Sự kết hợp của các muối kiềm làm cho mì có giá trị pH dao động từ khoảng 9 đến 11 tùythuộc vào muối được sử dụng và cường độ ion của chúng Miskelly, 1996.. có các nhóm hydroxyl trong phâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM
BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN LƯƠNG
Trang 2ĐIỂM SỐ
TIÊU CHÍ N I DUNGỘ B C CỐ Ụ TRÌNH BÀY T NGỔ
NHẬN XÉT CỦA GVHD
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2022
Ký Tên
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
NHÓM THỰC HIỆN SINH VIÊN
Trang 4Mục lục
BÀI 1: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MÌ SỢI
1 Tổng quan
1.1 Nguồn gốc
1.2 Phân loại
1.2.1 Mì muối thường
1.2.2 Mì muối kiềm
1.2.3 Phân loại dựa vào phương pháp chế biến:
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nguyên liệu
2.1.1 Bột mì
2.1.2 Trứng
2.1.3 Muối ăn
2.1.4 STPP
2.1.5 Muối Kansui
2.1.6 CMC
2.1.7 Nước
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quy trình sản xuất
2.3 Công thức phối trộn 10
2.3.1 Cân nguyên liệu 11
2.3.2 Trộn khô 11
2.3.3 Nhào bột 11
2.3.4 Ủ lạnh 12
2.3.5 Cán bột 13
2.3.6 Cắt sợi 14
3 Các phương pháp nghiên cứu 15
3.1 Xác định thời gian nấu của sợi mì 15
3.2 Xác định khả năng hút nước 15
4 Kết quả thí nghiệm và bàn luận 15
Trang 54.1 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu đến thời gian nấu của sợi mì
tươi 16
4.1.1 Kết quả 16
4.1.2 Nhận xét và bàn luận 17
4.2 Kết quả 19
4.3 Nhận xét và bàn luận 21
5 Kết luận chung 22
BÀI 2: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BÁNH CANH 24
1 Tổng quan 24
1.1 Tổng quan về sản phẩm 24
1.1.1 Định nghĩa 24
1.1.2 Phân loại 24
1.1.3 Khuynh hướng phát triển của sản phẩm bánh canh 26
1.2 Tổng quan về nguyên liệu 27
1.2.1 Bột gạo 27
1.2.2 Bột năng 27
1.2.3 Muối 27
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 28
2.1 Nguyên liệu 28
2.1.1 Bột gạo 28
2.1.2 Bột năng 29
2.1.3 Muối 29
2.1.4 Sodium tripolyphosphate (STPP) 29
2.1.5 Xanthan gum 30
2.1.6 Nước 31
2.1.7 Mè đen 31
2.1.8 Ớt chuông 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Quy trình công nghệ 32
2.2.2 Thuyết minh quy trình 33
3 Phương pháp phân tích 36
Trang 63.1 Xác nhận các chất lượng nấu của bánh canh 36
3.1.1 Thời gian nấu chín của bánh canh (phút) 36
3.1.2 Khả năng hấp thụ nước của bánh canh (%) 36
3.1.3 Xác định độ thoái hoá của sợi bánh canh 36
3.1.4 Phương pháp xử lý thống kê 37
4 Kết quả và bàn luận 37
4.1 Ảnh hưởng tỷ lệ của phụ gia và bột năng đến thời gian nấu của bánh canh 37
4.2 Ảnh hưởng tỷ lệ phụ gia và bột năng đến khả năng hút nước của bánh canh 40
4.3 Ảnh hưởng tỷ lệ của phụ gia và bột năng đến độ thoái hoá của sợi bánh canh 44
5 Kết luận chung 47
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
BÀI 3: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PASTA (12 TIẾT) 51
1 Tổng quan về nguyên liệu 51
1.1 Giới thiệu về pasta 51
1.2 Lịch sử 51
1.3 Phân loại 52
1.3.1 Trạng thái 52
1.3.2 Hình dạng 52
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 56
2.1 Nguyên liệu 56
2.1.1 Bột mì Semolina 56
2.1.2 Bột mì số 13 57
2.1.3 Trứng 58
2.1.4 Muối 58
2.1.5 Nước 58
2.2 Phương pháp nghiên cứu 59
2.2.1 Quy trình thực hiện 59
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 61
3 Kết quả và bàn luận 62
3.1 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu đến độ hút nước của các mẫu .62
Trang 73.1.1 Xử lí số liệu 62
