toán quản trị đã ra đời và phát triển để đáp ứng các yêu cầu thông tin ngày càng cao trong quản lý Việc sử dụng kế toán quản trị để hỗ trợ quyết định của nhà quản lý đang trở thành một phần thiết yếu trong hệ thống công cụ quản lý của doanh nghiệp Vai trò của kế toán quản trị trong việc chỉ đạo và lãnh đạo quá trình sản xuất kinh doanh là vô cùng quan trọng.

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường doanh của doanh nghiệp Điều này được giải thích bởi các lý do như sau:

Mục tiêu chính của bất kỳ nhà kinh doanh nào, bất kể quốc gia, là đạt được lợi nhuận Để xác định lợi nhuận, doanh nghiệp cần dựa vào doanh thu và chi phí Việc xác định doanh thu và chi phí hợp lý cho quyết định sản xuất, kinh doanh phụ thuộc vào đánh giá của nhà quản trị, dựa trên thông tin do kế toán quản trị cung cấp.

Doanh nghiệp cần theo dõi hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, bất kể là kinh doanh một hay nhiều loại sản phẩm Từ đó, doanh nghiệp có thể đưa ra các chính sách phù hợp để mở rộng hoặc thu hẹp quy mô kinh doanh, cũng như điều chỉnh chính sách lương và thưởng cho nhân viên trong từng bộ phận.

Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin chi tiết theo yêu cầu của nhà quản lý mà còn giúp phát hiện những tiềm năng chưa được khai thác của doanh nghiệp, như khả năng tiết kiệm chi phí và đánh giá hiệu quả hoạt động.

Kế toán quản trị cung cấp thông tin chi tiết và đáng tin cậy, giúp nhà quản lý đưa ra quyết định về phương án kinh doanh tối ưu.

Kế toán quản trị đã trở thành công cụ quan trọng cho các nhà quản trị doanh nghiệp, giúp điều hành hiệu quả quá trình quản lý sản xuất kinh doanh Điều này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất mà còn phù hợp với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh cơ chế quản lý kinh tế mới.

KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị

Kế toán quản trị chi phí đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ những hình thức sơ khai trong quá khứ đến các phương pháp kỹ thuật hiện đại và phức tạp ngày nay, song song với sự phát triển của kế toán nói chung.

Kế toán ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người

Có bằng chứng cho thấy kế toán đã xuất hiện từ thời Cổ đại, trước thế kỷ VI, với vai trò ghi nhận kết quả lao động và theo dõi tài sản của vua chúa Trong thời Trung cổ, từ thế kỷ VI đến thế kỷ XV, kế toán quản trị chi phí đã phát triển trong các phường hội, nơi các nhà sản xuất ghi chép chi phí vật liệu và nhân công như bằng chứng về chất lượng sản phẩm.

Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV - XVI) đánh dấu sự phát triển của hệ thống kế toán, đặc biệt với cuốn sách của Fra Lucas Pacioli năm 1494, giới thiệu phương pháp “ghi sổ kép” vẫn được áp dụng trong kế toán hiện đại Trong giai đoạn này, các nguyên lý cơ bản của kế toán quản trị chi phí đã bắt đầu hình thành, bao gồm định mức nguyên vật liệu, năng suất công nhân, phiếu theo dõi chi phí và dự toán Kế toán quản trị chi phí thời kỳ này chủ yếu hỗ trợ quyết định đầu tư tài sản cố định, quản lý chi phí và định giá sản phẩm.

Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII đã làm thay đổi diện mạo kinh tế thế giới, với sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý trong các tổ chức kinh tế Quá trình sản xuất chuyển từ hình thức thủ công, hộ gia đình sang sản xuất tại các nhà máy điện khí hóa và cơ khí hóa, dẫn đến việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm Môi trường sản xuất mới này đã tạo điều kiện cho việc phân loại chi phí sản xuất một cách hợp lý Kế toán quản trị chi phí cũng đã có những bước phát triển mới và bắt đầu được chuẩn hóa, đặc biệt với sự ra đời của cuốn sách "Cost of Manufacturers" của Henry Metcalf.

Vào đầu và cuối thế kỷ XIX, kế toán quản trị chi phí hiện đại đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong các cơ sở sản xuất Chủ các xưởng dệt ở Mỹ đã ghi chép chi tiết chi phí cho từng công đoạn như kéo sợi, dệt và nhuộm vải Các nhà quản lý hãng xe lửa cũng áp dụng hệ thống kế toán chi phí phức tạp để tính toán chi phí cho các mức hàng chuyên chở khác nhau Tương tự, các xưởng thép đã duy trì bản ghi chi tiết về chi phí nguyên liệu và nhân công.

Bài giảng Kế toán quản trị của Nguyễn Thị Hường cung cấp thông tin quan trọng giúp nâng cao hiệu quả và định giá sản phẩm cho các nhà quản lý Các phương pháp kế toán chi phí và kế toán nội bộ chủ yếu được phát triển trong giai đoạn từ 1880 đến 1925, phản ánh sự tiến bộ trong lĩnh vực này trong thế kỷ XX.

Sau những năm cuối thập niên 1920, kế toán quản trị chi phí không có sự phát triển mới, có thể do yêu cầu cao về thông tin chi phí trong báo cáo tài chính Sau chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng, dẫn đến việc các công ty không cảm thấy áp lực về thông tin lợi nhuận sản phẩm Những năm 1950-1960, có nỗ lực nâng cao tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí, nhưng chủ yếu tập trung vào thông tin nội bộ Đến thập niên 1960-1970, sự phát triển của các nền kinh tế Âu-Á, đặc biệt là Nhật Bản, đã tạo ra nhu cầu cho một hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện đại hơn Cuối thế kỷ XX, nhiều đổi mới trong hệ thống kế toán quản trị chi phí đã diễn ra, đáp ứng nhu cầu thông tin thay đổi do các phương thức sản xuất mới Hệ thống này không chỉ cần thiết cho sản xuất mà còn cho các đơn vị dịch vụ Các phương pháp mới như Target costing và Kaizen Costing đã được áp dụng trên toàn thế giới Tại Việt Nam, trước năm 1990, do nền kinh tế hoạch hóa tập trung, khái niệm kế toán quản trị chi phí chưa tồn tại Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, với sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường, khái niệm này đã xuất hiện và đang được áp dụng và xây dựng tại Việt Nam.

- Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHXN Việt Nam khoá

XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về kế toán quản trị ở các đơn vị

Vào ngày 16/01/2006, Bộ Tài chính đã tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện kế toán quản trị tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Đây được coi là bước đầu tiên thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với việc thực hiện kế toán quản trị tại Việt Nam.

Vào ngày 12/6/2006, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 53/2006/TT-BTC, nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp áp dụng kế toán quản trị một cách chính thức.

Mặc dù việc ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam đang được thảo luận nhiều, nhưng thực tế cho thấy việc áp dụng còn hạn chế Hệ thống kế toán hiện tại tại Việt Nam vẫn là sự kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, điều này thể hiện qua một số điểm cụ thể.

Các phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và quản lý chi phí, là nội dung cốt lõi của kế toán quản trị.

- Các phương pháp phân bổ chi phí và tính giá trị hàng tồn kho cũng là những biểu hiện của kế toán quản trị

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Kế toán chi tiết là một thành phần quan trọng trong kế toán quản trị, giúp tạo ra các báo cáo đặc thù phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp.

- Chế độ hướng dẫn trong hệ thống chế độ kế toán Việt Nam là thể hiện thông tin định hướng cho kế toán quản trị

Các bảng báo cáo kế toán và bảng giải trình kết quả hoạt động kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong kế toán quản trị, vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình này.

Kế toán quản trị, với những ưu điểm nổi bật, hy vọng sẽ ngày càng phát triển và được áp dụng rộng rãi hơn trong quá trình ra quyết định của các nhà quản trị.

1.2.2 Khái niệm về kế toán quản trị

Việc nghiên cứu kế toán quản trị được xem xét từ nhiều quan điểm, góc độ khác nhau:

Theo giáo sư Robert S Kaplan từ trường đại học Harvard Business School, kế toán quản trị là một phần quan trọng trong hệ thống thông tin quản trị của các tổ chức Nhà quản trị sử dụng kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức.

PHÂN BIỆT KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

Kế toán tài chính là quá trình xây dựng, báo cáo, và diễn giải các thông tin kế toán cho những người ra quyết định bên ngoài tổ chức

Kế toán quản trị là quá trình xây dựng, báo cáo và diễn giải các thông tin kế toán cho những người ra quyết định bên trong tổ chức

Các sự kiện kinh tế đều liên quan đến thu nhập, chi phí, tài sản, công nợ và quy trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp.

Hệ thống chứng từ kế toán, bao gồm chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn, là nền tảng cho việc lập báo cáo tài chính định kỳ Đối với kế toán tài chính, hệ thống này cung cấp thông tin cho bên ngoài, trong khi đối với kế toán quản trị, nó hỗ trợ việc xử lý và tạo ra thông tin phù hợp cho các nhà quản trị.

Nhà quản lý có trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác cho người sử dụng Trong kế toán tài chính, thông tin được cung cấp qua các báo cáo tài chính thể hiện trách nhiệm của người quản lý cấp cao Ngược lại, trong kế toán quản trị, thông tin về tình hình doanh nghiệp và hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp phản ánh trách nhiệm của các cấp quản lý nội bộ.

Kế toán quản trị và kế toán tài chính khác nhau chủ yếu ở đối tượng sử dụng thông tin Sự khác biệt này là nguyên nhân chính dẫn đến sự phân biệt giữa hai loại hình kế toán này.

Thông tin kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho các nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp như Hội đồng quản trị, ban giám đốc và các trưởng phòng ban, những người trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thông tin kế toán tài chính phục vụ cho nhiều đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp, chủ yếu là các bên ngoài như nhà đầu tư, cổ đông, cơ quan thuế, ngân hàng và cơ quan kiểm toán Mỗi đối tượng sẽ thu thập và phân tích thông tin theo mục đích cụ thể để tối ưu hóa lợi ích cho bản thân Đặc điểm và yêu cầu cung cấp thông tin kế toán tài chính cần được chú trọng để đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan.

- Đặc điểm thông tin cung cấp:

Thông tin kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà quản trị đưa ra quyết định và lựa chọn phương án phù hợp để dự đoán tương lai cho doanh nghiệp.

• Thông tin kế toán tài chính là để phản ánh quá trình kinh doanh đã xảy ra

Thông tin kế toán quản trị sử dụng nhiều thước đo như thời gian, giá trị, cơ cấu, chủng loại và chất lượng Tuy nhiên, thước đo nào là cơ bản sẽ phụ thuộc vào từng ngữ cảnh cụ thể.

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường vào mục tiêu nghiên cứu và các quyết định cụ thể

• Thông tin kế toán tài chính sử dụng các thước đo hiện vật, giá trị, thời gian Trong đó thước đo giá trị là chủ yếu

- Yêu cầu về thông tin:

• Thông tin kế toán quản trị thường mang tính chất linh hoạt, sáng tạo

• Thông tin kế toán tài chính phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán theo quy định hiện hành

- Tính công khai của thông tin:

• Thông tin của kế toán tài chính mang tính công khai

Thông tin kế toán quản trị mang tính chất nội bộ và bí mật của doanh nghiệp, với mức độ bí mật phụ thuộc vào tính chất thông tin và vai trò của từng cấp quản trị Đối tượng báo cáo của kế toán quản trị bao gồm từng bộ phận, phân xưởng, công trình và sản phẩm, với các báo cáo linh hoạt về số lượng, hình thức và thời gian lập theo yêu cầu quản lý Ngược lại, kế toán tài chính tập trung vào thông tin toàn doanh nghiệp, cung cấp dữ liệu chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài, với báo cáo thường được lập định kỳ theo tháng, quý, năm và có hình thức thống nhất.

