Thực trạng dạy học truyện ngắn sau năm 1975 Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 bộ sách cơ bản, có 7 tác phẩm sau 1975 được giảng dạy ở cả phần học chính thức và đọc thêm; trong số đó, có
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN PHẦN 1: ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
1 Trong thực tiễn giao tiếp, mọi diễn ngôn (cả diễn ngôn nghệ thuật – trong đó có
diễn ngôn văn học) đều mang dấu ấn của người tạo ngôn (speaker) Diễn ngôn văn học – trong đó có truyện ngắn – là một trong những loại diễn ngôn mang đậm dấu
ấn nhà văn (người sáng tác; người tạo lập diễn ngôn) Có rất nhiều yếu tố quan trọng cùng góp phần để nhà văn sáng tạo ra những đứa con tinh thần của họ mà điểm nhìn
là một trong yếu tố không thể không kể đến Hiện thực cuộc sống là chất liệu để các nhà văn trong vai trò người tạo ngôn bản xây dựng lên một hiện thực khác – hiện thực trong tác phẩm Có lẽ không quá khi nói rằng, bên cạnh những nhân tố khác thì điểm nhìn là một nhân tố cần thiết để nhà văn xây dựng lên hiện thực trong tác phẩm – một hiện thực mang tính phản ánh thực tiễn (thông qua điểm nhìn (lăng kính) của nhà văn “Điểm nhìn là vị trí, xuất phát điểm mà từ đó hiện thực được quan sát và được kể lại” (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Thủy, Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện
kể, tr 10) Một cách hiểu rộng rái về điểm nhìn như vậy cho thấy điểm nhìn của người xây dựng tác phẩm văn học chính là góc độ mà từ đó nhà văn quan sát cuộc sống hiện thực từ vị trí quan sát đặc thù rồi phản ánh vào tác phẩm theo cách nhìn riêng của họ Điểm nhìn có thể ảnh hưởng đến điều được tái hiện lại và cả kĩ thuật (cách) tái hiện (kể chuyện) của nhà văn Nó chi phối việc nhà văn sử dụng từ ngữ, hình ảnh, kết cấu lời nói, kết cấu văn bản, giọng điệu… như thế nào để tái hiện hiện thực như họ muốn Không dừng lại ở đây, điểm nhìn được nhà văn lựa chọn còn có thể chi phối hay kêu gọi sự đồng cảm của người tiếp nhận tức người nghe, người đọc Với lý thuyết điểm nhìn, việc tiếp cận văn bản/diễn ngôn văn học sẽ giúp chúng
ta không chỉ lý giải được mối quan hệ biện chứng giữa hiện thực trong tác phẩm và hiện thực cuốc sống được lấy làm chất liệu Không chỉ thấy được tầng sâu ý nghĩa tạo nên giá trị của tác phẩm mà còn có cơ sở để lí giải một số hiện tượng văn học,
Trang 2đánh giá phong cách và tầm tư tưởng của nhà văn, cũng như một trào lưu hay một giai đoạn văn học
2 “Văn học thực chất là cuộc đời Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời
mà có Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Nhận định đó của
Tố Hữu đã cho thấy mối quan hệ bền chặt không thể tách rời giữa văn học và đời sống Có lẽ vì vậy mà trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, nhà văn luôn được đặt ở vị trí trung tâm của đời sống và đại diện cho lợi ích của cộng đồng Người kể chuyện trong những truyện ngắn 1945 - 1975 thường đồng nhất cái nhìn của mình với chân lí Đó là cái nhìn “toàn tri”, được bảo đảm bằng kinh nghiệm cộng đồng Nhưng, sau 1975, đất nước hòa bình, nhu cầu đổi mới toàn diện đời sống xã hội được
ý thức và văn học cũng không thể viết theo lối cũ Các nhà văn Việt Nam buộc phải thoát ra khỏi ánh hào quang của những hình mẫu kỳ diệu và lý tưởng để trở về nhịp điệu của cuộc sống đời thường với tất cả những biểu hiện đa dạng, phức tạp của nó Quan niệm về hiện thực và con người đã được đổi mới, từ đó “mở rộng biên độ” của văn học Văn học tiếp cận đời sống một cách biện chứng Tác giả, nhân vật và người đọc được đặt trong mối quan hệ đa chiều để tranh biện và đi tìm chân lí Chính điều
đó đã tạo nên sự vận động mới mẻ trong điểm nhìn của tác phẩm văn chương Các điểm nhìn trần thuật được cá thể hóa, được gia tăng, được lồng ghép làm nên sự phong phú về giọng điệu trần thuật Điều này thể hiện rõ trong truyện ngắn Truyện ngắn đã chứng tỏ là thể loại năng động, có khả năng nắm bắt vấn đề một cách nhanh nhạy, kịp thời mà vẫn chuyển tải được những vấn đề quan trọng của đời sống đương thời
3 Chương trình giáo dục phổ thông mới coi việc hình thành năng lực và phẩm chất
cho học sinh làm mục đích then chốt Đối với bộ môn Ngữ Văn, năng lực văn học
và năng lực ngôn ngữ là những năng lực chuyên biệt cần đạt được Do vậy, dạy học Ngữ Văn cần bám sát vào đặc trưng thể loại, để từ việc đọc - hiểu một tác phẩm văn học, học sinh có năng lực để đọc hiểu những tác phẩm khác cùng thể loại, tránh hiện
Trang 3tượng học và làm theo “văn mẫu” Từ đó, bộ môn còn góp phần hình thành năng lực
tự chủ và tự học, tư duy và sáng tạo cho học sinh Dạy học một số truyện ngắn sau
1975 trong trường trung học phổ thông dưới sự soi sáng của lý thuyết về điểm nhìn ngôn ngữ sẽ góp phần hình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết cho học sinh
Vì những lí do đó, tôi đề xuất sáng kiến: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyện ngắn “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp) trong chương trình Ngữ Văn 2018 theo hướng vận dụng lí thuyết Điểm nhìn của ngôn ngữ học
PHẦN 2: MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT
1.Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Thực trạng dạy học truyện ngắn sau năm 1975
Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 (bộ sách cơ bản), có 7 tác phẩm sau
1975 được giảng dạy ở cả phần học chính thức và đọc thêm; trong số đó, có 2 tác
phẩm truyện ngắn được đưa trọn vẹn vào giảng dạy là truyện Chiếc thuyền ngoài
xa của Nguyễn Minh Châu (học chính thức) và Một người Hà Nội của Nguyễn
Khải (đọc thêm)
Qua phiếu khảo sát dành cho HS (xin xem Phụ lục 1), chúng tôi nhận thấy
tương tác của giữa GV và HS trong giờ học chưa hoàn toàn tốt Về nhận định GV khiến HS tự tin vào khả năng của mình để đọc hiểu tác phẩm, có 23,5% HS đồng ý
Về nhận định GV lắng nghe quan điểm của HS về các vấn đề được nêu ra trong tác phẩm, có 36,2% HS đồng ý Về nhận định Em cảm thấy GV hiểu em khi em phát biểu, có 30,1% HS đồng ý Dường như hoạt động giảng dạy truyện ngắn Việt Nam
sau 1975 vẫn mang tính chất truyền thống một chiều: GV giảng bài, HS lắng nghe; chưa có sự tham gia tích cực của HS
Đối với việc học truyện ngắn Việt Nam sau 1975, tỉ lệ HS gặp khó khăn khi tự thực hiện hoạt động chuẩn bị bài trước khi lên lớp bằng cách trả lời các câu hỏi trong
Trang 4SGK là 57,2%, hoạt động làm các yêu cầu của GV sau khi kết thúc bài học là 51,1%, hoạt động tìm hiểu các tài liệu liên quan đến truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là 92,5% Đây là một con số đáng buồn, không chỉ thể hiện lỗ hổng kiến thức của HS
mà còn cho thấy các em không có kĩ năng tiếp cận với các tác phẩm có sự đổi mới
Về hứng thú với các truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong SGK, 23,5% HS hoàn toàn không thích, 65,6% HS không thích cũng không ghét, 8,3% HS khá thích, 2,6% HS rất thích Đa phần các em không thích cũng không ghét truyện ngắn Việt Nam sau 1975 có lẽ một phần bởi các em chưa có cách tiếp cận đúng đắn, chưa hiểu đúng thi pháp của chúng
Đánh giá cách tổ chức giờ học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của GV, 2,3%
HS cho rằng phong phú, đa dạng, sáng tạo; 44,2% HS cho rằng tương đối phong phú; 45,3% HS cho rằng thiếu sáng tạo, hơi đơn điệu; 8,2% HS cho rằng nhàm chán
Có thể thấy trong cảm nhận của các em, giờ dạy truyện ngắn Việt Nam sau 1975 vẫn theo lối mòn, chưa hấp dẫn
Đánh giá hệ thống câu hỏi kiểm tra của GV về truyện ngắn Việt Nam sau 1975, 28,5% HS cho rằng đảm bảo tính vừa sức, 11,2 % HS cho rằng rất dễ, 34,7% HS cho rằng rất khó, 25,6% HS cho rằng không hiểu thầy cô hỏi gì Vẫn còn rất nhiều
HS thấy đề kiểm tra khó, thậm chí không hiểu yêu cầu của đề Kết quả kiểm tra không cao là điều tất yếu
Đối với việc đọc truyện ngắn Việt Nam sau 1975, chúng tôi đưa ra các nhận
định: một là, em chỉ đọc nếu phải đọc; hai là, đọc là một trong những sở thích của em; ba là, em thích nói chuyện về các tác phẩm đó với người khác; bốn là, với em, đọc là lãng phí thời gian; năm là, em chỉ đọc để lấy ngữ liệu so sánh văn học 80,7%