3.1.2 Nhận xét và bàn luận 64
3.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn các loại bột đến độ ẩm của pasta 64
3.2.1 Xử lí số liệu 65
3.2.2 Nhận xét và bàn luận 66
4 Kết luận chung 66
5 Tài liệu tham khảo 67
BÀI 4 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BÁNH ƯỚT TAM SẮC 69
1 Tổng quan 69
1.1 Tổng quan về sản phẩm mới 69
1.2 Tổng quan về nguyên liệu 69
1.2.1 Bột gạo 69
1.2.2 Bột năng 70
1.2.3 Rau cải bó xôi 70
1.2.4 Ớt chuông 71
1.2.5 Tôm khô 72
1.2.6 STPP 73
1.2.7 Muối 74
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 74
2.1 Nguyên liệu 74
2.2 Phương pháp nghiên cứu 76
2.2.1 Quy trình 76
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 80
3 Kết quả và bàn luận 80
3.1 Đánh giá về mặt cảm quan 80
3.2 Giá trị dinh dưỡng của sản phẩm 82
3.3 Nhận xét về ưu, nhược điểm của sả phẩm 82
3.3.1 Ưu điểm 82
3.3.2 Nhược điểm 82
4 Kết luận chung 82
5 Tài liệu tham khảo 83
Trang 8Danh mục hình
Hình 2.1 Bột mì meizan 7
Hình 2.2 Công thức cấu tạo STPP
Hình 2.3: Công thức cấu tạo CMC
Hình 2.4 Cân khối lượng STPP 11
Hình 2.5 Cân khối lượng CMC 11
Hình 2.6 Khối bột nhào thành phẩm 12
Hình 2.7 Khối bột được bọc màng lại 13
Hình 2.8 Khối bột nhào sau 1 tiếng ủ lạnh 13
Hình 2.9 Cán bột 14
Hình 2.10 Cắt sợi 14
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện thời gian nấu (s) của các mẫu mì sợi 18
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện độ hút nước của các mẫu mì sợi 21
Hình 1.1 Sợi bánh canh 24
Hình 1.2 Các loại bánh canh trên thị trường 24
Hình 1.3 Bánh canh bột gạo 25
Hình 1.4 Bánh canh bột lọc 25
Hình 1.5 Bánh canh bột xắt 26
Hình 1.6 Bánh canh ép đùn 26
Hình 2.1 Bột gạo Takyfood 28
Hình 2.2 Bột năng Takyfood 29
Hình 2.3 Công thức cấu tạo của sodium tripolyphosphate (STPP) 30
Hình 2.4 Công thức hoá học của Xanthan gum 30
Hình 2.5 Mè đen 31
Hình 2.6 Ớt chuông đỏ 32
Hình 2.7 Quy trình công nghệ sản xuất bánh canh 33
Hình 2.8 Phối trộn các nguyên liệu 34
Hình 2.8 Hồ hoá khối bột 35
Hình 2.9 Sợi bánh canh thành phẩm 36
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện thời gian nấu (s) của các mẫu bánh canh 39
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện khả năng hút nước (%) của các mẫu bánh canh 43
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện độ thoái hoá (%) của các mẫu bánh canh 46
Hình 1.1 Các hình dạng Strand pasta 53
Hình 1.2 Các hình dạng của Tubes pasta 54
Hình 1.3 Các hình dạng của Ribbon pasta 54
Hình 1.4 Các hình dạng của Soup pasta 55
Hình 1.5 Các hình dạng của Stuffed pasta 56
Hình 1.6 Các hình dạng của shaped pasta 56
Trang 9Hình 2.1 Bột semola 57
Hình 2.2 Bột mì số 13 58
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình sản xuất pasta 59
Hình 2.4 Máy nhào trộn và ép đùn pasta 61
Hình 2.5 Sản phẩm sau cắt, tạo hình 61
Hình 1.1 Cải bó xôi 70
Hình 1.2 Ớt chuông 72
Hình 1.3 Tôm khô 73
Hình 1.4 Cấu trúc hóa học STPP 73
Hình 4.5 bột gạo Tài Ký 74
Hình 4.6 Bột năng Tài Ký 75
Hình 2.2 Quy trình xử lý ớt chuông và cải bó xôi 78
Hình 4.7 Lắp khuôn tráng bánh 79
Hình 4.8 Bánh ướt thành phẩm 80
Hình 4.9 Bao bì sản phẩm 80
Danh mục bảng Bảng 4.1 Thời gian nấu (giây) của các mẫu mì sợi 16
Bảng 4.3 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về thời gian nấu của mì sợi ( Test of Homogeneity of Variances ) 17
Bảng 4.4 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa thời gian nấu của các mẫu mì sợi 17
