6.3. ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
6.3.2. Xác định giá chuyển nhượng
Giá chuyển nhượng là giá khi một bộ phận của công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa cho một bộ phận khác của công ty. Mục tiêu quan trọng của việc thúc đẩy giá chuyển nhượng là thúc đẩy các nhà quản lý làm việc để mang lại lợi nhuận cho cả công ty. Do vậy, việc xác định giá chuyển nhượng cần đảm bảo các nguyên tắc chung sau:
- Đảm bảo lợi ích kinh tế của các đơn vị trong cùng hệ thống.
- Là cơ sở hạch toán nội bộ giữa các đơn vị để có các quyết định phù hợp với từng đơn vị cụ thể.
- Khai thác hết những thế mạnh của các đơn vị thành viên, đồng thời khắc phục những hạn chế của từng đơn vị nhằm đảm bảo cho mục tiêu chung hoàn thành tốt.
Giá chuyển nhượng nội bộ là giá tính cho sản phẩm sản xuất và nó ảnh hưởng đến doanh thu của bộ phận bán và chi phí của bộ phận mua. Giá chuyển nhượng chỉ nên được thực hiện khi mà mức giá tối thiểu bộ phận bán sẵn sàng chấp nhận (giá sàn) nhỏ hơn mức giá tối đa mà bộ phận mua sẵn sàng trả (giá trần).
Việc định giá bán các sản phẩm có thể tiến hành theo một trong các phương pháp sau:
- Xác định giá chuyển nhượng theo chi phí sử dụng - Xác định giá chuyển nhượng theo giá thị trường - Xác định giá chuyển nhượng theo giá thương lượng
6.3.2.1. Giá chuyển nhượng theo chi phí sử dụng
Xác định giá chuyển nhượng theo chi phí sử dụng là xác định giá chuyển nhượng giữa các đơn vị căn cứ theo chi phí tổng hợp được và không tính thêm bất kỳ một yếu tố lợi nhuận nào. Cách xác định giá chuyển nhượng này đơn giản, để áp dụng nhưng nó tồn tại một số nhược điểm sau:
- Sử dụng chi phí làm căn cứ để tính giá chuyển nhượng có thể dẫn đến những quyết định sai lầm trong công ty, vì cách này không cho chúng ta biết khi nào sự chuyển nhượng nên thực hiện, khi nào không nên vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của công ty.
- Sử dụng chi phí làm căn cứ tính giá chuyển nhượng dẫn đến kết quả là chỉ có bộ phận thực hiện khâu tiêu thụ cuối cùng với khách hàng bên ngoài công ty mới có lợi nhuận, còn những đơn vị khác, chỉ tiêu thụ nội bộ sẽ không có lợi nhuận. Do vậy, việc đánh giá các đơn vị đó theo công thức ROI và theo chỉ tiêu thu nhập thặng dư (RI) sẽ không thực hiện được.
- Sử dụng chi phí làm giá chuyển nhượng không khuyến khích việc kiểm soát chi phí. Nếu tất cả chi phí phát sinh một đơn vị được chuyển sang đơn vị khác một cách đơn giản sẽ dẫn đến tình trạng đơn vị thực hiện khâu bán cuối cùng sẽ phải gánh chịu tất cả chi phí, kể cả chi phí phát sinh vì lãng phí hoặc hoạt động kém hiệu quả của những đơn vị trước đó.
