Quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục kinh doanh một bộ phận

Một phần của tài liệu Bài Giảng Kế Toán Quản Trị (Trang 146 - 149)

Chương VII: KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH

7.1. NHẬN DIỆN THÔNG TIN THÍCH HỢP VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

7.2.1. Quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục kinh doanh một bộ phận

Những quyết định về việc khi nào thì loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh là một trong những quyết định phức tạp nhất mà nhà quản trị phải thực hiện, vì đó là những quyết định phải chịu tác động của nhiều nhân tố. Quyết định cuối cùng là việc đánh giá ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Chúng ta xem xét báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của một công ty thương mại tổng hợp kinh doanh ba ngành hàng sau:

Chỉ tiêu Tổng cộng Giầy nữ Giầy nam Giầy trẻ em Doanh thu 800.000 360.000 320.000 120.000 Biến phí 424.000 200.000 144.000 80.000 Số dư đảm phí 376.000 160.000 176.000 40.000 Định phí 286.000 122.000 108.000 56.000 Định phí bộ phận (trực tiếp) 86.000 32.000 28.000 26.000 Định phí chung (gián tiếp) 200.000 90.000 80.000 30.000 Lãi (lỗ) 90.000 38.000 68.000 (16.000) Trong đó:

Định phí chung được phân bổ cho các bộ phận căn cứ vào doanh thu của từng bộ phận và được xác định theo công thức sau:

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường Định phí

chung phân bổ = Tổng định phí chung

x Doanh thu của bộ phận Tổng doanh thu

Yêu cầu: Qua bảng báo cáo trên ta thấy có một vấn đề được đặt ra: doanh nghiệp có nên ngừng kinh doanh ngành hàng giầy trẻ em vì nó kinh doanh bị lỗ hay không?

Về vấn đề này, trước hết chúng ta cần làm rõ tính chất của định phí trực tiếp và định phí gián tiếp.

- Định phí bộ phận (hay định phí trực tiếp) là những khoản định phí trực tiếp phát sinh của từng bộ phận trong doanh nghiệp. Ví dụ: Tiền lương của bộ phận quản lý từng mặt hàng, chi phí quảng cáo từng mặt hàng, khấu hao TSCĐ dùng riêng cho từng bộ phận.

- Định phí chung (hay định phí gián tiếp) là những khoản định phí phát sinh chung, phục vụ cho hoạt động của toàn doanh nghiệp. Ví dụ: Tiền lương của nhân viên quản lý và của hội đồng quản trị doanh nghiệp; Chi phí quảng cáo chung cho toàn công ty; Khấu hao TSCĐ dùng dung cho toàn công ty.

Do đó, định phí trực tiếp ở từng bộ phận là khoản chi phí có thể tránh được, nghĩa là chi phí có thể giảm trừ toàn bộ nếu không tiếp tục duy trì hoạt động của bộ phận đó. Do đó, định phí trực tiếp là thông tin thích hợp cho việc ra quyết định tiếp tục hay loại bỏ việc kinh doanh ở các bộ phận. Ngược lại, định phí gián tiếp phân bổ cho các bộ phận là chi phí không thể tránh được, tức là tổng số chi phí phát sinh vẫn không thay đổi cho dù có quyết định loại bỏ, không tiếp tục kinh doanh một bộ phận nào đó. Phần chi phí chung trước đây phân bổ cho bộ phân đó, nay không còn tiếp tục kinh doanh nữa sẽ được tính toán phân bổ hết cho các bộ phân còn lại. Như thế, định phí chung là chi phí không thích hợp cho việc ra quyết định giải quyết tình huống này.

Quay trở lại với tình huống của công ty giày Hoàng Hà, nếu ngừng kinh doanh mặt hàng giầy trẻ em thì số dư đảm phí của ngành hàng này là 40 triệu đồng, sẽ bị mất, đồng thời giảm bớt được 26 triệu đồng định phí trực tiếp của mặt hàng giầy trẻ em. Như vậy, nếu ngừng kinh doanh mặt hàng giầy trẻ em ta sẽ thấy, doanh nghiệp

bị thiệt hại 14 triệu đồng (40 triệu đồng – 26 triệu đồng), là phần lợi nhuận của mặt hàng này mà doanh nghiệp đã sử dụng để bù đắp định phí chung.

