1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn ngữ văn thpt (6)

71 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học Ngữ văn
Trường học Trường THPT XYZ
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 7,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN (4)
    • I.1. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh phù hợp với quan điểm xây dựng chương trình (4)
    • I.2. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ là mục tiêu đổi mới giáo dục (4)
    • I.3. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông 2018 (4)
    • I.4. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ đáp ứng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh (5)
    • I.5. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống (6)
  • II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP (8)
    • II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến (8)
    • II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến (9)
      • II.2.1. Ngôn ngữ (9)
      • II.2.2. Năng lực ngôn ngữ (10)
      • II.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho HS THPT trong dạy học Ngữ văn (12)
        • II.2.3.1. Giải pháp 1: Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực (12)
        • II.2.3.2. Giải pháp 2: Rèn luyện ngôn ngữ cho HS thông qua hình thức sân khấu hóa (15)
        • II.2.3.3. Giải pháp 3: Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua tổ chức trò chơi (16)
        • II.2.3.4. Giải pháp 4: Nâng cao năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua dạy học phân môn Tiếng Việt trong môn Ngữ văn (18)
          • 2.3.5 Giải pháp 5: Tạo hứng thú phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS thông (19)
        • II.2.3.6. Giải pháp 6: Tạo hứng thú phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua các hoạt động tập thể, giờ sinh hoạt lớp được tổ chức dưới hình thứ trải nghiệm và chơi trò chơi (24)
      • II.2.4. Thực nghiệm (26)
        • II.2.4.1. Giáo án thực nghiệm (0)
        • II.2.4.2. Kết quả thực nghiệm (41)
        • II.2.4.3. Kết luận (42)
  • III. HIỆU QUẢ SÁNG DO KIẾN ĐEM LẠI (43)
    • III.1. Hiệu quả về mặt kinh tế (43)

Nội dung

15 2.3.5 Giải pháp 5: Tạo hứng thú phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng phần mềm PowerPoint, MicrosoftTeams, Zoom khi dạy nội dung bài

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh phù hợp với quan điểm xây dựng chương trình

- Chương trình giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực người học

- Chương trình giáo dục phổ thông theo hướng mở.

Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ là mục tiêu đổi mới giáo dục

- Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại

- Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới.

Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông 2018

- Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ và năng lực yếu sau:

+ Phẩm chất : yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

+ Những năng lực cốt lõi sau:

++ Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

++ Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.Đối với môn Ngữ vănnăng lực đặc thù của học sinh gồm năng lực ngôn ngữ (bao gồm năng lực sử dụng tiếng Việt và năng lực sử dụng ngoại ngữ; mỗi năng lực được thể hiện qua các hoạt động: đọc, viết, nói, nghe) và năng lực văn học

- Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh.

Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ đáp ứng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này

- Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học

- Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất

- Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).

Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống

Nếu bạn nói với một người bằng ngôn ngữ mà anh ta hiểu, điều bạn nói sẽ đi được vào đầu đối phương Nếu bạn nói với người đó bằng ngôn ngữ của anh ta, điều bạn nói sẽ đi tới con tim – Nelson Mandela Ngôn ngữ là công cụ mà con người dùng để giao tiếp trong cuộc sống - là một trong những phương tiện hữu hiệu để đáp ứng được mục đích giao tiếp Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng tình cảm, trạng thái tâm lí và nguyện vọng của mình Từ xa xưa, giá trị của ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày cũng đã được khẳng định: "lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"

Ngôn ngữ là thứ vô hình nhưng mang trong mình một sức mạnh rất lớn trong quá trình giao tiếp, nó tác động đến chúng ta theo nhiều cách khác nhau, thậm chí là vượt xa những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng được Một câu an ủi, động viên đúng lúc sẽ xoa dịu nỗi buồn của người khác ; một lời khen ngợi có thể là động lực cho ai đó tiếp tục cố gắng Hơn thế,Sử dụng ngôn từ khoa học, chính xác, linh hoạt sẽ chứng tỏ bản thân là người mạnh mẽ quyết đoán và tăng thêm niềm tin ở người xung quanh

Trong quá trình giao tiếp với mọi người, con người truyền đạt cho nhau những tư tưởng tình cảm, thấu hiểu và có điều kiện tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại, biết cách cư xử như thế nào là phù hợp với chuẩn mực xã hội Nhất là trong thời đại 4.0 phát triển năng lực ngôn ngữ là chìa khóa giúp học sinh tự tin để trở thành công dân toàn cầu Mỗi công dân toàn cầu cần có những kỹ nănggiao tiếp Kỹ năng giao tiếp là tập hợp những quy tắc, cách ứng xử, phản hồi,… giữa người nói và người nghe nhằm đạt mục đích nhất địch tức là kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ cơ thể để truyền tải, diễn đạt, trao đổi thông tin,….“Kỹ năng giao tiếp là một công cụ quan trọng trong cuộc hành trình theo đuổi mục tiêu, dù là gia đình, đồng nghiệp hay khách hàng của bạn” – đánh giá về kỹ năng giao tiếp của nhà diễn thuyết, chính trị gia người Mỹ Les Brown Kỹ năng giao tiếp được ví như một nghệ thuật Bởi giao tiếp không chỉ đơn thuần là nghe và nói mà còn gồm nhiều kỹ năng nhỏ khác:

+ Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể

+ Kỹ năng sử dụng âm điệu, ngôn từ

+ Kỹ năng diễn đạt, truyền tải thông tin,…

Theo nghiên cứu của Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (ASTD- American Society for Training & Development), khả năng giao tiếp là một trong 13 kỹ năng cần thiết để đạt được thành công trong công việc Để đạt hiệu quả trong quá trình giao tiếp, mỗi cá nhân cần phải nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ giúp HS phát triển : năng lực làm chủ ngôn ngữ; năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp; năng lực sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản Để đạt được điều này đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ vựng nhất định, hiểu và cảm nhận được sự giàu đẹp của tiếng Việt, nắm được những quy tắc về từ ngữ, ngữ pháp, chính tả để sử dụng tốt tiếng Việt Từ đó giúp HS hình thành năng lực đọc hiểu, năng lực nói, viết, năng lực đối thoại và tổ chức đối thoại Khi HS có năng lực tốt về ngôn ngữ, HS phát triển những kỹ năng quan trọng và cần thiết như:

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài sáng kiến:

“Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh THPT trong giờ học Ngữ văn.

MÔ TẢ GIẢI PHÁP

Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Để có căn cứ cho việc đánh giá và đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh THTP Tôi đã tiến hành khảo sát thực tế như sau:

Phiếu khảo sát số 1: Khảo sát năng lực sử dụng ngôn ngữ tại lớp tại lớp 12B2 , ở phần khảo sát này, tôi sẽ phát phiếu hỏi cho học sinh (Phụ lục I)

Kết quả khảo sát 12B2: Phần lớn HS gặp những vấn đề trên khi giao tiếp ở mức độ thường xuyên: 15% HS ngại giao tiếp, 20% HS diễn đạt còn vụng về, vốn từ chưa phong phú, 15% HS chưa tự tin đứng trước đám đông Các em đều có nguyện vọng

Kỹ năng hợp tác Kỹ năng thuyết phục được tham gia các hoạt động, rèn kĩ năng và nhận thức được sự cần thiết của năng lực ngôn ngữ

Phiếu khảo khát số 2: Khảo sát về năng lực sử dụng ngôn ngữ tại lớp 12D2 Ở phần khảo sát này, tôi sẽ đưa ra những câu thơ để kiểm tra năng lực sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt (Phụ lục II)

Kết quả khảo sát HS lớp 12D2: Trong phần khảo sát này tôi thấy 90% HS nói ngọng, chưa chuẩn những quy tắc tiếng Việt về phát âm, ngắt nhịp,

Phiếu khảo khát số 3: Khảo sát về năng lực sử dụng ngôn ngữ tại lớp 11D1 (Phụ lục III)

Khảo sát HS và tôi nhận thấy:

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ của HS còn hạn chế: không nhận biết được các chuẩn về tiếng Việt khi nói, khi viết, điều này dẫn đến việc viết sai và nói không đúng văn cảnh, không đúng phong cách ngôn ngữ

+ Ý thức sử dụng ngôn ngữ tùy tiện, cẩu thả, thiếu trách nhiệm làm cho ngôn ngữ giao tiếp bị xáo trộn, tối nghĩa, dung tục; làm cho ngôn ngữ của dân tộc bị méo mó, biến chất và mất đi bản sắc vốn có; làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt; làm giảm giá trị của ngôn ngữ, ảnh hưởng lớn đến việc giao tiếp và văn hoá ứng xử giữa mọi người học sinh ngày nay còn nảy sinh lối viết tắt hết sức buồn cười:

“dzạy là zui ròi đó”, “bjo mk di dau”, “vk ck vs nhau ko nen to tieng”, “m wen no tu bjo”,…", hay việc ghép chữ cái khác thường với ngôn ngữ chuẩn, thay vì viết là

"Chúc mừng sinh nhật" thì lại viết thành "Ckúc mừg sjnk nkat"…

+ Khi giao tiếp thì sử dụng ngôn ngữ theo trào lưu, dùng từ theo "mốt", sử dụng tiếng lóng, tiếng ngoại ngữ hay ngôn ngữ theo phong cách để giao tiếp với nhau Do sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng việc tiếp cận các văn hóa phẩm lệch lạc dễ dàng khiến cho giới trẻ mất kiểm soát bản thân Từ đó, có những hành vi lệch chuẩn sau một thời gian tiếp cận nó.

Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người; là phương tiện giao tiếp của xã hội; công cụ tư duy của con người Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc

Trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” của Bùi Ánh Tuyết đã nêu: “Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức tập thể, độc lập với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó”

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của HS nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy tưởng tượng của

HS phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể qua ngôn ngữ nói và viết của HS,

GV có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của HS

II.2.2 Năng lực ngôn ngữ

- Năng lực ngôn ngữ chính là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản ), nó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện giao tiếp

- Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác các diễn đạt ngôn ngữ Trong giao tiếp, ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo lập lời nói) còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói) Năng lực ngôn ngữ cũng được hiểu là khả năng sử dụng hệ thống kiến thức ngôn ngữ, hay

“bộ mã ngôn ngữ” trong hoạt động thực tế

- Năng lực ngôn ngữ thể hiện trước hết ở hoạt động động đọc

+ Cấp tiểu học: học sinh biết đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc theo các yêu cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng đọc hiểu

+ Cấp THCS: học sinh biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọc văn bản theo kiểu, loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản; nhận biết và bước đầu biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết so sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ với những trải nghiệm cuộc sống của cá nhân; từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận riêng về cuộc sống, làm giàu đời sống tinh thần

+ Ở THPT: học sinh biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu); biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản; giúp học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con người và cuộc sống theo cảm quan riêng; thấy được vai trò và tác dụng của việc đọc đối với bản thân

- Đối với hoạt động viết,

+ Cấp tiểu học: yêu cầu học sinh viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn văn ngắn; bước đầu viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh, chủ yếu là bài văn kể, tả và bài giới thiệu đơn giản; viết được văn bản kể lại những câu chuyện đã đọc, những sự việc đã chứng kiến, tham gia, những câu chuyện do học sinh tưởng tượng; miêu tả những sự vật, hiện tượng quen thuộc; giới thiệu về những sự vật và hoạt động gần gũi với cuộc sống của học sinh; viết đoạn văn nêu những cảm xúc, suy nghĩ của học sinh khi đọc một câu chuyện, bài thơ, khi chứng kiến một sự việc gợi cho học sinh nhiều cảm xúc; nêu ý kiến về một vấn đề đơn giản trong học tập và đời sống; viết một số kiểu văn bản như: bản tự thuật, tin nhắn, giấy mời, thời gian biểu, đơn từ; bước đầu biết viết theo quy trình; bài viết cần có đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài)

+ Cấp THCS: học sinh viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu biết viết bài văn nghị luận, thuyết minh, nhật dụng; viết đúng quy trình, biết cách tìm tài liệu để đáp ứng yêu cầu viết văn bản; có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và biết cách trích dẫn văn bản

+ Cấp THPT: học sinh viết thành thạo kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh về các đề tài gắn với đời sống và định hướng nghề nghiệp: viết được văn bản nghị luận và văn bản thông tin có đề tài tương đối phức tạp; văn bản nghị luận yêu cầu phân tích, đánh giá, so sánh giá trị của tác phẩm văn học; bàn về những vấn đề phù hợp với đối tượng gần đến tuổi thành niên, đòi hỏi cấu trúc và kiểu lập luận tương đối phức tạp, bằng chứng cần phải tìm kiếm từ nhiều nguồn; văn bản thuyết minh viết về những vấn đề có tính khoa học dưới hình thức một báo cáo nghiên cứu đúng quy ước, tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạo văn; bài viết thể hiện được cảm xúc, thái độ, những trải nghiệm và ý tưởng của cá nhân đối với những vấn đề đặt ra trong văn bản; thể hiện được một cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá tính

- Đối với hoạt động nói và nghe,

+ Cấp tiểu học: học sinh trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; bước đầu biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách rõ ràng câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ, trao đổi những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình đối với những vấn đề được nói đến; biết thuyết minh về một đối tượng hay quy trình đơn giản Nghe hiểu với thái độ phù hợp và nắm được nội dung cơ bản; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe

+ Cấp THCS: học sinh trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; có thái độ tự tin khi nói trước nhiều người; sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ý tưởng của mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đã nghe; thuyết minh về một đối tượng hay quy trình; biết cách nói thích hợp với mục đích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; biết sử dụng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ, để trình bày vấn đề một cách hiệu quả; học sinh thực hành nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết và bước đầu đánh giá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe một cách hiệu quả

+ Cấp THPT: học sinh biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm trái ngược nhau; có thái độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe thuyết trình và đánh giá được nội dung và hình thức biểu đạt của bài thuyết trình; có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận; trình bày vấn đề khoa học một cách tự tin, có sức thuyết phục; nói và nghe linh hoạt; nắm được phương pháp, quy trình tiến hành một cuộc tranh luận

Như vậy, năng lực ngôn ngữ là một năng lực tổng hợp trên cơ sở những biểu hiện của bốn yếu tố đọc, viết, nghe, nói cấu thành Các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện năng lực đặc thù của môn Ngữ văn

II.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho HS THPT trong dạy học Ngữ văn

II.2.3.1 Giải pháp 1: Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực

* Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua các phương pháp dạy học tích cực

HIỆU QUẢ SÁNG DO KIẾN ĐEM LẠI

Ngày đăng: 03/03/2023, 10:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w