Tuy vậy, sử dụng chi phí làm căn cứ tính giá chuyển nhượng được sử dụng rộng rãi vì nó có những ưu điểm như: dễ hiểu, dễ thực hiện. Ngoài ra, khi thực hiện theo phương pháp này, giá chuyển nhượng tương đối thấp, khuyến khích tiêu dùng nội bộ (đặc biệt là khi dư thừa công suất và khi xét trên toàn bộ công ty). Để hạn chế những tồn tại trên của việc xác định giá chuyển nhượng theo chi phí, các nhà quản trị thường sử dụng công thức để tính giá chuyển nhượng và dựa trên chi phí tiêu chuẩn để xác định như sau:
Giá chuyển nhượng = Biến phí + Số dư đảm phí của hợp đồng
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường đơn vị tiêu thụ bị hủy bỏ
Ví dụ: Công ty Hải Vân có 2 phân xưởng X, Y. Phân xưởng X sản xuất sản phẩm A, phân xưởng Y sản xuất sản phẩm B. Sản phẩm A là một bộ phận cấu thành của sản phẩm B, do vậy có thể tiêu thụ nội bộ trong công ty. Có tài liệu cụ thể của công ty như sau:
- Phân xưởng X, trong tháng:
• Sản xuất: 10.000 sản phẩm A
• Tiêu thụ: 10.000 sản phẩm A
• Giá bán đơn vị sản phẩm: 80 (nghìn đồng)
• Biến phí sản xuất đơn vị: 50 (nghìn đồng)
- Phân xưởng B, trong tháng mua 5.000 chi tiết giống sản phẩm A với giá 78.000 đồng
Giải
Nếu phân xưởng X bán sản phẩm A cho phân xưởng Y với giá bằng chi phí biến đổi là 50.000 đồng/ sản phẩm thì như vậy phân xưởng X sẽ bị lỗ 30.000 đồng/ sản phẩm so với phương án bán ra bên ngoài. Do vậy, khi xác định tiêu thụ nội bộ, để không bị thiệt so với khi bán ra bên ngoài, phân xưởng X cần xác định giá bán như sau:
Giá chuyển nhượng = Biến phí
đơn vị + Số dư đảm phí của hợp đồng tiêu thụ bị hủy bỏ
= 50.000 + (80.000 – 50.000)
= 80.000 (đồng)
Như vậy, do giá chuyển nhượng > giá mua ngoài, nên nếu mua nội bộ, phân xưởng Y sẽ bị lỗ 80.000 – 78.000 = 2.000 (đồng/ chi tiết), cho nên không xảy ra chuyển nhượng nội bộ trong trường hợp này.
Vậy, xác định giá chuyển nhượng theo công thức trên giúp cho doanh nghiệp có quyết định đúng đắn nhất và tránh được mọi kết quả không tốt đối với lợi nhuận. Vì giá chuyển nhượng xác định theo công thức trên phản ánh giới hạn thấp nhất của bộ
phận cung cấp so với bán ra ngoài và giá này được xác định căn cứ trên thị trường cạnh tranh.
6.3.2.2. Xác định giá chuyển nhượng theo giá thị trường
Sử dụng giá thị trường làm căn cứ để chuyển nhượng rất thích hợp với quan điểm của các trung tâm kinh doanh và rất thuận tiện cho việc đánh kết quả hoạt động kinh doanh của các bộ phận trong một tổ chức doanh nghiệp. Cách tính giá chuyển nhượng theo giá thi trường giúp cho nhà doanh nghiệp có quyết định đúng đắn khi nào nên chuyển nhượng và khi nào thì không nên, cũng như đánh giá đúng được quá trình sinh lợi của vốn đầu tư từ các bộ phận kinh doanh của mình.
Khi sử dụng giá thị trường để chuyển nhượng cần phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Bộ phận mua phải mua trong nội bộ, nếu bộ phận bán đáp ứng được tất cả các điều kiện của giá mua ngoài và muốn bán nội bộ.
- Nếu bộ phận bán không đáp ứng được tất cả các điều kiện của giá mua ngoài thì khi đó bộ phận mua được tự do mua ngoài.
- Bộ phận bán được tự do từ chối bán nội bộ nếu muốn bán ra ngoài.
- Phải thành lập một hội đồng trung gian của công ty để giải quyết những bất đồng giữa các bộ phận về giá chuyển nhượng.
Chúng ta nghiên cứu các trường hợp xác định giá chuyển nhượng theo giá thị trường qua ví dụ sau đây:
Ví dụ: Sử dụng thông tin của công ty Hải Vân ở ví dụ trước,
- Phân xưởng X, trong tháng:
• Sản xuất: 10.000 sản phẩm A
• Tiêu thụ: 10.000 sản phẩm A
• Giá bán đơn vị sản phẩm: 80 (nghìn đồng)
• Biến phí sản xuất đơn vị: 50 (nghìn đồng)
- Phân xưởng B, trong tháng, mua 5.000 chi tiết giống sản phẩm A với giá 80
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường nghìn đồng
Giải
- Khi giá bán của phân xưởng X bằng với giá mua của phân xưởng Y, thì công ty cần xem xét các điều kiện khác để đưa ra quyết định phù hợp. Các yếu tố cần xem xét có thể là:
• Chất lượng sản phẩm;
• Chi phí vận chuyển;
• Thời gian cung cấp hàng
• Mối quan hệ cần thiết lập
Các nhà quản trị dựa vào nhận định của mình để đưa ra quyết định nên chuyển nhượng nội bộ hay không.