Bảng 4.5 Thời gian nấu trung bình giữa các mẫu mì sợi (giây) 17
Bảng 4.6 Độ hút nước của các mẫu mì (%) 19
Bảng 4.7 Kết quả xử lý số liệu độ hút nước của các mẫu mì sợi trong phần mềm SPSS 20
Bảng 4.8 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về độ hút nước của mì sợi ( Test of Homogeneity of Variances ) 20
Bảng 4.9 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa độ hút nước của các mẫu mì sợi 20
Bảng 4.10 Độ hút nước trung bình giữa các mẫu mì sợi (giây) 21
Bảng 2.1: Bảng thành phần các nguyên liệu 33
Bảng 4.1: Thời gian nấu (giây) của các mẫu bánh canh 37
Bảng 4.2 Kết quả xử lý số liệu thời gian nấu (giây) của bánh canh trên SPSS 37
Bảng 4.3 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về thời gian nấu bánh canh ( Test of Homogeneity of Variances ) 38
Bảng 4.4 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa thời gian nấu của các mẫu bánh canh 38
Bảng 4.5 Thời gian nấu trung bình giữa các mẫu bánh canh (giây) 38
Bảng 4.6 Độ hút nước (%) của các mẫu bánh canh 40
Bảng 4.7 Kết quả xử lý số liệu độ hút nước ( %) của mẫu bánh canh trên SPSS 41
Bảng 4.8 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về khả năng hút nước của bánh canh ( Test of Homogeneity of Variances ) 41
Bảng 4.9 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa khả năng hút nước của các mẫu bánh canh 41
Bảng 4.10 Khả năng hút nước trung bình giữa các mẫu bánh canh (%) 42
Trang 10Bảng 4.11 Độ thoái hóa (%) của mẫu bánh canh 44
Bảng 4.12 Kết quả xử lý số liệu độ thoái hoá ( %) sau 3 giờ của mẫu bánh canh trên SPSS 45
Bảng 4.13 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về độ thoái hoá của bánh canh ( Test of Homogeneity of Variances ) 45
Bảng 4.14 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa độ thoái hoá của các mẫu bánh canh 45
Bảng 4.15 Độ thoái hoá trung bình giữa các mẫu bánh canh (%) 46
Bảng 2.1 Bảng thành phần các nguyên liệu 60
Bảng 3.1 Khối lượng trước khi luộc (G1), sau khi luộc (G2), và độ hút nước (X1) của từng mẫu pasta 63
Bảng 3.2 Kết quả xử lý số liệu độ hút nước (%) của pasta trên phần mềm SPSS 63
Bảng 3.3 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về độ hút nước của pasta 63
Bảng 3.4 Kết quả độ hút nước của các mẫu pasta 63
Bảng 3.5 Khảo sát của ảnh hưởng tỉ lệ phối trộn các loại bột đến độ ẩm của pasta 65
Bảng 3.6 Kết quả xử lý số liệu độ ẩm (%) của pasta trên phần mềm SPSS 65
Bảng 3.7 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai về độ ẩm của pasta 66
Bảng 3.8 Kết quả độ ẩm của các mẫu pasta 66
Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng in trên bao bì 74
Bảng 1.2 Chỉ tiêu chất lượng của bột gạo Tài Ký 75
Bảng 1.3 Giá trị dinh dưỡng của bột năng Tài Ký: 75
Bảng 1.4 Chỉ tiêu chất lượng của bột năng Tài Ký 76
Bảng 1.5 Công thức phối trộn nguyên liệu 78
Bảng 3.6 bảng chỉ tiêu đánh giá cảm quan bánh ướt 81
Trang 11BÀI 1: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MÌ SỢI
1 Tổng quan
1.1 Nguồn gốc
Một trong những nền văn hóa phương Đông nổi bật nhất là việc tiêu thụ gạo, mì và bánh