Kế toán quản trị liên kết chặt chẽ với nhiều lĩnh vực khác do yêu cầu sử dụng thông tin thường xuyên và tính kịp thời cao Để đáp ứng nhu cầu này, ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, cần kết hợp với các ngành như thống kê, kinh tế học và quản lý nhằm tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng hiệu quả.

Kế toán tài chính thì ít có quan hệ với các ngành khác do chỉ sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán e Tính pháp lệnh

Kế toán quản trị tập trung vào việc nâng cao trách nhiệm quản lý mà không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý Hoạt động kinh doanh và phương thức tổ chức của từng bộ phận trong doanh nghiệp rất đa dạng, do đó, sổ sách và báo cáo kế toán được thiết kế linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thông tin của nhà quản trị để hỗ trợ quyết định kinh doanh hiệu quả.

Kế toán tài chính có tính pháp lệnh cao, yêu cầu sổ sách và báo cáo kế toán phải được lập theo chế độ thống nhất và tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán Sự tương đồng và khác biệt giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính được tóm tắt trong bảng dưới đây.

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Tiêu thức so sánh Kế toán quản trị Kế toán tài chính

1 Cùng đối tượng nghiên cứu là các sự kiện kinh tế tài chính

2 Dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán

3 Biểu hiện trách nhiệm của nhà quản lý

1 Đối tượng sử dụng thông tin

Nhà quản trị bên trong doanh nghiệp

Nhà quản trị bên ngoài doanh nghiệp

- Đặc điểm thông tin Hướng về tương lai

Mang tính chất linh hoạt, sáng tạo Ưu tiên tính kịp thời hơn là chính xác và đầy đủ

Cần tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán theo quy định hiện hành, vì vậy tính chính xác được ưu tiên hơn so với tính đầy đủ và kịp thời.

- Thước đo sử dụng Nhiều thước đo, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Thước đo giá trị là chủ yếu

- Phạm vi báo cáo Từng bộ phận, phân xưởng Toàn doanh nghiệp

Phụ thuộc vào nhu cầu của nhà quản trị các cấp và đặc điểm đơn vị

Tuân thủ biểu mẫu báo cáo chung Thống nhất về hình thức và nội dung

- Kỳ báo cáo Thường xuyên, khi có nhu cầu Định kỳ

4 Quan hệ với các ngành khác Quan hệ nhiều Quan hệ ít

5 Tính pháp lệch Không có Có, tính pháp lệnh cao

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI CHỨC NĂNG QUẢN LÝ

Trong bối cảnh nền kinh tế biến đổi phức tạp, quyết định chính xác và kịp thời của nhà quản trị là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Để đạt được điều này, nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị là rất lớn Kế toán quản trị, mặc dù không phải là nguồn duy nhất, nhưng là nguồn chủ yếu cung cấp thông tin cần thiết Nó hỗ trợ mọi khâu trong công tác quản lý, bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và ra quyết định.

Sơ đồ 1.1 – Các chức năng của quản lý và mối quan hệ giữa các chức năng đó

Yêu cầu về thông tin kế toán quản trị được cung cấp cho các chức năng quản lý được cụ thể như sau:

1.4.1 Lập kế hoạch và dự toán

Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu cần thực hiện, vạch ra các bước – các công việc cần làm để thực hiện mục tiêu đó

Dự toán là bản kế hoạch do nhà quản trị lập, bao gồm các loại như dự toán tiêu thụ, sản xuất và tiền Để xây dựng dự toán, nhà quản trị cần liên kết các mục tiêu, xác định cách huy động và sử dụng nguồn lực sẵn có nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Ví dụ, cần xác định nguồn vốn từ tổ chức nào và sử dụng vào mục đích gì Việc đánh giá tổ chức thực hiện cũng rất quan trọng trong quá trình này.

Ra quyết định Lập kế hoạch

Để nhà quản trị thực hiện hiệu quả chức năng lập kế hoạch và dự toán, các kế hoạch và dự toán cần phải dựa trên thông tin hợp lý và có cơ sở Thông tin này chủ yếu được cung cấp bởi kế toán quản trị, đảm bảo tính hiệu lực và khả thi cao cho các quyết định quản lý.

Khi lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, kế toán viên quản trị cần cung cấp thông tin quan trọng cho nhà quản lý để hỗ trợ trong việc đưa ra quyết định tối ưu, bao gồm việc xác định sản phẩm nào sẽ được bán, mức giá bán, thị trường mục tiêu và các kênh phân phối.

Tổ chức thực hiện là quá trình phối hợp hiệu quả các nguồn lực để đảm bảo kế hoạch được thực hiện thành công Để đạt được điều này, nhà quản trị cần sử dụng thông tin và báo cáo kịp thời từ cơ sở, từ đó thực hiện các điều chỉnh cần thiết nhằm tối ưu hóa hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, nhà quản lý dựa vào kế hoạch đã đề ra và thông tin thực tế để phân công công việc cho từng bộ phận như bán hàng, chuyên chở và chăm sóc khách hàng Việc điều hành và phối hợp hoạt động giữa các bộ phận được thực hiện dựa trên thông tin do kế toán quản trị cung cấp.

1.4.3 Kiểm tra và đánh giá

Kiểm tra và đánh giá là công việc thiết yếu trong quản lý, cần được thực hiện thường xuyên Phương pháp phổ biến là so sánh số liệu kế hoạch và dự toán với số liệu thực hiện để phát hiện sai lệch, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá tình hình Các số liệu thực hiện thường được cung cấp bởi kế toán quản trị.

Nhà quản trị thường xuyên kiểm tra tình hình tiêu thụ sản phẩm X và phát hiện doanh thu giảm đáng kể do đối thủ cạnh tranh ra mắt sản phẩm mới tương tự Nhờ đó, họ đã thực hiện các biện pháp tích cực để tăng doanh số bán hàng, giúp công ty đạt kế hoạch đề ra Quyết định chính xác này được hỗ trợ bởi thông tin kịp thời từ kế toán viên quản trị.