HS hoàn toàn đồng ý với nhận định đầu tiên; 1,6% HS đồng ý với nhận định thứ hai; 0% HS đồng ý với nhận định thứ ba; 76,9% HS đồng ý với nhận định thứ tư; 24,6%
HS đồng ý với nhận định cuối Như vậy, hầu hết HS không có nhu cầu và hứng thú đọc truyện ngắn Việt Nam sau 1975, các em chỉ đọc vì nhiệm vụ học tập Ngoài các
Trang 5tác phẩm trong SGK, các em không đọc những tác phẩm văn học khác thuộc giai đoạn sau 1975
Qua phiếu khảo sát dành cho GV (xin xem Phụ lục 4) , chúng tôi nhận thấy 100% GV tiếp cận SGK, sách GV, sách thiết kế bài giảng; 86,7% GV tiếp cận tác phẩm văn học sau 1975; 87,6% GV tiếp cận với phê bình, nghiên cứu chuyên sâu về văn học sau 1975; 10,2% GV tiếp cận phim chuyển thể từ tác phẩm văn học sau
1975 Vẫn còn một số GV chưa có ý thức mở rộng vốn kiến thức về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 để làm phong phú cho tiết dạy của mình
Trong giờ dạy truyện ngắn Việt Nam sau 1975, 100% GV đặt những câu hỏi khuyến khích HS tham gia vào giờ học ở tất cả hoặc hầu hết tất cả các tiết học Tuy nhiên, GV lại chưa chú trọng đến các hoạt động khác như khuyến khích
HS đưa ra ý kiến của mình về văn bản, giúp HS liên hệ văn bản với cuộc sống của mình, chỉ cho HS thấy những thông tin trong văn bản xây dựng trên những điều HS đã biết như thế nào
Dạy truyện ngắn Việt Nam sau 1975 so với dạy các tác phẩm khác trong SGK, 46,5% GV cảm thấy khó dạy hơn, 0% GV cảm thấy dễ dạy hơn, 25,3% GV cảm thấy khó/ dễ dạy như nhau, 28,2% GV cảm thấy khó/ dễ dạy tuỳ theo từng tác phẩm
Về sự linh hoạt của GV trong các tiết dạy truyện ngắn Việt Nam sau 1975, có 45,3% GV thích ứng bài học cho phù hợp với kiến thức và nhu cầu của HS ở hầu hết các tiết học, nhưng chỉ có 23,2% GV giúp đỡ riêng khi một HS gặp khó khăn trong việc hiểu bài ở một vài tiết học; 0% GV thay đổi cấu trúc bài học của một chủ
đề khi hầu hết HS cảm thấy khó hiểu Những con số này cho thấy GV rất nhiệt tình truyền thụ kiến thức với HS nhưng chưa thực sự linh hoạt trong việc xử lí các tình huống HS gặp phải trong giờ học Nguyên nhân một phần là do thời gian học tập truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trên lớp khá ít, GV không thể ôm đồm quá nhiều hoạt động, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc truyền thụ kiến thức cho phần đông HS trong lớp
Trang 6Về xu hướng kiểm tra, đánh giá kiến thức của HS về truyện ngắn Việt Nam sau 1975, 100% GV lựa chọn tái hiện kiến thức ở tất cả hoặc hầu hết tất cả các bài kiểm tra Khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau chỉ được 12,3% GV lựa chọn ở một vài bài kiểm tra Từ hoạt động dạy học đến kiểm tra, đánh giá kiến thức truyện ngắn Việt Nam sau 1975,
GV vẫn chưa có nhiều đổi mới
Có thể thấy một thực tế đáng buồn ở trường THPT là hầu hết HS không có những hiểu biết khái quát, cơ bản về từng giai đoạn văn học, về tiến trình văn học,
về đặc điểm thể loại của các tác phẩm văn học Vì thế, đối với các em, văn học trước hay sau 1975 đều như nhau Về phía GV, áp lực về thời gian, về giới hạn chương trình, cách kiểm tra đánh giá… khiến GV chỉ tập trung khai thác chiều sâu trong nội dung nghệ thuật của tác phẩm mà chưa làm nổi bật được sự chuyển đổi về tư duy nghệ thuật - một bước tiến mới trong tiến trình phát triển của truyện ngắn cũng như của văn học Việt Nam sau 1975
Việc dạy học tác phẩm văn chương nói chung và trong trường THPT nói riêng chưa chú trọng đến việc vận dụng nghiên cứu của ngôn ngữ học; trong khi đó, tác phẩm văn chương hay lời nói nghệ thuật là sản phẩm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được tạo ra từ một hoặc một số điểm nhìn nào đó Vì vậy, với luận văn này, chúng tôi muốn đề xuất một cách tiếp cận và dạy học tác phẩm văn chương mới nhằm đem lại hiệu quả cao trong việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học: cung cấp cho GV, HS một cách tiếp cận văn chương có cơ sở khoa học; từ đó, giúp HS có khả năng tự tìm hiểu, tự đọc hiểu, tự đánh giá tác phẩm một cách khoa học Đây là cách tạo hứng thú cho HS, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo trong học tập và quan trọng nhất là hình thành ở HS những phẩm chất và năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu về con người mới của thời đại
Chương trình Ngữ văn mới 2018 đưa ra danh mục văn bản (ngữ liệu) gợi ý lựa chọn truyện ở lớp 10, 11 và 12, ngoài hai truyện ngắn đã liệt kê ở trên, còn có
Trang 7truyện Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp Việc lựa chọn văn bản (ngữ liệu) hợp
lí cũng góp phần khắc phục những điểm tiêu cực trong thực trạng dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 hiện nay
1.2 Mục tiêu tạo ra sáng kiến
Đề xuất các hướng vận dụng lí thuyết về điểm nhìn vào việc hướng dẫn học
sinh truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp trong chương trình Ngữ văn
trung học phổ thông 2018 Từ đó, góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh trung học phổ thông
2 Giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp: mối quan hệ giữa điểm nhìn và các yếu tố của truyện ngắn
Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi
sử dụng lý thuyết về điểm nhìn của PGS.TS Nguyễn Thu Thủy được trình bày trong
luận án Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Từ đó, quan niệm về ĐN là vị trí, xuất phát điểm mà từ đó hiện thực được quan sát
và được kể lại Theo nghĩa rộng, vị trí, xuất phát điểm có thể được hiểu là vị trí, xuất
phát điểm về không gian, thời gian, khoảng cách về quyền uy và thân hữu, xuất phát
điểm về tâm lý cảm xúc, xuất phát điểm về nhận thức, xuất phát điểm về văn hóa, đạo đức, ý thức hệ
Trong giao tiếp và trong tác phẩm văn học, muốn bộc lộ ĐN, chủ thể ĐN phải
sử dụng các yếu tố ngôn ngữ Các yếu tố ngôn ngữ thể hiện ĐN rõ nhất là các yếu
tố chỉ không gian, thời gian, các từ xưng hộ, các hính thức đánh giá, bình luận, các cách dùng lệch chuẩn, các hành vi ngôn ngữ… Từ đó, hình thành nên mối quan hệ giữa ĐN với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ ở các phương thức kể và cấu trúc lời nói nghệ thuật trong tác phẩm
a Điểm nhìn và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ ở phương thức kể chuyện
Trang 8Phương thức kể chuyện là cách thức mà NKC sử dụng để thực hiện hành vi
kể chuyện của mình Chính vì vậy, ĐN là cơ sở phân loại các phương thức kể và chi phối đặc điểm sử dụng ở từng phương thức đó
b ĐN và ngôn ngữ kể chuyện ở truyện ngắn được kể theo ĐN bên trong
ĐN bên trong ảnh hưởng rất lớn đến đặc điểm sử dụng ngôn ngữ ở truyện ngắn Tính chất chủ quan, trực tiếp, nội tâm của nó chi phối đến các yếu tố:
- Lời văn miêu tả: Ở truyện kể theo ĐN bên trong, lời văn dù là tả cảnh hay tả diện mạo nhân vật thì luôn được gắn với tâm trạng và góp phần bộc lộ tâm trạng Trong lời văn miêu tả thể giới trọng tâm, điều đó càng được thể hiện rõ nét Thế giới nội tâm của nhân vật thường được mô tả một cách trực tiếp, cụ thể với những cung bậc phong phú, đa dạng, với những trạng thái sâu sắc ở bên trong Các hành
vi bên trong của nhân vật như: Cảm nhận, cảm thấy, thấy, hiểu, biết, nhận ra… cùng các trạng thái nội tâm như: mừng, vui, phấn khởi, lo sợ, yêu, ghét… xuất hiện với tần số rất cao
- Phương thức kể chuyện với tác phẩm được kể theo ĐN bên trong, các sự
kiện hoạt động được kể rất dài, tỉ mỉ, chi tiết; được bình luận đánh giá nhưng lại
ít được mô tả
- Những lời bình luận ở truyện ngắn được kể theo ĐN bên trong thường thể hiện sự đánh giá về cái được tả, được kể, làm cho đối tượng trở nên cụ thể, chi tiết hơn chứ không nhằm mục đích bộc lộ quan niệm con người về cuộc sống
c ĐN và ngôn ngữ kể chuyện ở truyện ngắn được kể theo ĐN bên ngoài
ĐN bên ngoài mang tính chất khách quan, do đó:
- Lời văn miêu tả chiếm tỉ lệ không đáng kể (nếu có thì tả diện mạo, hành động của nhân vật)
- Lời văn kể chuyện chiếm số lượng lớn, tập trung kể sự kiện
- Hầu như không có lời bình luận, không có yếu tố tình thái, yếu tố đánh giá
Trang 9- Tính khách quan trong lời kể được thể hiện rõ nét qua các lời thoại của nhân vật
d ĐN và ngôn ngữ kể chuyện ở truyện ngắn được kể theo ĐN toàn tri