mì hấp vì món mì sợi hàng ngày khác nhau về nguyên liệu và phương pháp chế biến Các sảnphẩm mì thường được làm từ bột mì mịn thông thường bằng quy trình tạo tấm và cắt so với cácsản phẩm mì ống, được chế biến từ bột báng thô xay từ lúa mì cứng bằng cách ép đùn Ai đã phátminh ra mì đang là một chủ đề tranh cãi sôi nổi – với người Trung Quốc, người Ý và người ẢRập đều có những ý kiến riêng Nhưng khám phá của Lu et al (2005) về một chiếc nồi trángmỏng được bảo quản trong 4000 năm ở khe sông Hoàng Hà có thể đã nghiêng về phía TrungQuốc Nó cho thấy rằng mọi người đã ăn mì sớm hơn ít nhất 1000 năm so với suy nghĩ của ngườitrước, và nhiều thế kỷ trước khi những món ăn như vậy được ghi nhận ở châu Âu Sợi mì mỏng,màu vàng, dài khoảng 50 cm và giống với La-Mian, một loại mì truyền thống của Trung Quốc,được làm bằng cách nghiền lúa mì để tạo thành bột và sau đó liên tục kéo và kéo bột bằng tay.Các tài liệu ban đầu của Trung Quốc cho rằng Shui Bing (loại thực phẩm dạng miếng bộtnhào dùng trong súp) đã được tiêu thụ cách đây hơn 2000 năm ở đất nước này Tang Bing (phởnóng) vào mùa đông và Lian Mian (phở lạnh) vào mùa hè phổ biến vào đầu triều đại nhà Đường(618–906 sau Công nguyên) Người Trung Quốc bắt đầu sử dụng đũa để phục vụ sợi mì dài vàotriều đại nhà Tống (960–1279 sau Công Nguyên) Công nghệ làm mì thủ công đã được phát triểnmạnh mẽ vào triều đại nhà Nguyên (1279–1368 sau Công Nguyên) Các cửa hàng mì có thể bánnhiều loại mì với hình dạng, kích thước khác nhau và hương vị địa phương đặc biệt, bao gồmmột số sợi mì rất mỏng được kéo dài bằng tay Nhiều loại mì trên thị trường ngày nay đã pháttriển từ các sản phẩm được phát triển vào thời điểm đó (Miskelly, 1993)
Mì làm thủ công của Trung Quốc và công nghệ chế biến của nó đã du nhập vào Nhật Bảnkhoảng 1200 năm trước (Nagao, 1996) Bốn loại mì muối phổ biến ở Nhật Bản (So-men, Hiya-mugi, Udon và Hira-men) được phát triển dựa trên kỹ thuật chế biến mì thủ công của TrungQuốc đã được cải tiến để đáp ứng thị hiếu của người dân địa phương Việc sản xuất mì đượcngười Nhật cách mạng hóa với sự phát triển của máy móc chạy bằng năng lượng vào năm 1884.Vào đầu thế kỷ 20, mì muối kiềm đã được những người Hoa di cư ở thành phố Yokahama dầndần phổ biến khắp Nhật Bản Mì ăn liền đầu tiên, được gọi là mì gà ramen, được sản xuất bởi
Trang 12Nissin Foods của Nhật Bản vào năm 1958 Mì ăn liền trở thành một thực phẩm chính thống ngaylập tức và người tiêu dùng của họ không chỉ ở châu Á mà trên toàn thế giới.
Phần lớn mì ngày nay được sản xuất bằng máy Mặc dù quy trình thực tế để sản xuất mộtloại noo dle cụ thể có thể khác nhau giữa các quốc gia để đáp ứng nhu cầu địa phương, cácnguyên tắc cơ bản liên quan trên thực tế là giống nhau Nhiều nguyên tắc trong số này bắt nguồn
từ những nguyên tắc được sử dụng trong sản xuất mì thủ công cổ đại Mặc dù năng suất thấptheo tiêu chuẩn ngày nay, mì làm thủ công vẫn tiếp tục tồn tại và vẫn rất phổ biến ở Trung Quốc
và Nhật Bản Mì làm bằng tay được đánh giá cao vì chất lượng ăn ngon của chúng, có lẽ là dochế độ tạo gluten Những phát triển trong công nghệ chế biến mì trong những năm 1990, chẳnghạn như trộn chân không, trục lăn vẫy và tấm phủ nhiều lớp, dựa trên nguyên tắc phát triển củagluten trong mì làm thủ công
1.2 Phân loại
Có 2 loại bột mì khác nhau dựa trên liều lượng và loại muối được thêm vào (chủ yếu làNa2CO3 hoặc K2CO3) Muối kiềm có tác động lớn đến màu sắc, hương vị và kết cấu của mì(Miskelly, 1996) Mì làm từ bột mì, nước và muối regu lar (NaCl) được phát triển ở phía bắcTrung Quốc, và việc bổ sung muối kiềm dường như bắt nguồn từ phía nam Trung Quốc (các tỉnhCanton và Hokkien) Mì kiềm chiếm chưa đến 10% tổng sản lượng mì ở Trung Quốc, phần cònlại chủ yếu là mì muối thông thường Mặc dù mì kiềm được du nhập vào Nhật Bản từ TrungQuốc muộn hơn nhiều so với mì muối thông thường, nhưng ngày nay mì kiềm có thị phần caohơn một chút so với mì muối thông thường ở Nhật Bản (Nagao, 1991) Người ta thường gâynhầm lẫn khi đặt tên mì muối thông thường là "loại Nhật Bản" và loại mì có muối kiềm, "loạiTrung Quốc"