6.3.2.3. Xác định giá chuyển nhượng thông qua thương lượng
Giá thương lượng là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán, phản ánh những tình huống không thông thường. Giá thương lượng thường được sử dụng trong những trường hợp mà các bộ phận sản xuất cần một thảo luận với các bộ phận trong công ty để thương lượng sản xuất với giá cung cấp thỏa đáng nhất cho cả hai phía.
Giá của đơn vị mua đưa ra phải đủ sức hấp dẫn đơn vị bán để đơn vị này có thể hủy bỏ hợp đồng đang có.
Xác định giá chuyển nhượng trong trường hợp này cũng căn cứ trên công thức tính giá chuyển nhượng ở trên, và nếu đơn vị bán (đơn vị được đặt hàng) còn năng lực sản xuất nhàn rỗi thì sẽ xác định phạm vi giá chuyển nhượng có thể chấp nhận được.
Ví dụ: Sử dụng thông tin về công ty Hải Vân như trên, xác định mức giá chuyển nhượng nội bộ (nếu có) trong các trường hợp sau:
- Năng lực sản xuất tối đa của phân xưởng X là 10.000 sản phẩm A
- Năng lực sản xuất tối đa của phân xưởng X là 16.000 sản phẩm A
- Năng lực sản xuất tối đa của phân xưởng X là 13.000 sản phẩm A
Giải
❖ Năng lực sản xuất tối đa của phân xưởng X là 10.000 sản phẩm A Trong trường hợp này, giá bán sản phẩm của phân xưởng X là
Giá chuyển nhượng = Biến phí
đơn vị + Số dư đảm phí của hợp đồng tiêu thụ bị hủy bỏ
= 50.000 + (80.000 – 50.000)
= 80.000 (đồng) Nếu giá mua chi tiết của phân xưởng Y:
- Nhỏ hơn 80.000 đồng/chi tiết (Ví dụ 1) thì không nên chuyển nhượng nội bộ vì nó làm tăng chi phí đầu vào dẫn đến giảm lợi nhuận của phân xưởng Y.
- Bằng 80.000 đồng/chi tiết (Ví dụ 2) thì cần xem xét các điều kiện khác để đưa ra quyết định.
- Lớn hơn 80.000 đồng/chi tiết, thì phân xưởng Y nên sử dụng chuyển nhượng nội bộ để giảm chi phí, tăng lợi nhuận bộ phận và sau đó là lợi nhuận của cả công ty.
❖ Năng lực sản xuất tối đa của phân xưởng X là 16.000 sản phẩm A
Do mức tiêu thụ mỗi tháng của sản phẩm A chỉ là 10.000 sản phẩm nên phân xưởng X đang ở trạng thái dư thừa công suất. Nếu chuyển nhượng nội bộ, giá bán tối thiểu chỉ cần bù đắp được lượng chi phí biến đổi đơn vị sản phẩm A, tức là 50.000 đồng/ sản phẩm. Khi đó nên thực hiện chuyển nhượng nội bộ.
Giả sử rằng, hiện tại phân xưởng Y đang mua chi tiết giống sản phẩm A với giá 78.000 đồng/ sản phẩm. Khi chuyển nhượng nội bộ, thì lợi nhuận của công ty Hải Vân tăng thêm là:
5.000 * (78.000 – 50.000) = 140.000.000 (đồng)
Mức giá chuyển nhượng nội bộ xác định khi chia đôi lợi ích cho cả hai phân xưởng (Lợi nhuận của mỗi phân xưởng tăng thêm là 70.000.000 đồng) là
Giá chuyển = Biến phí đơn + Lợi nhuận mong muốn
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường
nhượng vị sản phẩm đơn vị sản phẩm
= 50.000 + 70.000.000 / 5.000
= 64.000 (đồng/ sản phẩm)
❖ Năng lực sản xuất tối đa của phân xưởng X là 13.000 sản phẩm A
Khi đó, để đảm bảo lợi nhuận, phân xưởng A có thể bán 3.000 sản phẩm cho phân xưởng B với mức giá tối thiểu bằng chi phí biến đổi.
Giả sử rằng, hiện tại phân xưởng Y đang mua chi tiết với giá 78.000 đồng/ chi tiết. Nếu phân xưởng Y, mua chi tiết của phân xưởng X, thì lợi nhuận của công ty Hải Vân tăng thêm là:
3.000 (78.000 – 50.000) = 84.000.000 (đồng) Giá chuyển nhượng nội bộ, chia đôi lợi ích của hai phân xưởng là:
Giá chuyển
nhượng = Biến phí đơn
vị sản phẩm + Lợi nhuận mong muốn đơn vị sản phẩm
= 50.000 + 42.000.000 / 3.000