- Phương thức kể của ĐN toàn tri giúp NKC biết nhiều và nói nhiều hơn nhân vật Thậm chí NKC có thể thông tỏ mọi ngõ ngách trong tâm hồn nhân vật Vì vậy trong truyện thường có những lời bình luận đánh giá mang tính chất triết học, đạo đức, xã hội
- Chiếm số lượng lớn trong ngôn ngữ kể chuyện theo ĐN toàn tri là những lời văn miêu tả (tả ngoại hình, tả hành động, tả nội tâm…)
- Lời văn kể chuyện chứa nhiều yếu tố bình luận Lời bình luận thường mang tính khái quát thiên về yếu tố triết lý, chiêm nghiệm
- Lời dẫn truyện luôn chứa các thông tin có tính bình luận đánh giá về người nói và lời nói của anh ta
Như vậy, có thể thấy dù truyện ngắn được kể theo phương thức nào thì ngôn ngữ của nó cũng phản ánh đặc điểm ĐN trong mỗi loại truyện kể đó
“Ngôn ngữ kể chuyện theo ĐN bên trong giàu sắc thái biểu cảm - cảm xúc
và chủ yếu bộc lộ thế giới nội tâm của của nhân vật một cách trực tiếp, mang giọng chủ quan của nhân vật Ngôn ngữ ở truyện kể theo ĐN bên ngoài mang màu sắc trung hòa, khách quan, không có những hình thái bình luận đánh giá trực tiếp Ngôn ngữ ở truyện kể theo ĐN toàn tri thiên về màu sắc đánh giá cảm xúc - lí tính với những hình thức bình luận, đánh giá công khai mang giọng uyên bác của NKC - tác giả” [23; 34]
e ĐN và kết cấu nghệ thuật
Trong tác phẩm văn học, các thành phần lời nói nghệ thuật là cơ sở để nhận diện ĐN, giọng điệu Cũng như vậy cách lựa chọn ĐN, giọng điệu sẽ chi phối đến kết cấu lời nói nghệ thuật
Trang 10Mỗi một sáng tạo nghệ thuật đều xuất phát từ một ĐN từ một giọng nhất định
Trong phê bình văn học và phong cách học giọng là để “mô tả một người nào
đó phát ngôn” trong truyện đó có thể là tác giả hàm ẩn, nhân vật hoặc cả hai Từ
đó lời nói nghệ thuật được tổ chức, cấu tạo theo cách thức nhất định nhằm thực hiện những mục đích riêng của nhà văn Giọng điệu trong tác phẩm văn học có thể là giọng của nhà văn cũng có thể là sự âm vang của nhiều giọng điệu (do ĐN
có tính chất di động, khúc xạ) Sự thay đổi về giọng điệu hay ĐN sẽ khiến từng thành phần của nghệ thuật thay đổi
Đối với tác phẩm tự sự nói chung, truyện ngắn nói riêng thì lời dẫn chuyện là nhân tố cơ bản liên kết các kiểu lời nói, các cấu trúc lời nói Dù chuyện được kể theo vai nào, được chủ quan hay khách quan hóa thì lời dẫn đều đại diện cho một cách nhìn, một tư tưởng nhất định Vai kể trong chuyện có mối quan hệ mật thiết với hình tượng tác giả nhưng không đồng nhất hoàn toàn với tác giả Nêu phá vỡ mối quan
hệ ấy, đồng nhất lời kể và phát ngôn của chủ thể chính là phá vỡ chính thức lời nói mang tính tự sự chuyển nó sang phạm vị trữ tình (Khi ấy lời kể đóng vai trò bộc lộ trực tiếp cẩm xúc của tác giả, nó được gọi là lời trữ tình ngoại đề)
Trong kết cấu lời nói nghệ thuật của truyện ngắn, lời đối thoại giữa các nhân vật là một thành phần quan trọng Ở một số tác phẩm tính đa thanh của nó được biểu lộ qua ĐN trong cách xây dựng các cuộc đối thoại mang tính phức tạp hóa về ngữ nghĩa
Như vậy ĐN có mối quan hệ chặt chẽ với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ ở các phương thức kể chuyện và kết cấu lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn
2.2 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp theo hướng vận dụng lí thuyết Điểm nhìn của ngôn ngữ học
Theo lí thuyết ĐN, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn được
kể từ ĐN toàn tri Đó là cái nhìn từ phía sau, NKC biết nhiều hơn nhân vật, nói nhiều
Trang 11hơn bất cứ nhân vật nào Các nhân tố của ĐN được thể hiện trong truyện này như sau:
NTĐH là người quan sát, người mang điểm nhìn trong truyện NTĐH trong
Muối của rừng là người thông tuệ, có khả năng nhìn thấu mọi ngõ ngách tâm hồn
cũng như những hành động, cử chỉ bên ngoài của nhân vật Quan trọng hơn cả, NTĐH không chỉ nhìn, không chỉ thấy mà luôn biết suy xét, đánh giá từ những cái
đã nhìn, đã thấy đó Truyện ngắn Muối của rừng không đơn thuần là sự gắn kết giữa
các sự kiện mà còn là sự gắn kết giữa những sự hiểu biết, nhìn nhận, đánh giá của NTĐH NTĐH là NKC nên lời văn trong truyện đậm chất trí tuệ
NKC không phải là nhân vật trong truyện mà hàm ẩn, đứng trên nhân vật, điều khiển nhân vật NKC không tham gia vào hành động, không có mặt trong câu chuyện NKC có giọng nói riêng, không trùng khớp với nhân vật Đó là NKC toàn tri, biết hết, thấy tất, mang nhiều nét tâm lí gần gũi với hình tượng tác giả NKC quan sát, nhìn nhận, đánh giá về sự kiện, nhân vật, đôi lúc hòa với điểm nhìn nhân vật, nhưng vẫn có khoảng cách với nhân vật Anh ta chính là người quan sát, cảm nhận
và kể lại câu chuyện về người khác
Khoảng cách giữa NKC với nhân vật luôn được xác định rõ qua việc dùng
đại từ ngôi thứ ba: ông, ông Diểu NKC hiểu biết hoàn toàn về thế giới được mô
tả, có thể hiểu thấu được cả thế giới nội tâm, hiểu thấu được những hành động bên ngoài của nhân vật Nhờ đó, NKC nhìn thấu và kể lại về thế giới và có thể bình luận, nhận xét về thế giới ấy Cũng bởi vậy, NKC có quyền uy hơn bất cứ nhân vật nào trong truyện
Về tiêu điểm và nhân vật: Khi quan sát thế giới hiện thực, NTĐH luôn kết hợp hài hòa việc quan sát tất cả các phương diện của nhân vật, cả thế giới bên ngoài cũng như thế giới nội tâm của nhân vật Khả năng quan sát tất cả mọi phương diện của nhân vật đã phần nào cho thấy tính chất thông tuệ của NTĐH: nhìn sự kiện từ góc nhìn của một người “biết tuốt”
Trang 12Từ những định hướng về ĐN như trên, chúng tôi đề xuất ba biện pháp dạy học phần truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 theo hướng vận dụng lí thuyết ĐN, qua
truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp Một là biện pháp Trải nghiệm sáng tạo qua các ĐN khác nhau; hai là biện pháp Đổi mới hệ thống câu hỏi đọc - hiểu để tiếp cận tác phẩm dưới góc độ của lí thuyết Điểm nhìn KTĐG là một thành
tố quan trọng trong quá trình giáo dục, có tác động tích cực đến việc nâng cao chất
lượng dạy học của GV và HS Vì vậy, biện pháp thứ ba chúng tôi đề xuất là Đổi mới kiểm tra, đánh giá phần truyện ngắn Việt Nam sau 1975 theo hướng vận dụng lí
thuyết ĐN nhằm phát triển năng lực người học
2.2.1 Trải nghiệm sáng tạo qua các điểm nhìn khác nhau
Trải nghiệm được xem là quá trình con người có được nhận thức hay kĩ năng qua việc trực tiếp dấn thân hành động (làm), qua quan sát hoặc cảm nhận các sự vật, hiện tượng, con người… trong thế giới bằng tất cả các giác quan vật chất và những xúc cảm, tác động cụ thể mà quá trình đó gây ra ở chủ thể Hoạt động TNST là một trong những hạt nhân cốt lõi của đổi mới giáo dục phổ thông, tập trung hướng tới đáp ứng mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học, chuyển từ giáo dục
“khép kín” sang nền giáo dục mở Hoạt động TNST được quan niệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình Học từ trải nghiệm thường mang lại cảm xúc cho cá nhân trong quá trình hoạt động nên những kinh nghiệm có được từ trải nghiệm cũng được lưu giữ lâu hơn trong trí nhớ
Nhiều nhà nghiên cứu và bạn đọc quan niệm: nhìn một tác phẩm văn học trên giấy giống như ngắm một con bướm ép khô, một con chim nhồi rơm Để phát triển khả năng cảm thụ thẩm mĩ của các HS, cần cho các em thâm nhập sâu hơn vào tác phẩm bằng cách TNST qua các ĐN khác nhau Với thể loại truyện, không chỉ là đọc
Trang 13văn bản mà phải kể, đóng vai, diễn xướng Sự sáng tạo của HS là vô tận, điều đó không chỉ truyền cảm hứng cho các em mà còn truyền cảm hứng cho bản thân người dạy Các văn bản truyện ngắn Việt Nam sau 1975 được viết với thi pháp đổi mới, đặc biệt là sự đổi mới trong ĐN nghệ thuật Vì vậy, với các điểm nhìn khác nhau,
HS sẽ có cảm nhận đa chiều về tác phẩm văn học, làm phong phú hơn hoạt động đọc
- hiểu văn bản Để quá trình TNST qua các ĐN khác nhau đạt hiệu quả, cần hướng dẫn HS thực hiện theo các bước:
Bước 1: Cảm nhận - tập trung đầy cảm xúc với các trải nghiệm chủ quan cùng văn bản;
Bước 2: Xây dựng, tưởng tượng: bước vào văn bản và tạo ra thế giới nghệ thuật sống động;
Bước 3: Kết nối: tạo ra mối liên hệ giữa trải nghiệm có tính tự truyện của người đọc đến văn bản hiện thời;