Quyết định là chức năng thiết yếu trong quản trị doanh nghiệp, ảnh hưởng đến mọi giai đoạn từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra và đánh giá Chức năng này được áp dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Kế toán quản trị hỗ trợ các nhà quản trị trong việc ra quyết định bằng cách cung cấp thông tin phù hợp và áp dụng các kỹ thuật phân tích cho các tình huống khác nhau, giúp họ lựa chọn và đưa ra quyết định tối ưu nhất.

Các nhà quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp, đồng thời kiểm soát việc thực hiện các quyết định này Do đó, kế toán cần cung cấp thông tin phù hợp cho từng giai đoạn trong quy trình quản trị.

Kế toán quản trị cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu và mở tài khoản, sổ sách để ghi chép có hệ thống các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Phản ánh các thông tin kế toán thực hiện vào tài khoản, vào các sổ sách đã thiết kế theo nhu cầu các cấp quản trị

Kế toán quản trị sử dụng thông tin đã thu thập để tính toán các chỉ tiêu cần thiết cho quản trị nội bộ, từ đó tổng hợp thành các báo cáo phục vụ cho các cấp quản trị khác nhau.

Kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra thông tin trên các báo cáo, phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động Điều này giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định chính xác và phù hợp.

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Mối quan hệ giữa thông tin kế toán quản trị với chức năng quản trị doanh nghiệp

Các chức năng quản trị Thông tin kế toán quản trị

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIỆP VỤ SỬ DỤNG TRONG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.5.1 Nội dung của kế toán quản trị

Xác định nội dung của kế toán quản trị là một vấn đề phức tạp với nhiều ý kiến khác nhau Để hiểu rõ về kế toán quản trị, cần xem xét các yêu cầu cụ thể của nó và mối tương quan với kế toán tài chính, nhằm tránh sự trùng lặp và tối ưu hóa hiệu quả của kế toán quản trị.

Theo thông tư số 53/2006/TT – BTC ngày 12 tháng 06 năm 2006 của Bộ Tài chính, kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu và phổ biến.

- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm;

- Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh;

Xác định mục tiêu Chính thức hóa thành các chỉ tiêu kinh tế

Lập kế hoạch Triển khai các bản dự toán chung & dự toán chi tiết

Tổ chức thực hiện Thu thập kết quả thực hiện

Kiểm tra, đánh giá Soạn thảo các báo cáo thực hiện

- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;

- Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định;

- Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;

- Kế toán quản trị một số khoản mục khác:

+ Kế toán quản trị tài sản cố định (TSCĐ);

+ Kế toán quản trị hàng tồn kho;

+ Kế toán quản trị lao động và tiền lương;

+ Kế toán quản trị các khoản nợ

Doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều nội dung kế toán quản trị khác ngoài những nội dung chính đã nêu, tùy thuộc vào yêu cầu quản lý cụ thể của mình.

Còn nếu xuất phát từ yêu cầu, mục đích của kế toán quản trị có thể thấy các nội dung của kế toán quản trị như sau:

Kế toán quản trị cung cấp thông tin chi tiết và linh hoạt theo yêu cầu của từng đơn vị quản lý Thông tin này có thể liên quan đến hoạt động của từng bộ phận hoặc nhiều bộ phận, với thời gian báo cáo linh hoạt từ một tuần đến một quý Điều này giúp dễ dàng so sánh với các kỳ khác và đánh giá hiệu quả, đồng thời cho phép nhà quản trị thực hiện các chỉ đạo và điều chỉnh kịp thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Phân tích chi phí chi tiết theo từng hoạt động kinh doanh là rất quan trọng, bao gồm việc áp dụng các phương pháp và nghiệp vụ cụ thể Hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm giúp kiểm soát chi phí hiệu quả, từ đó tìm ra các biện pháp quản lý chi phí tối ưu.

- Kế toán thu nhập kết quả theo từng hoạt động, từng địa điểm gắn liền với trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp

- Cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán và chi tiêu theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

 Để xác định đúng đắn nội dung của kế toán quản trị các doanh nghiệp cần thực hiện các công việc sau đây:

- Xác định các chỉ tiêu cơ bản trong quản trị, căn cứ vào: Đặc điểm tổ chức quản lý; Trình độ quản lý; Yêu cầu quản lý cụ thể

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Đối với các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ, khi số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh ít, mô hình kế toán quản trị và kế toán tài chính thường được tổ chức theo hình thức kết hợp Các chuyên gia kế toán sẽ đảm nhiệm đồng thời hai nhiệm vụ: thu nhận và xử lý thông tin kế toán tài chính cũng như kế toán quản trị Áp lực này dẫn đến việc số lượng các chỉ tiêu cơ bản của kế toán quản trị giảm, thường chỉ còn lại chỉ tiêu giá thành sản phẩm trong phân hành kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.

Đối với các doanh nghiệp lớn hoạt động đa ngành, việc tổ chức mô hình kế toán tách biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị là cần thiết Các chuyên gia kế toán quản trị và kế toán tài chính hoạt động độc lập, cho phép chuyên gia kế toán quản trị nghiên cứu và theo dõi nhiều chỉ tiêu hơn Ví dụ, trong kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, các chỉ tiêu nghiên cứu có thể bao gồm giá thành của từng loại sản phẩm và giá thành của từng khâu trong quy trình sản xuất.

Các chuyên gia kế toán quản trị có khả năng điều chỉnh các chỉ tiêu một cách linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của nhà quản trị.

Xác định các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán là cần thiết để phối hợp và điều hòa giữa hai hệ thống kế toán, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ.

Xác định các thước đo và hệ thống sổ sách kế toán quản trị là cần thiết để đáp ứng yêu cầu báo cáo nhanh và định kỳ theo từng chỉ tiêu cụ thể.