Nói cách khác, theo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì việc kinh doanh mặt hàng giầy trẻ em bị lỗ, song khoản lỗ này không phải do bản thân việc kinh doanh hàng giầy trẻ em gây ra vì như ta đã phân tích ở trên, doanh thu của bản thân mặt hàng trẻ em đủ bù đắp chi phí và có lãi, phần lãi đó được dùng để bù đắp định phí chung của doanh nghiệp. Khoản lỗ của việc kinh doanh giầy trẻ em phát sinh là do mức định phí chung phân bổ cho nó vượt quá mức lãi mà nó tạo ra được (30 triệu đồng – 14 triệu đồng). Như vậy, nếu ngừng kinh doanh mặt hàng giầy trẻ em, doanh nghiệp sẽ bị mất phần lãi mà mặt hàng này tạo ra, là 14 triệu đồng để bù đắp định phí chung. Phần định phí chung đó đương nhiên sẽ phải phân bổ cho các mặt hàng khác còn lại, hay nói cách đi lợi nhuận của doanh nghiệp, khi đó sẽ bị giảm một mức bằng mức định phí chung phân bổ cho mặt hàng giầy trẻ em.

Tóm lại, từ việc phân tích trên, ta có thể tóm gọn lại bằng báo cáo kết quả kinh doanh của 2 phương án: Tiếp tục kinh doanh hay loại bỏ mặt hàng giầy trẻ em như sau:

Chỉ tiêu

Tiếp tục KD giầy trẻ em

Loại bỏ việc KD giầy trẻ em

Chênh lệch

Doanh thu 800.000 680.000 (120.000)

Biến phí 424.000 344.000 (80.000)

Số dư đảm phí 376.000 336.000 (40.000)

Định phí bộ phận (trực tiếp) 86.000 60.000 (26.000)

Lãi (lỗ) (14.000)

Tóm lại, khi chưa có phương án nào hay hơn việc loại bỏ kinh doanh mặt hàng giầy trẻ em thì nên tiếp tục kinh doanh mặt hàng này vì như vậy có lợi hơn, loại bỏ nó doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại nhiều hơn (30 triệu đồng > 14 triệu đồng).

Tuy nhiên, việc xem xét một quyết định có nên loại bỏ một bộ phận kinh doanh thường có nhiều phương án khác nữa. Giả sử doanh nghiệp có thể tận dụng được

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường mặt bằng do ngừng kinh doanh giầy trẻ em để cho thuê thì tiền cho thuê sẽ trở thành một khoản thu, hoặc để mở rộng kinh doanh những mặt hàng còn lại sinh lợi cao hơn.

Chúng ta hãy xem xét một tình huống phức tạp hơn. Giả sử doanh nghiệp có thể thay thế mặt hàng mũ bảo hiểm cho mặt hàng giầy trẻ em và đã ước tính được các khoản thu và chi của mặt hàng này như sau:

Chỉ tiêu Tổng

cộng Giầy nữ Giầy nam Mũ bảo hiểm Doanh thu 860.000 360.000 320.000 180.000 Biến phí 444.000 200.000 144.000 100.000 Số dư đảm phí 416.000 160.000 176.000 80.000 Định phí 290.000 115.720,9 102.418,6 71.860,5 Định phí bộ phận (trực tiếp) 90.000 32.000 28.000 30.000 Định phí chung (gián tiếp) 200.000 83.720,9 74.418,6 41.860,5 Lãi (lỗ) 126.000 44.279,1 73.581,4 8.139,5 Doanh thu mặt hàng mũ bảo hiểm tăng lên 60 triệu đồng, làm tăng doanh thu của toàn doanh nghiệp lên 60 triệu đồng, đạt 860 triệu đồng. Điều này làm cho định phí chung phân bổ cho hai mặt hàng giầy nam và giày nữ giảm đi, định phí chung phân bổ cho mặt hàng mũ bảo hiểm tăng lên 11,860 triệu đồng. Song do mặt hàng mũ bảo hiểm có tỷ lệ biến phí nhỏ hơn nên số dư đảm phí tăng 40 triệu đồng. Định phí bộ phận cũng tăng nhưng không đáng kể, chỉ 4 triệu đồng. Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố trên, đã làm lợi nhuận bộ phận mũ bảo hiểm đạt 8,139 triệu đồng, cao hơn mặt hàng giầy trẻ em 24,140 triệu đồng, góp phần làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp thêm 36 triệu đồng, đạt 126 triệu đồng (Cao hơn mức lợi nhuận cũ 90 triệu đồng).

Như vậy, doanh nghiệp đã đủ cơ sở để có thể quyết định kinh doanh mặt hàng giày trẻ em bằng mặt hàng mũ bảo hiểm.

Một phần của tài liệu Bài Giảng Kế Toán Quản Trị (Trang 146 - 149)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(186 trang)