Bước 4: Phản hồi: đánh giá chất lượng trải nghiệm với văn bản của người đọc Bốn bước trên đều có thể áp dụng trong TNST qua các ĐN khác nhau Chúng tôi đề xuất ba ĐN cho HS tiếp xúc, thâm nhập vào văn bản truyện ngắn Việt Nam sau
1975, đó là: TNST qua điểm nhìn của người tiếp nhận văn bản, TNST qua điểm nhìn
của nhân vật và TNST qua điểm nhìn của nhà văn
2.2.1.1 Trải nghiệm sáng tạo qua điểm nhìn của người tiếp nhận văn bản
Tiếp nhận văn học là “hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…” [14; 325] Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng,
cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực cảm thụ, tư duy Về
Trang 14thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo Trong tiếp nhận văn học người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt, vừa quên mình, nhập thân, vừa sống và thể nghiệm nội dung của tác phẩm, vừa phân thân, duy trì khoảng cách thẩm mỹ để nhìn nhận tác phẩm
từ bên ngoài, để thưởng thức tài nghệ hoặc nhận ra điều bất cập, hoặc cắt nghĩa khác với tác giả Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo Nó thúc đẩy ảnh hưởng văn học, làm cho tác phẩm văn học không đứng yên mà luôn luôn lớn lên, phong phú thêm trong trường kì lịch sử Tiếp nhận văn học tạo thành đời sống lịch sử của tác phẩm văn học
Người tiếp nhận văn bản là cá nhân thông qua hành vi tiếp nhận tác phẩm mà tham gia vào đời sống xã hội Người tiếp nhận phải đến gần và làm quen với những
sự kiện, hiện tượng và ý nghĩa mới lạ của tác phẩm Đây là một hành động mà qua
đó đòi hỏi người đọc phải có cái nhìn vượt qua và phá huỷ thế giới nhìn thấy được
để gợi lên trong tưởng tượng một cái nhìn về thế giới nghệ thuật Dưới con mắt của bạn đọc HS, tác phẩm văn học là một vật thể mờ ảo, đối lập với ý muốn nó trở nên sáng tỏ và dễ hiểu Người tiếp nhận văn bản ở vai trò HS tiếp nhận ngữ liệu trong chương trình Ngữ văn phổ thông là một dạng người đọc thực tế Nếu nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu lịch sử văn học là người tiếp nhận chuyên nghiệp thì HS chỉ là người tiếp nhận thông thường Các em có những đặc trưng riêng về tâm lí, trình độ, khả năng tiếp nhận Kết quả khảo sát ở chương 1 cho thấy, HS chưa thực
sự hứng thú tiếp nhận văn học Nhiều em chỉ đọc những văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT mà các em bắt buộc phải học, phải KTĐG Trong quá trình dạy học,
GV cần định hướng cho các em có một ĐN đúng đắn của người tiếp nhận văn bản: cần có thái độ trân trọng và thận trong đối với di sản văn hoá được sáng tạo đầy gian khổ của con người Những tiếp xúc vội vã, xem nhẹ, bị cưỡng buộc tiếp nhận và định kiến với tác giả, tác phẩm để lòng mình chùng xuống, dửng dửng với bao điều
Trang 15mới lạ trong tác phẩm thì mãi mãi, tác phẩm vẫn giữ nguyên những bí mật của mình Muốn có thuận lợi trong hoạt động tiếp nhận, bạn đọc HS phải có thái độ văn hoá trong ứng xử đầu tiên với tác phẩm
TNST qua điểm nhìn của người tiếp nhận văn bản có thể thực hiện thông qua hai hoạt động:
Một là, kể lại những gì em hình dung, cảm nhận được khi tiếp cận văn bản
Tiếp cận là sự tiếp xúc đầu tiên, là đưa cái nhìn của người đọc vào đối tượng tác phẩm Đó là cách giảm thiểu tầm nhìn trong không gian để tác phẩm sát kề và trở thành đối tác Bằng việc trải nghiệm vai độc giả để đọc truyện ngắn Việt Nam sau
1975, HS có thể phác hoạ bức chân dung bạn đọc tích cực trong hành trình tiếp nhận
văn bản với những hành động cụ thể vừa tuyến tính vừa tổng hợp Chẳng hạn, với
truyện ngắn Muối của rừng, HS nhận ra mình đã huy động và sử dụng tri thức nền
như thế nào ngay khi vừa đọc nhan đề của tác phẩm lên, để dự đoán nội dung câu
chuyện: Vì sao nhan đề lại là Muối của rừng? Muối của rừng là gì, có mối liên hệ
tương đồng nào với muối của biển? HS cũng đã điều chỉnh nội dung dự đoán này ra sao khi từng bước tiến hành hoạt động đọc theo trật tự tuyến tính của văn bản: Thì
ra truyện xoay quanh chuyến đi săn của ông Diểu chứ không nhằm kể câu chuyện nào về muối của rừng như một nhân vật - sự vật chính HS hình dung, tưởng tượng
về từng chặng săn của nhân vật, những hành động cử chỉ của người thợ săn và phản ứng của con mồi trong mỗi chặng săn đó HS hồi hộp không biết cuối cùng ông Diểu
có mang được thành quả của chuyến đi săn về để tự hào với mọi người không? Ông
sẽ trở thành người hùng được thán phục, ngợi ca hay thành kẻ thất bại bị chê cười,
chế giễu? Và đến cuối cùng, HS mới hiểu được nhan đề Muối của rừng thông qua
đoạn kết về hoa tử huyền Những dự đoán, hình dung, tưởng tượng, vỡ lẽ như vậy
đã cung cấp “đầu vào” sống động của những trải nghiệm, là cơ sở để có thể tiến hành phân tích, khái quát hoá, xây dựng bức chân dung về hoạt động của HS trong quá trình tiếp nhận truyện ngắn Việt Nam sau 1975 nói riêng và văn bản văn chương nói chung;
Trang 16cũng là cơ sở để phân tích, xác định các kĩ thuật đọc cần được sử dụng trong quá trình hình thành đó Nếu nói chất liệu của tư duy không phải là suy nghĩ mà là hành động, sự việc, sự kiện và các mối liên hệ của sự việc; thì hoạt động kể lại những gì em hình dung, cảm nhận được khi đọc văn bản trở thành con đường cung cấp chất liệu cho tư duy
Hai là, bộc lộ những chiêm nghiệm, đánh giá của bản thân sau TNST qua điểm nhìn của người tiếp nhận văn bản So với hình thức thứ nhất, đây là hình thức
trải nghiệm sâu hơn qua ĐN của người tiếp nhận văn bản Kết quả trực tiếp của hoạt động thâm nhập văn bản trong hành trình trải nghiệm sáng tạo qua ĐN của người tiếp nhận văn bản trước hết là sự kiến tạo ý nghĩa của chính văn bản đó trong từng
cá nhân bạn đọc HS Cùng với điều này, họ học được cách làm ra sản phẩm Quá trình trải nghiệm vốn diễn ra bên trong người đọc là một hoạt động âm thầm vui buồn, trăn trở, xúc động… cùng con chữ Đọc - trải nghiệm cho mình để rồi trong tiến trình hoạt động dạy học trên lớp, các em lại có cơ hội đọc - trải nghiệm để cộng hưởng chia sẻ cùng các chủ thể tiếp nhận khác Mỗi TNST qua ĐN của từng HS lại đặt ra câu hỏi về cơ cấu hiện thực trong tác phẩm và sự vận động của nó trong quá trình đọc Với truyện ngắn Việt Nam sau 1975, HS cần có sự thiết tha và cố gắng tìm hiểu thì tác phẩm mới biểu lộ giá trị của mình, giống như những viên kim cương chỉ hiện ra trước mắt những người thợ đào đá cần mẫn với cuộc kiếm tìm miệt mài,
nhọc nhằn và đầy quyết tâm Đọc truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy
Thiệp, HS có thể bộc lộ những chiêm nghiệm của bản thân về quan hệ giữa con người và tự nhiên, đánh giá về cách ứng xử của con người hiện đại với tự nhiên để
từ đó rút ra bài học nhân sinh cho mình Những chiêm nghiệm, đánh giá của các em
có thể không hoàn toàn trùng khớp nhau và không nằm trong dự đoán của GV, bởi trải nghiệm của các em với tự nhiên rất đa dạng, ở nhiều góc độ khác nhau Có HS
ở vùng nông thôn, có HS ở thành thị; có HS ở vùng rừng núi, có HS ở đồng bằng;
có HS là con cháu trong gia đình thương binh, liệt sĩ, có HS lại chưa từng tiếp xúc với những người đã từng đi qua cuộc chiến tranh… Hơn nữa, truyện ngắn Việt Nam
Trang 17sau 1975 không phải là đối tượng mới tiếp xúc lần đầu mà đã nhận ra tất cả Điều quan trọng là các em vượt qua giới hạn của môi trường tiếp xúc hàng ngày và giới hạn trải nghiệm thực tế của bản thân để vươn tới lĩnh hội tác phẩm Hành động bộc
lộ kết quả tiếp nhận như vậy cho thầy cô và bạn bè trong lớp vừa giúp HS biết cách trình bày để người khác hiểu, đồng cảm và đối thoại với trải nghiệm của mình; vừa giúp các em hiểu được vị trí của mình trong hoạt động đọc - hiểu văn bản, đó là bạn đọc phát triển, bạn đọc sáng tạo, chủ thể tiếp nhận Với ĐN này, HS có thể nhận thức
rõ và phát huy tính chủ động, tích cực của mình trong quá trình học tập bởi đọc văn thực chất là sự cộng hưởng của cả điều văn bản đem tới và điều HS mang lại cho
văn bản HS có thể lựa chọn cách diễn đạt “Em nhớ đến…” hay “Em nghĩ về…”để
tạo ra sự tiếp nối thú vị, giúp HS tư duy lại điều đã từng được trải nghiệm, hoặc vận dụng để chiêm nghiệm những về những gì đang chứng kiến trong truyện Sẽ có