1.5.2 Phương pháp nghiệp vụ sử dụng trong kế toán quản trị

Kế toán quản trị thu thập thông tin qua nhiều thước đo như hiện vật, giá trị và thời gian Để xử lý thông tin này phục vụ cho quyết định kinh doanh, ngoài các phương pháp truyền thống, kế toán quản trị cần áp dụng các phương pháp đặc trưng nhằm đảm bảo các quyết định kinh doanh đạt hiệu quả tối ưu.

❖ Các phương pháp truyền thống

Phương pháp chứng từ là công cụ quan trọng để ghi nhận thông tin kế toán quản trị ngay từ đầu các nghiệp vụ kinh tế, tài chính Mặc dù chứng từ kế toán tài chính và kế toán quản trị có nhiều điểm tương đồng, nhưng chúng cũng có sự khác biệt rõ rệt Chứng từ kế toán quản trị yêu cầu tính xác thực cao hơn về các nghiệp vụ, trong khi chứng từ kế toán tài chính lại chú trọng đến tính pháp lý của các nghiệp vụ phát sinh.

- Phương pháp tài khoản kế toán: Tài khoản kế toán quản trị được mở xuất phát từ nhu cầu quản trị nội bộ của đơn vị

Ví dụ: Tài khoản doanh thu, có thể mở theo nhiều tiêu thức khác nhau như sản phẩm, địa điểm, thời gian, nhóm mặt hàng, thị trường…

Kế toán quản trị áp dụng nhiều phương pháp tính giá khác nhau để phản ánh chính xác chi phí, từ đó hỗ trợ quyết định cho các phương án tương lai Trong khi đó, kế toán tài chính tập trung vào việc xác định giá trị thực tế của hàng tồn kho và chi phí nhằm phục vụ cho việc quyết toán thuế TNDN, cũng như đáp ứng nhu cầu thông tin của các bên ngoài liên quan đến hoạt động kinh doanh đã diễn ra.

Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán trong kế toán quản trị cung cấp hệ thống báo cáo đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị và nhu cầu quản trị ở từng cấp.

❖ Các phương pháp đặc trưng của kế toán quản trị: 4 phương pháp chính

Phương pháp thiết kế thông tin thành dạng so sánh là cần thiết để tạo ra thông tin có ý nghĩa Kế toán quản trị sẽ phân tích và chuyển đổi thông tin thành các tiêu chuẩn so sánh Nhà quản trị dựa vào những so sánh này để thực hiện đánh giá và đưa ra quyết định.

PHÂN LOẠI CHI PHÍ

KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA CHI PHÍ DOANH NGHIỆP

Quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có thể khái quát bằng các giai đoạn cơ bản có quan hệ mật thiết sau đây:

- Quá trình mua sắm, chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh (lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động)

Quá trình vận động và biến đổi của các yếu tố đầu vào trong hoạt động kinh doanh diễn ra một cách có mục đích, nhằm đạt được kết quả cuối cùng.

Quá trình bán hàng là giai đoạn quan trọng trong hoạt động kinh doanh, nơi giá trị và giá trị sử dụng của các sản phẩm cuối cùng được thực hiện Điều này bao gồm các sản phẩm, công việc và lao động đã hoàn thành, tạo nên giá trị cho khách hàng và thúc đẩy doanh thu cho doanh nghiệp.

Hoạt động của doanh nghiệp là quá trình kết hợp và chuyển đổi các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm và giá trị Để thực hiện sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động của con người.

Bài giảng Kế toán quản trị của Nguyễn Thị Hường nhấn mạnh sự tham gia của các yếu tố trong quá trình sản xuất, dẫn đến hình thành các hao phí tương ứng Hao phí khấu hao tư liệu lao động và đối tượng lao động tạo ra hao phí lao động vật hóa, trong khi hao phí tiền lương cho người lao động hình thành hao phí lao động sống Trong nền sản xuất hàng hóa, tất cả các hao phí này được thể hiện bằng tiền, được gọi là chi phí sản xuất kinh doanh.

Chi phí của doanh nghiệp bao gồm tất cả các hao phí liên quan đến lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi trong quá trình hoạt động kinh doanh, được thể hiện bằng tiền và tính cho một khoảng thời gian nhất định.

Theo các nhà quản trị, chi phí kinh doanh được hiểu là sự hao hụt của nguyên vật liệu, tiền công, dịch vụ mua ngoài và các khoản chi phí khác, nhằm tạo ra kết quả cho tổ chức và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Dưới góc độ kế toán tài chính, chi phí được xem là các khoản phí tổn phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ hạch toán Trong kế toán tài chính, có những khoản chi phí trong kỳ không được tính vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh, trong khi một số khoản chi phí, dù chưa phát sinh, lại được tính vào chi phí trong kỳ.

Chi phí trong kế toán quản trị được xem là các khoản phí thực tế liên quan đến sản phẩm, dịch vụ và phương án kinh doanh Quan điểm này nhấn mạnh tính cụ thể của chi phí, giúp đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận, từ đó làm cơ sở cho các quyết định đầu tư tối ưu.

 Điểm chung: sự tiêu hao các yếu tố sản xuất và nguồn lực tài chính trong kỳ hoạt động

2.1.2 Bản chất của chi phí

- Nội dung của chi phí có thể biểu hiện bằng công thức:

C: hao phí về lao động vật hóa

V: hao phí về lao động sống

M1 là một phần giá trị mới được tạo ra, bao gồm các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ), cùng với các loại thuế có tính chất chi phí như thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất và chi phí lãi vay.

Các chi phí của doanh nghiệp cần được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định, bao gồm năm (kỳ kế toán cơ bản) và quý, tháng (kỳ kế toán tạm thời).

Chi phí doanh nghiệp mang tính chất cá biệt, bao gồm tất cả các khoản chi cần thiết và không cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh Điều này không chỉ bao gồm chi phí hoạt động mà còn cả các khoản thiệt hại về tài sản, tiền nộp phạt và các khoản bồi thường.

- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu:

❖ Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời kỳ nhất định

❖ Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền lương/ tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí.

PHÂN LOẠI CHI PHÍ

Chi phí được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu thức như chức năng hoạt động và cách ứng xử, nhằm đáp ứng các mục đích sử dụng và yêu cầu quản lý chi phí của nhà quản trị.

Bài giảng Kế toán quản trị 31 ƯVGV: Nguyễn Thị Hường của chi phí; theo khả năng quy nạp; theo tính liên quan, theo khả năng kiểm soát…

2.2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Tác dụng của phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:

Xác định vai trò và chức năng của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Điều này giúp các nhà quản trị xây dựng hệ thống dự toán chi phí theo từng khoản mục và yếu tố, từ đó phân tích và đánh giá sự biến động của chi phí Thông tin này đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp.

Căn cứ này giúp tập hợp chi phí và xác định giá thành sản phẩm, từ đó làm cơ sở để xác định lợi nhuận gộp và lợi nhuận tiêu thụ cho từng bộ phận cũng như toàn bộ doanh nghiệp.

Cung cấp thông tin có hệ thống là yếu tố quan trọng trong việc lập báo cáo tài chính, đồng thời cũng là nguồn thông tin thiết yếu cho việc quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp của các tổ chức hoạt động.

Sơ đồ phân loại chi phí theo chức năng hoạt động (Trang sau)

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí sản xuất chung

Chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí sản xuất (Chi phí sản phẩm)

Sơ đồ 2.1 - Tóm tắt cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Chi phí sản xuất là tổng hợp tất cả các chi phí liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định Chi phí này bao gồm ba yếu tố cơ bản.

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất bao gồm tất cả các chi phí cần thiết để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Những chi phí không liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất hoặc dịch vụ sẽ không được tính vào chi phí sản xuất, chẳng hạn như tiền hoa hồng bán hàng và chi phí văn phòng phẩm.

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường a Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Nguyên vật liệu trực tiếp là yếu tố thiết yếu trong việc tạo ra sản phẩm, tham gia liên tục và trực tiếp vào quá trình sản xuất, ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm cuối cùng.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm tất cả các chi phí liên quan đến nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, và các công cụ, dụng cụ được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, cũng như cung cấp lao vụ và dịch vụ.

- Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường tỷ lệ với số lượng sản phẩm sản xuất do nó cấu thành nên thực thể của sản phẩm

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỉ trọng cao trong giá thành sản phẩm, và tỉ trọng này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng đơn vị Trong các ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường cao hơn so với ngành may mặc Ngược lại, các ngành như bưu chính viễn thông, kinh doanh khách sạn và dịch vụ thường có tỉ trọng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nhỏ hơn.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được xác định cho mỗi đơn vị sản phẩm, tạo nền tảng cho việc lập dự toán và kiểm soát chi phí hiệu quả.

- Hạch toán: Thông thường chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí b Chi phí nhân công trực tiếp

Nhân công trực tiếp là những người tham gia sản xuất sản phẩm, với lao động của họ gắn liền với quá trình tạo ra sản phẩm Sức lao động của họ được hao phí trực tiếp cho sản phẩm, do đó, khả năng và kỹ năng của nhân công trực tiếp có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng sản phẩm.

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản chi trả cho nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm và thực hiện các dịch vụ, như tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công, cùng với các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

Chi phí nhân công trực tiếp có thể được xác định cho mỗi đơn vị sản phẩm, tạo nền tảng cho việc lập dự toán và kiểm soát chi phí hiệu quả.

Tỉ trọng chi phí trong tổng chi phí phụ thuộc vào đặc điểm và ngành nghề kinh doanh của từng đơn vị Đối với doanh nghiệp sản xuất thủ công, nơi sử dụng nhiều lao động, chi phí nhân công thường chiếm tỉ trọng đáng kể, trong khi ở các ngành khác, tỉ trọng này có thể thấp hơn.

- Hạch toán: chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí c Chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí liên quan đến sản xuất, không bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Các chi phí này bao gồm nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình sản xuất.

MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG - LỢI NHUẬN (CVP)

MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG - LỢI NHUẬN (CVP)

Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận (phân tích CVP) nghiên cứu hành vi của tổng doanh thu, tổng chi phí và lợi nhuận khi có sự thay đổi về mức hoạt động, giá bán, biến phí và định phí Để thực hiện phân tích này, chúng ta sẽ xem xét tình hình của doanh nghiệp Xuân Mai.

Doanh nghiệp Xuân Mai chuyên sản xuất kinh doanh xe đạp học sinh Số liệu về tình hình kinh doanh trong tháng 6/2011 như sau:

Sản lượng tiêu thu: 500 chiếc

Chi phí biến đổi: 550.000 đồng/ xe

Chi phí cố định: 100.000.000 đồng/ tháng

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Đơn vị tính: Đồng

Tổng Tính cho đơn vị sp

Tổng số dư đảm phí 125.000.000 250.000 31,25

Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD 25.000.000

4.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ

CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN (CVP)

4.1.1 Số dư đảm phí (Contribution margin – Phần đóng góp)

4.1.1.1 Tổng số dư đảm phí – Phần đóng góp

Tổng số dư đảm phí là số tiền còn lại từ doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi các biến phí, thể hiện bằng số tuyệt đối.

Số dư đảm phí = Doanh thu - Biến phí tương ứng với doanh thu

Tổng số dư đảm phí được dùng để trang trải định phí, phần dư còn lại là lãi thuần trong kỳ Nếu số dư không đủ chi phí cố định, công ty sẽ bị lỗ; nếu trang trải vừa đủ, công ty hòa vốn Ngược lại, nếu số dư lớn hơn tổng chi phí cố định, công ty sẽ có lãi.

Lãi thuần = Tổng số dư đảm phí - Định phí

Số dư đảm phí đơn vị, hay còn gọi là phần đóng góp, được xác định bằng cách lấy giá bán của sản phẩm trừ đi biến phí đơn vị của nó.

