Chương VII: KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH
7.1. NHẬN DIỆN THÔNG TIN THÍCH HỢP VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN
7.2.4. Quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất có giới hạn
Trong thực tế phổ biến các doanh nghiệp kinh doanh đều bị giới hạn bởi các nguồn lực sản xuất, do vậy ảnh hưởng đến các quyết định và lợi nhuận. Các yếu tố mà doanh nghiệp thường bị giới hạn bao gồm: sự giới hạn về vốn cho hoạt động kinh doanh, giới hạn về công suất của máy móc thiết bị, giới hạn về thị trường tiêu thụ, giới hạn về trình độ quản lý sản xuất, giới hạn về kinh nghiệm quản lý công nghệ mới, giới hạn về nguồn lao động… Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà bị chi phối bởi các yếu tố bởi những yếu tố giới hạn. Do vậy, các nhà quản trị cần phải sáng suốt trong giải quyết các tình huống trong điều kiện giới hạn nhằm khai thác tối đa các yếu tố sản xuất đã sẵn có và đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp là cao nhất.
Ví dụ:
- Trong điều kiện mặt bằng có giới hạn, cửa hàng không thể trưng bày tất cả các sản phẩm của mình
- Trong điều kiện máy móc thiết bị có giới hạn, với một số vốn nhất định nhưng xí nghiệp sản xuất lại nhận được nhiều hơn đơn đặt hàng của khách với số lượng và chủng loại đa dạng.
Các trường hợp quyết định trong điều kiện giới hạn như sau:
❖ Trường hợp chỉ có một điều kiện có giới hạn
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường Trong trường hợp chỉ có một điều kiện có giới hạn thì doanh nghiệp cần phải tính số dư đảm phí đơn vị và đặt chỉ tiêu này trong mối quan hệ với điều kiện năng lực có giới hạn đó. Để đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp, nhà quản trị cần phải phân tích để chọn ra các phương án tối ưu trong điều kiện giới hạn xác định:
- Xác định và chỉ rõ yếu tố giới hạn của doanh nghiệp
- Xác định số dư đảm phí đơn vị sản phẩm, hàng hóa trong điều kiện giới hạn đó.
- Xác định tổng số dư đảm phí của mỗi loại sản phẩm, dịch vụ trong điều kiện giới hạn
- Căn cứ vào mối quan hệ của số dư đảm phí và lợi nhuận của doanh nghiệp để lựa chọn phương án tối ưu.
Ví dụ: Nhà máy cao su Sao Vàng sản xuất lốp xe tải và lốp xe con trên cùng một hệ thống máy móc công nghệ. Số giờ máy tối đa có thể sản xuất trong năm là 6.000 giờ; để sản xuất ra 1 lốp xe tải cần 30 phút, để sản xuất ra 1 lốp xe con cần 20 phút, Giá bán một chiếc lốp xe tải là 8.000.000 đồng, một lốp xe con là 9.000.000 đồng.
Chi phí biến đổi một lốp xe tải là 6.400.000 đồng; một lốp xe con là 7.200.000 đồng.
Nhu cầu tiêu thụ của hai sản phẩm trên thị trường là như nhau.
Yêu cầu: Xác định sản phẩm nào mà doanh nghiệp nên sản xuất để tối đa hóa lợi nhuận?
ĐVT: 1.000 đồng
STT Chỉ tiêu SX lốp xe
tải
SX lốp xe con
1 Giá bán đơn vị SP 8000 9000
2 Chi phí biến đổi đơn vị SP 6500 7800
3 SDĐP đơn vị SP 1500 1200
4 Số giờ máy để SX 1 SP 30 20
5 SDĐP 1 giờ máy 50 60
Sản phẩm lốp xe tải tuy có số dư đảm phí đơn vị sản phẩm lớn hơn số dư đảm phí đơn vị sản phẩm lốp xe con, song do thời gian sản xuất lâu hơn nên số dư đảm phí tính cho một giờ máy hoạt động thấp hơn. Trong điều kiện năng lực sản xuất là số giờ máy hoạt động hạn chế (6.000 giờ/ năm) doanh nghiệp nên sản xuất nhiều lốp xe con sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn. Cụ thể là
- Lợi nhuận nếu chỉ sản xuất lốp xe con là:
60.000 *6.000 = 360.000.000 (đồng) - Lợi nhuận nếu chỉ sản xuất lốp xe tải là:
50.000 *6.000 = 300.000.000 (đồng)
Như vây, so với việc chỉ sản xuất lốp xe tải thì việc chỉ sản xuất lốp xe con mang lại lợi nhuận cao hơn là 60.000.000 đồng/năm.