không ít HS tiếp nhận truyện Muối của rừng sẽ nhớ đến cảnh chia li của những con vật nuôi mình từng chứng kiến, và cũng sẽ có nhiều HS tiếp nhận truyện Mây trắng còn bay bất giác sẽ nghĩ về một hành xử thiếu văn hoá nơi công cộng mình từng bắt gặp HS cũng có thể lựa chọn cách diễn đạt “Em tự hỏi…”, “Em cho rằng…” để lí
giải trải nghiệm, đánh giá từ trải nghiệm Như vậy, TNST qua ĐN của người tiếp nhận văn bản giúp HS tham gia vào quá trình tạo nghĩa cho truyện ngắn và đồng sáng tạo cùng nhà văn
2.2.1.2 Trải nghiệm sáng tạo qua điểm nhìn của nhân vật
Từ ĐN của nhân vật, HS có thể hoá thân vào nhân vật để sống và trải nghiệm một cuộc đời khác trên trang viết Các em hình dung, tưởng tượng ra những cảm xúc vui, buồn của nhân vật; những hành động, cử chỉ của nhân vật, cách cư xử của nhân vật trước những tình huống khác nhau mà nhiều khi tác giả còn bỏ ngỏ trong văn bản Những trải nghiệm đó một mặt làm giàu cho trí tưởng tượng vô cùng của bạn đọc, mặt khác giúp họ lấp đầy những khoảng trống tạo nên sự sáng tạo độc đáo mà nhiều khi vượt ra khỏi những giới hạn suy nghĩ của chính tác giả
Trang 18GV có thể tổ chức cho HS TNST qua ĐN của nhân vật theo hình thức trải nghiệm tái hiện và trải nghiệm suy luận
Trải nghiệm tái hiện là hình thức TNST qua ĐN của nhân vật, trong đó HS
phải tái hiện lại nhân vật trong tác phẩm, có thể thông qua đọc phân vai hoặc đóng vai Trải nghiệm tái hiện giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn vì muốn diễn được,
HS phải đọc kĩ, nắm được các tình tiết, sự kiện và cả diễn biến tâm lí nhân vật trong truyện, thậm chí, nếu có thời gian, các em còn có thể học thuộc lời thoại Bản chất của hình thức này là tổ chức cho HS thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo ĐN của nhân vật, từ đó HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, ĐN của nhân vật, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các
em quan sát được từ vai của mình TNST tái hiện không chỉ tạo hứng thú, hình thành
kĩ năng giao tiếp cho HS, tạo cơ hội cho HS bộc lộ cảm xúc và phát huy năng lực cảm thụ thẩm mĩ, mà còn truyền cảm hứng cho GV khi dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Với truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, HS có thể đóng vai
ông Diểu sau khi từ bỏ con mồi, trả khỉ đực về cho khỉ cái HS sẽ sử dụng hành động
kịch câm (dùng ngôn ngữ cơ thể như ánh mắt buồn bã ngồi nhìn hai con khỉ, hành động đứng lên nhổ bãi nước bọt xuống dưới chân mình, lưỡng lự giây phút rồi vội
vã bỏ đi, rẽ sang môt lối khác…) kết hợp kịch nói (độc thoại nội tâm: Thôi tao phóng sinh cho mày!)
Trải nghiệm suy luận là hình thức TNST qua ĐN của nhân vật, trong đó HS
đặt mình vào vị trí nhân vật để hình dung thái độ, phản ứng, hành động của nhân vật trước các sự việc, tình huống nào đó Về bản chất, hình thức đóng vai này bao hàm cả cái các em đã biết (trong tác phẩm) và cái chưa biết (từ tác phẩm, HS sáng tạo cách ứng xử mới) Thậm chí, có thể cho HS đóng vai giả định - tức là nhìn sự việc theo ĐN của một nhân vật không có trong tác phẩm Dạng thức nêu vấn đề trải nghiệm suy luận là: Nếu em là nhân vật A, em sẽ hành động như thế nào trong hoàn
Trang 19cảnh đó? Vì sao lại thế? Chẳng hạn như với truyện Muối của rừng của Nguyễn Huy
Như vậy, với trải nghiệm suy luận, HS được đặt vào các tình huống có vấn
đề, kích thích sự tìm tòi, giải quyết vấn đề bằng hiểu biết cá nhân Hình thức này thường tạo cho học sinh hứng thú bởi luôn phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo GV có điều kiện để hiểu HS của mình hơn, dễ uốn nắn những kỹ năng xử lý tình huống, phần nào giúp các em định hình được cảm xúc, hành vi của mình trong thực tiễn Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi cả GV và HS phải đầu tư thời gian và tư duy, HS phải thực sự sống cùng nhân vật và truyện ngắn
2.2.1.3 Trải nghiệm sáng tạo qua điểm nhìn của tác giả
Đặt mình vào vị trí của nhà văn, nhìn bằng ĐN của nhà văn, HS được trải nghiệm quá trình sản sinh ra tác phẩm - một quá trình lao động nghệ thuật với nhiều cung bậc cảm xúc, say mê và sáng tạo Qua đó, các em đồng cảm với tác giả về
Trang 20những trang viết, những quyết định quan trọng liên quan đến cuộc đời nhân vật, những xúc cảm nảy sinh TNST qua ĐN của tác giả có thể được tổ chức qua các hình
thức Ghế nóng (đối thoại cùng tác giả), tâm tình cùng bạn đọc, sáng tác cùng nhà văn hoặc đóng vai tác giả
Với hình thức ghế nóng, HS sẽ đóng vai nhà văn và trả lời các câu hỏi, phỏng
vấn của các bạn khác Các câu hỏi có thể xoay quanh quá trình sáng tác nên tác phẩm hoặc đi sâu vào cắt nghĩa giá trị của văn bản Trong vai nhà văn, HS được trải nghiệm cảm xúc của quá trình sản sinh ra một tác phẩm nghệ thuật và thấu hiểu hơn những
trăn trở, sáng tạo của chính họ Đồng thời, qua trải nghiệm ghế nóng, các em cũng
hiểu hơn về tác phẩm
Với hình thức tâm tình cùng bạn đọc, HS nhìn bằng ĐN của nhà văn để trải
nghiệm người viết hoài thai, sinh nở ra tác phẩm và những điều nhà văn gửi gắm, kì vọng vào nó Chẳng hạn, HS có cơ hội trở thành Nguyễn Huy Thiệp trong khi viết lời tâm sự sau:
Với hình thức sáng tác cùng nhà văn, HS có thể viết lại một tình tiết nào đó
trong truyện mà bản thân không đồng tình hoặc mở ra một kết thúc khác, muốn phát
triển tiếp câu chuyện còn dang dở Chẳng hạn, với truyện Muối của rừng của Nguyễn
Huy Thiệp, HS có thể không đồng tình với cách hành xử của ông Diểu khi vô tình dồn con khỉ con đến cái chết Khi đó, HS có thể viết lại theo hướng để cho khỉ con
“Các bạn đọc thân mến của tôi!
Trên tay các bạn là một trong những tác phẩm tôi rất tâm huyết -
truyện ngắn Muối của rừng Với nhân vật ông Diểu, tôi đã trăn trở và
muốn nói cùng bạn biết bao điều…”
Giả định đây là lời tâm sự của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, bằng điểm
nhìn của nhà văn, em hãy viết lời tâm sự trên để phát biểu về những
thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua nhân vật ông Diểu
Trang 21đẩy khẩu súng xuống vực; trong khi ông Diểu ngỡ ngàng tiếc nuối thì nó nhanh chóng lủi trốn đi Kết thúc truyện sẽ là sự đoàn tụ của cả gia đình khỉ chứ không phải
sự chia lìa, mất mát thành viên của chúng Với hình thức đóng vai tác giả, các dạng thức đặt vấn đề là: Nếu em là tác giả, em sẽ (hãy)…; hóa thân vào tác giả, lí giải vì sao lại để cho nhân vật hành động như vậy Chẳng hạn như:
- Hóa thân vào Nguyễn Huy Thiệp, lí giải vì sao lại để ông Diểu phóng sinh cho con khỉ
Để TNST qua các ĐN khác nhau đạt hiệu quả, HS cần kết nối tác phẩm với
bối cảnh lịch sử, xã hội Truyện ngắn Muối của rừng được Nguyễn Huy Thiệp hoàn
thành năm 1986 Những năm 80, 90 của thế kỉ trước, xã hội và con người Việt Nam phải trải qua một cuộc trở dạ đau đớn và lớn lao, phải tự xây dựng lại hình ảnh của chính mình cùng lúc với việc phải tự hình thành từng bước các tiêu chí giá trị mới Đời sống văn hoá tư tưởng cũng có diện mạo và diễn biến khá phức tạp, thậm chí có đôi khi rơi vào khủng hoảng ở một bộ phận nào đó Có khi sự phê phán những hạn chế, bất cập của một thời đã qua được đẩy lên thành sự phủ định sạch trơn, thành thái độ cắt lìa, quay lưng lại với mọi giá trị truyền thống Trong khi đó, không ít người lại rơi vào tình thế lưỡng nan, trở thành những kẻ lạc thời, bảo thủ, không tìm thấy chỗ đứng trong xã hội mới Những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường
và xu thế mở cửa, nhất là tâm lí thực dụng chủ nghĩa, sùng ngoại thái quá, lối sống chạy theo hưởng thụ vật chất mà coi nhẹ các giá trị tinh thần đang chi phối một bộ phận dân cư, nhất là lớp trẻ
2.2.2 Đổi mới hệ thống câu hỏi đọc - hiểu để tiếp cận tác phẩm dưới góc độ của
lí thuyết Điểm nhìn
Dựa vào nội dung phương pháp đọc - hiểu trong dạy học Ngữ văn và tiêu chí của câu hỏi đọc - hiểu có chất lượng, chúng tôi đề xuất thiết kế hệ thống câu hỏi đọc
- hiểu để tiếp cận tác phẩm Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp như sau:
* Câu hỏi trước khi đọc
Trang 22Câu 1: Em hãy chia sẻ những thông tin đã tìm hiểu thêm về tác giả Nguyễn Huy
Thiệp và tác phẩm Muối của rừng
Câu 2: Dựa trên nhan đề, những thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm, em thử đoán xem truyện xoay quanh đề tài, chủ đề gì?