Số dư đảm phí đơn vị = Giá bán - Biến phí đơn vị

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Số dư đảm phí đơn vị = Tổng số dư đảm phí

Tổng số lượng sản phẩm

Ví dụ: Tính các chỉ tiêu trên cho doanh nghiệp Xuân Mai tại kỳ kinh doanh tháng

4.1.1.2 Tỷ lệ số dư đảm phí

Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tổng số dư đảm phí và doanh thu, hoặc giữa phần đóng góp và đơn giá bán.

Tỷ lệ số dư đảm phí = Tổng số dư đảm phí

= Số dư đảm phí đơn vị

* 100 Giá bán đơn vị sản phẩm

Ví dụ: Tính tỷ lệ số dư đảm phí của công ty Xuân Mai

Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, phản ánh hiệu quả kinh doanh của các bộ phận hoặc toàn doanh nghiệp, và có ý nghĩa lớn đối với các nhà quản trị.

- Tỷ lệ số dư đảm phí cho ta biết khi doanh thu tăng lên 1 đồng thì trong số đó có bao nhiêu đồng thuộc về số dư đảm phí

Tỷ lệ số dư đảm phí giúp doanh nghiệp đánh giá khả năng sinh lời của từng sản phẩm Khi doanh thu tăng cùng một mức, sản phẩm có tỷ lệ số dư đảm phí cao hơn sẽ tạo ra lợi nhuận nhanh hơn, điều này thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư.

Tỷ lệ số dư đảm phí là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các sản phẩm và dịch vụ, cũng như trong việc lựa chọn các phương án đầu tư Chỉ số này giúp so sánh với các tiêu chí khác, từ đó hỗ trợ quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu.

Kết cấu chi phí là một chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa tỷ lệ định phí và biến phí của một doanh nghiệp

Các yếu tố tác động đến cơ cấu chi phí của doanh nghiệp:

- Đặc điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh;

- Kế hoạch phát triển dài hạn, ngắn hạn của doanh nghiệp;

- Tình hình biến động doanh số hàng năm;

- Tình hình thị trường từng loại sản phẩm;

- Quan điểm của nhà quản trị về rủi ro

Phân tích cơ cấu chi phí giúp xác định tính hợp lý của chi phí doanh nghiệp, từ đó đánh giá tỷ lệ giữa biến phí và định phí Qua đó, doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp đầu tư chi phí hợp lý nhằm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất Việc này không chỉ hỗ trợ ổn định các mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn mà còn giúp theo dõi sự biến động doanh thu hàng năm.

Cơ cấu chi phí của hai công ty Vinaxuki và Ford có sự khác biệt mặc dù cả hai đều đạt cùng mức doanh thu và lãi thuần.

Tổng số dư đảm phí 400.000 40 800.000 80

Tổng định phí hoạt động 300.000 700.000

Phân tích ảnh hưởng của cơ cấu chi phí đến lợi nhuận thuần của doanh nghiệp khi doanh thu thay đổi?

Ta có bảng tổng hợp kết quả phân tích ảnh hưởng của cơ cấu chi phí đến lợi nhuận thuần của doanh nghiệp như sau: (ĐVT: nghìn đồng)

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Biến động của doanh thu

Cũ Mới Chênh lệch Cũ Mới Chênh lệch

Số dư đảm phí mới = Số dư đảm phí cũ + Mức tăng số dư đảm phí

= Số dư đảm phí cũ * (1+ Mức tăng sản lượng tiêu thụ)

Lãi thuần mới = Số dư đảm phí mới – Định phí

Chênh lệch = Lãi thuần mới – Lãi thuần cũ

Cụ thể: Khi doanh thu của công ty Vinaxuki tăng 50% tương ứng mức tăng 500.000 nghìn đồng (100.000 * 50%) thì:

Số dư đảm phí: 400.000 * (1 + 50%) = 600.000 (nghìn đồng)

Lãi thuần mới: 600.000 – 300.000 = 300.000 (nghìn đồng)

Công ty Vinaxuki có tỷ lệ biến phí lớn hơn tỷ lệ định phí;

Công ty Ford có tỷ lệ định phí lớn hơn tỷ lệ biến phí;

Khi doanh thu tăng từ 10% đến 50%, lãi thuần của công ty Vinaxuki tăng từ 140.000 nghìn đồng lên 300.000 nghìn đồng, trong khi đó, lãi thuần của công ty Ford tăng từ 180.000 nghìn đồng lên 500.000 nghìn đồng Điều này cho thấy tốc độ tăng lãi thuần của công ty Ford nhanh hơn so với Vinaxuki.

• Khi doanh thu giảm từ 10% đến 50%, lãi thuần của công ty Vinaxuki giảm từ

Công ty Ford đã giảm lãi thuần từ 20.000 đến 300.000 nghìn đồng, cho thấy tốc độ giảm nhanh hơn so với công ty Vinaxuki, nơi lãi thuần giảm từ 60.000 đến 100.000 nghìn đồng.

Khi doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao hơn biến phí, lợi nhuận sẽ trở nên nhạy cảm với doanh thu, dẫn đến việc lợi nhuận tăng nhanh trong những năm thành công và giảm mạnh trong những năm khó khăn.

Doanh nghiệp có tỷ lệ định phí thấp trong tổng chi phí thường có lợi nhuận ổn định hơn khi doanh thu biến động Tuy nhiên, khi doanh số tăng cao, những doanh nghiệp này có thể gặp khó khăn trong việc duy trì lợi nhuận, dẫn đến việc thất thu lợi nhuận mặc dù doanh thu tăng.

Doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn sẽ đối mặt với rủi ro cao hơn, nhưng cũng có khả năng đạt được lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn Vì vậy, các nhà đầu tư cần cân nhắc kỹ lưỡng khi lựa chọn phương án đầu tư với cấu trúc chi phí phù hợp để tối ưu hóa hiệu quả.