Qua ví dụ trên ta thấy rõ là nếu chỉ xem xét riêng rẽ chỉ tiêu số dư đảm phí thì chưa dẫn đến kết luận chính xác, do đó phải xem xét nó trong mối quan hệ với điều kiện có giới hạn thì mới đi đến quyết định đúng đắn được.
❖ Trong trường hợp có nhiều điều kiện có giới hạn cùng một lúc
Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động với nhiều điều kiện hạn chế như số giờ máy hạn chế, vốn hạn chế, mức tiêu thụ hạn chế, … thì để đi đến quyết định phải sản xuất theo một cơ cấu sản phẩm như thế nào mới đem lại hiệu quả cao nhất, người ta thường sử dụng phương pháp phương trình tuyến tính được thực hiện qua bốn
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường bước dưới đây:
Bước 1: Xác định hàm mục tiêu và biểu diễn nó dưới dạng phương trình đại số Bước 2: Xác định các điều kiện giới hạn và biểu diễn chúng thành dạng phương trình đại số.
Bước 3: Xác định vùng sản xuất tối ưu trên đồ thị, vùng này được giới hạn bởi các đường biểu diễn của các phương trình điều kiện hạn chế và các trục tọa độ.
Bước 4: Căn cứ trên vùng sản xuất tối ưu với phương trình hàm mục tiêu , xác định phương trình sản xuất tối ưu.
Hàm mục tiêu có thể biểu diễn mức lợi nhuận tối đa hoặc mức chi phí tối thiểu.
Để minh họa quá trình tiến hành phương pháp này, chúng ta xem xét ví dụ dưới đây:
Ví dụ: công ty bánh kẹo Hải Hà sản xuất hai loại bánh: Bánh táo và bánh dâu.
Có thông tin về hai loại bánh này như sau:
Bánh táo Bánh dâu
Giá bán đvsp 60 50
Biến phí đvsp 36 35
SL tiêu thụ mỗi tuần 2000 2200
Số phút cần thiết để sản
xuất một hộp bánh 1 0,5
Biết rằng cả hai loại bánh này đều được sản xuất bởi một dây chuyền sản xuất.
Hiện tại, công suất máy đang đạt 100% với số phút chạy là 2.400 phút/ tuần.
Công ty nên tập trung sản xuất bánh táo hay bánh dâu với sản lượng mỗi loại bao nhiêu để tối đa hóa lợi nhuận?
Giải
Bước 1: Xác định hàm mục tiêu và biểu diễn nó dưới dạng phương trình đại số
Gọi: X là sản lượng bánh Táo Y là sản lượng bánh Dâu
Ta xây dựng phương trình lợi nhuận góp của hai sản phẩm như sau:
24 * X + 15* Y
Bước 2: Xác định các điều kiện giới hạn và biểu diễn chúng thành dạng phương trình đại số.
- Giới hạn về số giờ máy chạy: X + 0,5 * Y ≤ 2.400
- Giới hạn về mức cầu thị trường: X ≤ 2.000; Y ≤ 2.200 - Giới hạn về nguồn vật tư: X ≥ 0; Y ≥ 0;
Bước 3: Xác định vùng sản xuất tối ưu trên đồ thị, vùng này được giới hạn bởi các đường biểu diễn của các phương trình điều kiện hạn chế và các trục tọa độ
Bước 4: Căn cứ trên vùng sản xuất tối ưu với phương trình hàm mục tiêu , xác định phương trình sản xuất tối ưu.
Trên đồ thị, vùng sản xuất tối ưu là một ngũ giác. Mọi điểm nằm trong vùng sản xuất tối ưu đều thoả mãn các điều kiện hạn chế. Nhưng theo lý thuyết của qui hoạch
Y X+0,5Y ≤2.400
4.800 2.200
0 2.400 2.000
X≤2.000 Y ≤2.200
Điểm tối ưu
Vùng khả thi x
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường tuyến tính, điểm tối ưu là một trong các góc của vùng sản xuất tối ưu. Như vậy, để tìm cơ cấu sản phẩm thoả mãn yêu cầu của hàm mục tiêu, ta lần lượt thay thế giá trị toạ độ của các góc vào hàm mục tiêu, giá trị toạ độ của góc nào làm cho hàm mục tiêu đạt kết quả lớn nhất chính là cơ cấu sản phẩm cần tìm. Ta có bảng sau (ĐVT : 1.000 đồng) :
Căn cứ vào bảng trên, ta xác định được điểm tối ưu là Y=2.200; X=1.300, là mức sản xuất có lợi nhuận mang lại cao nhất, và bằng 33.000.000 đồng
Số sản phẩm sản xuất Lợi nhuận (24*X +15*Y) Bánh táo Bánh dâu
0 0 0
2.000 0 48.000 2.000 1.400 69.000 1.300 2.200 64.200 0 2.200 33.000