Câu 3: Theo em, ai sẽ là người kể chuyện và truyện được kể theo cách nào? Kết thúc đóng hay mở?
Câu 4: Khi đọc truyện ngắn Muối của rừng, em muốn biết thêm điều gì?
Câu 5: Theo em, những yếu tố quan trọng khi đọc một truyện ngắn là những yếu tố nào?
* Câu hỏi trong khi đọc
Câu 6: Truyện Muối của rừng có những nhân vật nào? Nhân vật nào là nhân vật
chính trong truyện?
Câu 7: Hãy nêu một số sự kiện chính trong truyện Muối của rừng
Câu 8: Cách xây dựng cốt truyện của Nguyễn Huy Thiệp trong tác phẩm này có nét
gì độc đáo?
Câu 9: Trong truyện Muối của rừng, người kể chuyện là ai? Nêu ngắn gọn điểm nhìn
của người kể chuyện
Câu 10: Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật ông Diểu có gì đáng chú ý? Câu 11: Cách nhìn của ông Diểu và khỉ cái, khỉ con với khỉ đực có gì khác nhau? Câu 12: Sự thay đổi cách nhìn của ông Diểu với khỉ đực và khỉ cái theo diễn biến các tình tiết trong truyện có thay đổi không? Nếu có thì thay đổi như thế nào? Câu 13: Kết cấu của truyện ngắn rất đa dạng: kết cấu theo trình tự của thời gian, kết cấu bằng cách đi thẳng vào giữa truyện, kết cấu theo hai tuyến nhân vật, kết cấu tâm
lí, thậm chí có những kiểu kết cấu độc đáo khó gọi tên… Theo em, kết cấu truyện
Muối của rừng có gì đặc sắc?
Câu 14: Tìm những câu văn, đoạn văn miêu tả khung cảnh thiên nhiên của rừng mùa xuân ở ba thời điểm: khi ông Diểu chuẩn bị đi săn; sau khi con khỉ trắng (khỉ con)
Trang 23rơi xuống vực; khi ông Diểu kết thúc chuyến đi săn và trở về nhà Nêu cảm nhận của
em và so sánh khung cảnh thiên nhiên của rừng ở ba thời điểm đó
Câu 15: Chỉ ra những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật ông Diểu Nêu cảm nhận của em về một đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật mà em tâm đắc nhất
Câu 16: Phân tích chi tiết ông Diểu vừa bế vừa đỡ con khỉ tìm đường tụt xuống chân núi
Câu 17: Nhà văn Nga D.Phuốc-ma-tôp khẳng định: “Sức mạnh của cú đấm (nghệ thuât) là thuộc về đoạn cuối” Theo em, cách kết thúc trong truyện ngắn Muối của rừng tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm như thế nào?
Câu 18: Truyện Muối của rừng thể hiện ý nghĩa nhân sinh gì? Ở thời điểm truyện ra
đời và ở thời điểm hiện tại, ý nghĩa nhân sinh đó có giá trị như thế nào?
* Câu hỏi sau khi đọc
Câu 19: Em hãy đánh giá khái quát về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Muối của rừng, so sánh với những điều em phỏng đoán trước đó về tác phẩm và hoàn thiện
những dự đoán của em
Câu 20: Tác phẩm đã giúp em hiểu thêm gì về đời sống tự nhiên?
Câu 21: Suy nghĩ nào của nhân vật ông Diểu khiến cho em đồng cảm và thấy mình
có thể học được ở nhân vật này?
Câu 22: Tác phẩm giúp em nhận thức được điều gì về cách nhìn nhận, ứng xử giữa con người với tự nhiên?
Câu 23: Sau khi học xong tác phẩm Muối của rừng, em có tìm hiểu và tham gia diễn
đàn của Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam Em sẽ bày tỏ quan điểm của mình như thế nào trên diễn đàn?
2.2.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng vận dụng lí thuyết Điểm nhìn nhằm phát triển năng lực người học
Dạng đề thi có tính sáng tạo, đáp ứng được các yêu cầu: bao quát kiến thức, đánh giá được các năng lực diễn đạt, tư duy (ở cả 6 cấp độ), khơi dậy hứng thú tự học, tự nghiên cứu của HS là dạng đề kết hợp giữa TN và TL Chúng tôi đề xuất
Trang 24hệ thống bài tập vận dụng và KTĐG qua văn bản Muối của rừng của Nguyễn Huy
theo mô thức kết hợp này
* Hệ thống câu hỏi TNKQ
Câu 1: Điểm nhìn trong văn bản Muối của rừng là điểm nhìn:
A Bên ngoài B Bên trong C Toàn tri
Câu 2: Trong văn bản Muối của rừng, đối tượng nào khiến ông Diểu thay đổi điểm
nhìn về tự nhiên:
A Khỉ con B Khỉ đực C Khỉ cái D Cả A, B, C
Câu 3: Khi thay đổi điểm nhìn về tự nhiên, ông Diểu gặp được gì?
A Hoa tử huyền B Hoa ban C Hoa mua D Hoa cỏ may Câu 4: Điều ông Diểu gặp được khi thay đổi điểm nhìn về tự nhiên sẽ mang đến:
A Xui xẻo B Người thương C Kẻ thù D May mắn
Câu 5: Xuất phát điểm không gian trong điểm nhìn của ông Diểu về tự nhiên là:
A Trong rừng B Ở Hõm Chết C Ở nhà D Cả A và B
Câu 6: Xuất phát điểm thời gian trong điểm nhìn của ông Diểu về tự nhiên là (chọn tất cả các đáp án đúng):
A Sau Tết Nguyên Đán một tháng B Mùa đông
Câu 7: Xuất phát điểm tâm lí trong điểm nhìn của ông Diểu về tự nhiên là:
A Quan niệm con người hoà hợp với tự nhiên
B Quan niệm con người thống trị tự nhiên
C Quan niệm con người tách biệt hoàn toàn với tự nhiên
D Quan niệm con người là một phần của tự nhiên
Câu 8: Cái chết của con vật nào tác động đến sự thay đổi điểm nhìn của ông Diểu về
tự nhiên:
A Chim xanh B Khỉ đực C Khỉ cái D Khỉ con
Trang 25Câu 9: Trong cách nhìn của ông Diểu về tự nhiên, cảnh từ dưới miệng vực, sương
mù dâng lên cuồn cuộn, trông vừa kinh dị, vừa đầy tử khí là cảnh ở:
A Hõm Chết B Phía núi đá ngược chiều Hõm Chết
C Dưới chân núi D Trên đỉnh núi
Câu 10: Khi đã thay đổi điểm nhìn về tự nhiên, ông Diểu trở về trong trang phục:
A Trần truồng B Nai nịt gọn gàng C Đội mũ lông và dận đôi giày cao
cổ Câu 11: Tìm ở cột bên phải tâm trạng của ông Diểu tương ứng với chi tiết ở cột bên trái:
1 Khỉ đực rúc vào hai lòng tay ông
Diểu, miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp
nghe như tiếng của trẻ con
a Cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm, tựa như bị theo dõi, bị đòi ăn vạ
2 Khỉ cái kiên trì đi theo ông Diểu khi
ông đang bế khỉ đực, bộ ba ấy cứ thế
lầm lũi xuyên rừng
b Rất khó chịu
3 Khỉ đực bị thương nằm vắt ở trên
mỏm đá, không thấy khỉ cái
c Bỗng thấy thương hại
4 Con khỉ run bắn, nó đưa đôi mắt đờ
dại nhìn ông cầu khẩn
d Mừng quá tìm hướng leo lên
5 Con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt
Cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập
thò sau một gốc cây theo dõi
e Buồn bã ngồi nhìn, buồn tê tái đến tận đáy lòng, thấy cay cay sống mũi
Câu 12: Khi đã thay đổi điểm nhìn về tự nhiên, ông Diểu cảm nhận thế nào về mưa xuân?
A Mỏng và mịn B Dịu dàng nhưng rất mau hạt
Câu 13: Khi đã thay đổi điểm nhìn về tự nhiên, ông Diểu trở về bằng cách nào?