PHÂN BỔ CHI PHÍ VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO BỘ PHẬN

5.1.PHÂN BỔ CHI PHÍ CỦA CÁC BỘ PHẬN PHỤC VỤ

5.1.1 Sự cần thiết phải phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ

Bộ phận trong tổ chức được hiểu là một phần hoặc một mặt hoạt động, như đơn vị hay phòng ban, nằm trong cơ cấu chung và cùng hướng tới mục tiêu chung của tổ chức.

Ví dụ: quầy hàng, cửa hàng, phân xưởng sản xuất, phòng kế toán…

Các bộ phận trong một tổ chức có thể chia làm hai nhóm:

Nhóm bộ phận hoạt động chức năng bao gồm các đơn vị thực hiện các mục tiêu trọng tâm của tổ chức, tức là những bộ phận trực tiếp tham gia vào hoạt động chức năng của tổ chức.

Ví dụ về các địa điểm hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau bao gồm quầy hàng và cửa hàng của công ty thương mại, phòng mổ của bệnh viện, phân xưởng sản xuất của xí nghiệp chế biến, và tổ bay của công ty hàng không.

Nhóm bộ phận phục vụ bao gồm các đơn vị không trực tiếp tham gia vào hoạt động chức năng, nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các bộ phận trực tiếp Hoạt động của nhóm này cung cấp dịch vụ cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận khác trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.

Ví dụ: phòng kế toán, phòng thu mua, phòng chấm chuyến, phòng tổ chức, căng tin…

5.1.1.2 Sự cần thiết phải phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ

Mặc dù các bộ phận phục vụ không trực tiếp tham gia vào hoạt động chức năng của doanh nghiệp, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động này Chi phí liên quan đến các hoạt động này, dù không gắn liền với hoạt động kinh doanh chính, vẫn ảnh hưởng đến kết quả chung của toàn doanh nghiệp Do đó, chúng được xem là một phần của chi phí sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.

Để đánh giá chính xác giá thành và kết quả sản phẩm, dịch vụ, cần lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí phù hợp với từng đối tượng cụ thể, nhằm nâng cao độ tin cậy cho quyết định Ngược lại, phân bổ chi phí không hợp lý có thể dẫn đến việc đánh giá sai kết quả hoạt động, gây ra tình trạng tính thiếu chi phí, làm tăng giả tạo kết quả, hoặc tính chi phí quá cao, làm giảm kết quả, từ đó không kích thích được hoạt động của các bộ phận liên quan.

Chi phí của các bộ phận phục vụ thường liên quan đến nhiều bộ phận và hoạt động khác nhau Việc phân bổ chi phí này cho các bộ phận khác giúp xác định kết quả và hiệu quả kinh doanh của từng bộ phận một cách chính xác hơn.

Việc phân bổ chi phí cho các bộ phận phục vụ là cần thiết do mối quan hệ phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận này, giúp đánh giá hiệu quả của từng bộ phận một cách chính xác hơn.

5.1.2 Các nguyên tắc phân bổ chi phí

Việc phân bổ chi phí gián tiếp cho các bộ phận là cần thiết và phải tuân theo nguyên tắc nhất định để không ảnh hưởng đến việc đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động Để phân bổ chính xác chi phí của bộ phận phục vụ cho các đối tượng chịu chi phí cụ thể, cần dựa trên các nguyên tắc rõ ràng.

5.1.2.1 Lựa chọn căn cứ phân bổ

Căn cứ phân bổ là chỉ tiêu quan trọng để đo lường mức độ hoạt động và sử dụng dịch vụ, đóng vai trò chủ yếu trong bộ phận hoạt động.

Chi phí sản xuất bao gồm các yếu tố như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, thời gian lao động, diện tích mặt bằng sử dụng, số kilowatt điện tiêu thụ, trọng lượng hàng hóa vận chuyển và số lượng công nhân tham gia sản xuất.

Các điều kiện lựa chọn căn cứ phân bổ:

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường

Căn cứ phân bổ cần thể hiện tính đại diện và đo lường mức phí của các bộ phận phục vụ sau khi đã phân chia cho từng đối tượng chịu chi phí Để thực hiện điều này, cần hiểu rõ bản chất của chi phí, nguồn gốc phát sinh và các nhân tố tác động, từ đó lựa chọn tiêu thức phân bổ một cách khoa học.

Căn cứ phân bổ cần phải liên kết chặt chẽ với nội dung kinh tế và chi phí cần phân bổ, đồng thời phải có sự biến động tương ứng với chi phí của bộ phận phục vụ.

Căn cứ phân bổ là đơn vị đo lường xác định và dễ tính toán, cần được sử dụng thống nhất trong suốt niên độ tài chính Sự thay đổi chỉ xảy ra khi có biến động quan trọng trong chính sách sản phẩm của doanh nghiệp.

Một số căn cứ phân bổ chi phí của bộ phận phục vụ điển hình như sau:

Bộ phận phục vụ Căn cứ phân bổ

Phục vụ dưới đất của công ty hàng không

Căng tin Số lượng công nhân viên

Bảo vệ Diện tích chịu trách nhiệm

Kỹ thuật, kế hoạch Tổng số giờ lao động trực tiếp

Kế toán Số giờ lao động, số lượng khách hàng phục vụ Động lực Năng lực phục vụ (kwh)

Tổ chức nhân sự Số lượng nhân viên

Quản lý xí nghiệp Tổng số giờ lao động

Bảo trì Số giờ máy, tổng số giờ lao động

Khi không có mức hoạt động hoặc mức sử dụng sẵn có, quá trình phân bổ chi phí sẽ dựa vào "khả năng chịu đựng" của bộ phận chức năng đối với chi phí phục vụ.

ĐÁNH GIÁ HOÀN VỐN ĐẦU TƯ VÀ ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM 105 6.1 ĐÁNH GIÁ HOÀN VỐN ĐẦU TƯ

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN SẢN XUẤT

Ngày đăng: 18/04/2023, 20:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w