Trang 26A Đi về theo con đường cũ B Rẽ sang một lối đi khác
Câu 14: Cảm nhận của em về nhân vật ông Diểu trong truyện Muối của rừng của
Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ của lí thuyết Điểm nhìn
Câu 15: Phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật ông Diểu trong truyện Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ của lí thuyết Điểm nhìn
Câu 16: Có ý kiến cho rằng chuyến đi săn của ông Diểu thất bại, lại có ý kiến cho rmằng chuyến đi săn của ông Diểu thành công Em có suy nghĩ gì về hai ý kiến trên?
nhân về lựa chọn của mình
Câu 19: Hãy viết một đoạn văn (12 - 15 câu) nêu quan điểm của em về việc con người cần sống hoà hợp với tự nhiên và bảo vệ tự nhiên
Trang 27Câu 20: Phân tích ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật ông Diểu gắn với việc
thể hiện điểm nhìn trong truyện Muối của rừng
Câu 21: Truyện Muối của rừng kết thúc thế nào? Phân tích ý nghĩa của kết thúc đó
trong mối quan hệ với điểm nhìn của ông Diểu
Gợi ý phương án trả lời một số câu TL:
Câu hỏi
Câu 14 Phần thân bài cần đảm bảo các ý sau về nhân vật ông Diểu:
1 Trước hết, ông Diểu được khắc hoạ là một tay săn thú rừng mang điểm nhìn con người thống trị tự nhiên nhưng lại bị tự nhiên làm cho thay đổi điểm nhìn:
- Sở thích: đi săn
- Tác phong đi săn:
+ Chuẩn bị hành trang cẩn thận (nai nịt, mặc quần áo ấm, dận đôi giày cao cổ, mang theo cả nắm xôi nếp)
+ Có kinh nghiệm săn: có khả năng phán đoán, tính toán, ước lượng về con mồi; giữ im lặng chờ con mồi; biết cách tiếp cận và bắn con mồi, thận trọng
- Những điều ông không lường trước trong chuyến đi săn lần này khiến ông thay đổi điểm nhìn về tự nhiên:
+ Ông coi con khỉ đực là con mồi và quyết tâm săn nó, nhưng con khỉ cái và khỉ con lại coi khỉ đực là gia đình và không bỏ mặc
+ Ông mất hết mọi thứ mình đã chuẩn bị kĩ càng: súng săn, quần áo và giầy, đồ ăn
+ Gặp Hõm Chết, chứng kiến cảnh núi lở
Trang 282 Nhân vật ông Diểu được xây dựng với diễn biến tâm lí phức tạp gắn với sự thay đổi điểm nhìn:
- Phân tích diễn biến tâm lí của ông Diểu - một người thợ săn theo trình tự:
+ Háo hức đi săn
+ Sợ hãi run lên khi bắn khỉ đực
+ Bực mình vì bị đôi khỉ trêu ngươi dẫn đến việc ông dồn khỉ con rơi xuống vực
+ Kinh hoàng khi ở Hõm Chết
+ Mừng quá tìm hướng leo lên mỏm đá khỉ đực bị thương nằm
- Khi mất súng săn và trong ngoại hình “trần truồng”, ông Diểu là một người bình thường, với trái tim của con người:
+ Thương hại khi khỉ đực run bắn, nó đưa đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn
+ Rất khó chịu khi khỉ đực co rúm người lại, nghiêng đôi mắt ươn ướt nhìn ông và rúc vào hai lòng tay ông, miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp nghe như tiếng của trẻ con sau khi được ông nhai cỏ Lào đắp vào vết thương
+ Dùng phép thắng lợi tinh thần để tự an ủi bản thân (Hỏi ai bắn được con khỉ thế này? ), biện hộ cho sự nồng nỗng của mình nếu trên đường
Trang 29+ Buồn bã ngồi nhìn, buồn tê tái đến tận đáy lòng, thấy cay cay sống mũi khi con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt; cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập thò sau một gốc cây theo dõi
+ Sững sờ khi gặp hoa tử huyền - muối của rừng
+ Trần truồng, cô đơn trở về
Diễn biến tâm lí được khắc hoạ cụ thể, với nhiều cảm xúc trái ngược đan xen, giằng xé Đó cũng là hành trình con người thoát bỏ những ham muốn tầm thường, định kiến hạn hẹp, cái tôi ích kỉ để vươn đến sự thanh thoát, bình yên trong tâm hồn với tình thương yêu bình dị dành cho các sinh vật nhỏ bé, yếu thế; từ đó có thể hoà hợp với tự nhiên
Câu 15 Phần thân bài cần đảm bảo các ý như trong mục 2 gợi ý phương án trả
lời câu 21
Câu 16 1 Hai ý kiến đưa ra có cơ sở khác nhau:
- Ý kiến cho rằng chuyến đi săn của ông Diểu thất bại: vì ông không mang được con mồi nào trở về, thậm chí còn mất hết súng săn và “trần truồng”
- Ý kiến cho rằng chuyến đi săn của ông Diểu thành công: vì ông đã thoát bỏ được những ham muốn tầm thường, định kiến hạn hẹp, cái tôi ích kỉ để vươn đến sự thanh thoát, bình yên trong tâm hồn với tình thương yêu bình dị dành cho các sinh vật nhỏ bé, yếu thế; từ đó có thể hoà hợp với tự nhiên
2 HS cần trình bày được quan điểm cá nhân, đồng ý hay không đồng ý với hai ý kiến trên và giải thích lựa chọn của mình
Câu 17 Phân tích sự thay đổi cách nhìn của ông Diểu với tự nhiên qua các chi
tiết:
Trang 301 Như nhiều người khác, ông coi mình là kẻ mạnh, đứng trên tự nhiên, chiếm hữu tự nhiên
- Trong nhận thức của ông, đi săn không phải là tàn phá tự nhiên mà là
một thú vui, một cách chứng tỏ bản lĩnh của con người, của kẻ mạnh
- Việc ăn các loài vật trong rừng với ông là một sự thưởng thức, và ông
- Khi tiếp cận đàn khỉ và xác định con mồi là khỉ đực, ông Diểu đã có
suy nghĩ: Thiên nhiên đã dành cho ông chứ không ai khác chính con khỉ
ấy Với ông, việc săn nó là điều hiển nhiên
- Ông luôn tự cho mình có quyền chiếm hữu thiên nhiên nhưng vẫn thận trọng trước tự nhiên rộng lớn, đầy rẫy bất ngờ
- Cho rằng các hiện tượng trong đời sống tự nhiên chỉ toàn điều xấu (thể hiện qua cách đánh giá của ông về con đầu đàn, khỉ đực, khỉ cái), con người như ông đang thực thi công lí thay cho tự nhiên
2 Cách nhìn của ông Diểu về tự nhiên có sự thay đổi trong quá trình săn khỉ
- Sâu thẳm trong con người ông vẫn mang tình yêu thương với động vật nên khi bóp cò, ông tự nhận thấy việc ông gây ra là điều ác, gây chia rẽ, mất mát cho gia đình khỉ chứ không phải sự thực thi công lí cho tự nhiên
- Tuy nhiên, lòng tự tôn của người cho rằng mình ở vị thế trên, có quyền
chiếm hữu thiên nhiên khiến ông căm ghét hành động hi sinh thân mình
Trang 31của con khỉ cái Ném mạnh khẩu súng văng về phía trước, ông mong muốn con vật hoảng sợ buông mồi Đây lại là một cách nhìn sai về
tự nhiên Với ông, khỉ đực là con mồi nhưng với khỉ cái, khỉ đực là gia đình, là chỗ dựa, là gắn bó, là yêu thương Ông không nhìn ra sự cố chấp đầy nhân bản của gia đình khỉ, từ khỉ cái đến khỉ con Trong mắt ông, khỉ đực vẫn đơn thuần chỉ là một con thú rừng nên ông vẫn chưa dừng
ý định săn mồi lại
- Sự chuyển biến cách nhìn của ông với con khỉ bắt đầu khi khỉ đực đau đớn vì vết thương Ông coi nó như một sinh vật có sự sống, có linh hồn, nên đã nhai cỏ Lào đắp vào miệng vết thương cho nó Ông cảm nhận
được sự cảm kích trong đôi mắt ươn ướt con khỉ nhìn ông Thậm chí,
ông đã cởi chiếc quần lót - trang phục cuối cùng trên người để băng vết thương cho nó Đó là hành động xuất phát từ một trái tim biết yêu thương Ông nhìn ra sự nguy hiểm của địa thế núi non nhưng vẫn không
bỏ mặc con khỉ mà còn bế nó tìm đường đi xuống
- Ông thấy là lạ khi con khỉ cái vẫn lẽo đẽo đằng sau ông từ trên núi
Ông nhặt đất đá đuổi thì nó chạy đi nhưng vẫn lẵng nhẵng bám theo
Ông phải công nhận nó thật kiên trì Trước tình cảnh của hai con khỉ, ông vỡ lẽ hoá ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề Lúc này, ông đã hoàn toàn nhìn nhận chúng là một gia đình
với sự gắn kết không dễ gì chối bỏ
- Sự thay đổi cách nhìn của ông Diểu về tự nhiên còn thể hiện ở sự chuyển biến của khung cảnh rừng núi: khi ở Hõm Chết, thiên nhiên tức
giận, đau đớn bao nhiêu thì ở phía núi đá ngược chiều, bầu trời quang đãng không hề vướng gợn sương mù, tất cả cảnh vật lộ rõ từng đường nét Khi ông Diểu buông bỏ ý định săn mồi, phóng sinh cho khỉ đực thì
Trang 32rừng kết muối, báo điềm lành đất nước thanh bình, mùa màng phong túc Chỉ cần con người không xâm phạm, gây hại tự nhiên thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp nhất từ tự nhiên
Câu 18 1 Giải thích suy nghĩ của ông Diểu: “Thiên nhiên đã dành cho ông chứ
không ai khác chính con khỉ ấy”
- Ông Diểu đã dụng công ẩn nấp, chờ con mồi và khéo léo tính toán, đợi thời cơ hạ nó bằng súng săn Vì vậy, ông xứng đáng được hưởng thành quả của một tay săn lão luyện
- Với ông, việc săn các loài vật trong rừng là điều hiển nhiên, vì con người sinh ra đã có vị trí đứng trên tự nhiên, phải làm chủ tự nhiên, khống chế tự nhiên và khai thác tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ nhu cầu của mình
2 Khẳng định suy nghĩ của ông Diểu là đúng hay sai
3 Trình bày quan điểm cá nhân về lựa chọn của mình
- Vì sao em lựa chọn suy nghĩ đó là đúng hay sai
- Em đề xuất cách ứng xử của con người với tự nhiên như thế nào? Câu 19 1 Đảm bảo hình thức của một đoạn văn nghị luận, đúng dung lượng từ
12 đến 15 câu
2 Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: con người cần sống hoà hợp với
tự nhiên và bảo vệ tự nhiên
3 Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn theo định hướng sau:
- Giải thích:
+ Giải thích từ ngữ: con người, tự nhiên, sống hoà hợp, bảo vệ
+ Giải thích ý nghĩa của nhận định
- Bàn luận:
Trang 33+ Trước nay, con người vẫn mang tư tưởng mình đứng trên tự nhiên, tự nhiên là dành cho con người, để phục vụ nhu cầu cho con người (dẫn chứng)
+ Vấn đề đặt ra hoàn toàn đúng vì những lí do nào (nêu lí lẽ cụ thể và dẫn chứng minh hoạ)
- Kiểm tra tính khả thi của sáng kiến, đánh giá được hiệu quả của việc vận
dụng lí thuyết ĐN vào dạy học truyện ngắn Muối của rừng
- Điều chỉnh, bổ sung các biện pháp áp dụng trong dạy học Ngữ văn sao cho đạt hiệu quả và hoàn thiện hơn
2.3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm
Quá trình thực nghiệm phải đảm bảo đạt được một số yêu cầu sau:
Trang 34- Đảm bảo tính khoa học, chính xác trong quá trình giảng dạy cũng như KTĐG
- Phải có được sự tích cực tham gia từ phía người dạy và người học; chú trọng đến phát triển năng lực cơ bản, nhấn mạnh đến năng lực đặc thù của môn Ngữ văn
là năng lực văn học
2.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Tống Văn Trân - Nam Định Dựa vào khảo sát và phân loại HS, chúng tôi chọn hai lớp thực nghiệm và hai lớp đối chứng:
Chúng tôi lựa chọn hai giáo án: một là giáo án thực nghiệm dạy học truyện
ngắn Muối của rừng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong chương trình Ngữ văn
THPT 2018 theo hướng vận dụng lí thuyết ĐN cho HS lớp thực nghiệm, hai là giáo
án thường sử dụng để dạy lớp đối chứng (xem Phụ lục 3)
Trang 35- Phân tích được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật và
mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm Muối của rừng, nhận xét
được những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản
- Phân tích đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà tác phẩm Muối của rừng muốn hướng đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản
- Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của Nam Cao được thể hiện qua văn bản, phát hiện được những các giá trị văn hóa, triết lí nhân
sinh từ tác phẩm Muối của rừng
* Về đọc hiểu nghệ thuật:
- Nhận biết và phân tích được một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ văn học,
phân tích được tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm Muối của rừng
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của tác phẩm: không gian, thời gian, câu chuyện, nhân vật, NKC ngôi thứ ba và NKC ngôi thứ nhất, sự thay đổi ĐN, sự nối kết giữa lời NKC, lời nhân vật
* Về liên hệ, so sánh, kết nối:
- So sánh được văn bản văn học viết cùng đề tài ở các giai đoạn khác nhau của tác giả Nguyễn Huy Thiệp, liên tưởng mở rộng vấn đề để hiểu sâu hơn tác phẩm được học
- Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống và hiểu biết về lịch
sử văn học Việt Nam để nhận xét, đánh giá tác phẩm Muối của rừng
- Phân tích được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm trong việc làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức, đánh giá cá nhân đối với văn học
và cuộc sống
* Về đọc mở rộng: có thể đọc các tác phẩm khác của Nguyễn Huy Thiệp và các
tác phẩm của các tác giả khác cùng thể loại và độ dài tương đương với tác phẩm Muối của rừng
B CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
Trang 361 Giáo viên
Văn bản tác phẩm Muối của rừng; giáo án giảng dạy; tư liệu, tranh ảnh về
Nguyễn Huy Thiệp, về núi rừng và các muông thú ở rừng núi; phiếu học tập
2 Học sinh
- Trước khi đến lớp, HS đọc kĩ văn bản và soạn bài theo hệ thống câu hỏi bài tập mà GV đưa ra; hoàn thiện phiếu học tập số 1, 2, 3; đồng thời tìm hiểu các tác
phẩm khác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ngoài tác phẩm Muối của rừng
- Trên lớp, HS tiến hành các hoạt động học dưới hình thức làm việc cá nhân
và nhóm
- Sau giờ học, HS tiếp tục củng cố và làm các bài tập mở rộng theo hướng dẫn của GV
Phiếu học tập 1 Tìm hiểu thể loại
Từ các văn bản truyện đã học kết hợp với việc tìm đọc các tài liệu trên mạng hoặc sách báo về thể loại truyện hãy hoàn thành phiếu học tập số 1 như sau [28, tr.57]:
Trang 37b Nêu một số điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
……….………
……….………
Phiếu học tập 3 Tìm hiểu tác phẩm
Đọc văn bản Muối của rừng và thực hiện các yêu cầu dưới đây:
a Chỉ ra và phân tích ĐN trong truyện
………
……….………
b Xác định tình huống truyện
……… ……… …
Trang 38……….………
c Tóm tắt truyện bằng lược đồ tư duy sau đó viết thành đoạn văn hoàn chỉnh khoảng từ 10 - 15 câu
……….………
d Hệ thống hóa các nhân vật trong truyện và chỉ ra nhân vật chính
……….………
C TỔ CHỨC DẠY HỌC
Yêu cầu cần đạt Hoạt động của GV và HS
HOẠT ĐỘNG TRƯỚC KHI ĐỌC HOẠT ĐỘNG TẠO TÂM
THẾ ĐỌC (KHỞI ĐỘNG)
- HS hứng thú và có động lực
học tập
- GV trình chiếu bốn tác phẩm hội họa, băng
hình và nghệ thuật bài trí của các tác giả, nhóm tác giả Việt Nam và Hàn Quốc trong
triển lãm Muối của rừng do Bảo tàng Phụ nữ
Việt Nam và CUC Galery phối hợp tổ chức
vào tháng 7 năm 2018 (xem Phụ lục 6) Vậy
vì sao triển lãm lại lấy tên Muối của rừng -
trùng tên một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp? Em hãy nhìn các bức tranh, băng hình và nghệ thuật sắp đặt được trình chiếu để suy đoán lí do
Trang 39* Kết quả dự kiến: HS đưa ra các bình luận,
phán đoán khác nhau
- GV không kết luận về các bình luận của HS
mà chỉ nêu vấn đề: Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng nói về truyện ngắn của mình rằng:
“Muối của rừng là cuộc đi săn tìm lẽ sống, lẽ đời Nó là cuộc đi săn tìm danh vọng và lợi lộc Tất cả đều trò khỉ Cuộc sống là những trò khỉ Cuối cùng mình trần thân trụi cả, tất
cả đều về với cát bụi ”
Các em quan sát các tác phẩm nghệ thuật trên
có thể hình dung ra các nội dung, ý nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại, đó đều là những “cuộc đi săn” của các nghệ sĩ về những điều tốt đẹp dường như đang ngày càng hiếm hoi trong những đổi thay không ngừng của xã hội Các tác giả tham gia triển lãm đã bày tỏ mối quan tâm của mình đến đời sống xung quanh, đến tự nhiên, đặc biệt là truyền thống, văn hóa lịch sử bằng một loại hình nghệ thuật đặc thù
- GV trình chiếu hình ảnh chương trình Cuốn sách truyền cảm hứng số thứ 5 với chủ đề
NGUYỄN HUY THIỆP và truyện ngắn
MUỐI CỦA RỪNG (Đọc và thảo luận về
truyện ngắn Muối của rừng của nhà văn
Trang 40Nguyễn Huy Thiệp) tổ chức vào tháng 4 năm
2021 tại Thư viện Cà Phê Thứ Bảy Trẻ - TP
Hồ Chí Minh (xem Phụ lục 6) GV cung cấp thông tin về chương trình: Khách mời là nhà báo Nguyễn Trọng Chức - nguyên Thư ký toà soạn tuần báo Tuổi trẻ Chủ nhật và tạp chí
Mỹ thuật TP.HCM, trưởng ngành lý luận - phê bình Hội Mỹ thuật TP.HCM Ông cũng
là một người bạn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Dẫn chương trình là nhà báo Thủy Phạm - Thu Dung Sau khi đọc lại áng văn
MƯỢT và DỮ (chữ dùng của Nguyên Ngọc
để nói về truyện ngắn Muối của rừng) của
nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, chương trình xoay quanh hai nội dung:
+ Chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ của bạn
sau khi đọc Muối của rừng
+ Cùng khách mời - một người bạn và cũng
là một người đọc của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp lý giải cho câu hỏi: Điều gì đã làm nên sức sống của một truyện ngắn sau 35 năm kể
từ ngày ra mắt? Điều gì đã làm nên dấu ấn của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trên văn đàn Việt Nam đương đại?