1.2.1 Mì muối thường
Mì muối thông thường được làm từ một loại bột đơn giản và bột nước với 2-8% muối tínhtheo trọng lượng bột Lượng muối thực tế phụ thuộc vào loại mì và cách chế biến Mì muốithông thường được tiêu thụ rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng chỉ chiếmmột tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số mì được sản xuất ở Đông Nam Á Có ba dạng chính của mì muốithông thường - tươi, khô và luộc Các loại mì mới hơn, bao gồm mì luộc đông lạnh và mì dàiđang trở nên phổ biến ở Nhật Bản Mì muối thông thường được phân thành bốn loại dựa trênkích thước của sợi mì Loại rất mỏng (So-men), mỏng (Hiya-mugi), tiêu chuẩn (Udon) và phẳng(Hira-men), với chiều rộng sợi mì là 1,0–1,2, 1,3–1,7, 2,0–3,9 và 5,0 –7,5 mm
Trang 13Sợi mì rất mỏng và mỏng thường được bán trên thị trường ở dạng khô được sản xuất bằngcách sấy khô có kiểm soát các sợi mì tươi Mì Udon tiêu chuẩn hầu hết được sản xuất ở dạngluộc Mặc dù hầu hết các món mì được làm bằng máy, nhưng món mì muối thông thường làmbằng tay vẫn rất phổ biến ở Nhật Bản Mì muối thông thường chiếm ưu thế ở Trung Quốc ngoàicác tỉnh Hong Kong, Canton và Hokkien (Huang, 1996) Các hình thức phổ biến nhất là GuaMian (mì khô) được làm bằng máy, sợi mì tươi cắt bằng tay hoặc bằng tay, và sợi mì khô rấtmỏng được kéo căng bằng tay Mì muối thông thường phổ biến thứ hai sau mì ăn liền ở HànQuốc Chúng được bán trên thị trường ở dạng khô, bán khô và tươi Cả Trung Quốc và HànQuốc đều chỉ có sản lượng rất nhỏ mì muối luộc thông thường.
Bề ngoài của mì muối thông thường phải sáng, có màu sạch từ trắng đến trắng kem và bềmặt bóng, mịn sau khi luộc (Nagao, 1991) Đối với hầu hết người Nhật và người Hàn Quốc, đặctính kết cấu lên men trước của mì muối thường luộc là mềm và đàn hồi với bề mặt nhẵn (Crosbie
& Ross, 2004) Tuy nhiên, hầu hết người Trung Quốc thích mì có kết cấu chắc, đàn hồi và dai(Huang, 1996)
1.2.2 Mì muối kiềm
Ứng dụng của muối kiềm trong sản xuất mì bắt nguồn từ các tỉnh Canton và Hokkien ở rấtnam Trung Quốc Thời tiết ở vùng đó nóng và ẩm ướt nhất trong năm Người ta tin rằng mụcđích ban đầu của việc đưa muối kiềm vào công thức mì là để kéo dài thời hạn sử dụng mì bằngcách ức chế sự phát triển của nấm mốc Vào thời cổ đại, Kan Sui (nước kiềm) được chiết xuấtbằng cách đun sôi đá dung dịch hoặc tro thực vật trong nước Các muối kiềm phổ biến nhất được
sử dụng ngày nay là natri cacbonat hoặc kali cacbonat, hoặc hỗn hợp của cả hai Các muối kiềmkhác, chẳng hạn như polyphosphat, thường được sử dụng trong sản xuất mì ăn liền Không có gì
lạ khi tìm thấy ứng dụng của natri hydroxit trong mì luộc một phần ở Đông Nam Á
Sự kết hợp của các muối kiềm làm cho mì có giá trị pH dao động từ khoảng 9 đến 11 tùythuộc vào muối được sử dụng và cường độ ion của chúng (Miskelly, 1996) Sợi mì kiềm có mùithơm và vị đặc trưng, màu vàng và kết cấu chắc, đàn hồi Tỷ lệ bổ sung cacbonat thường ở mức1,0–1,5% đối với mì kiềm tươi và 0,3–0,5% đối với mì kiềm hấp Mức độ natri hydroxit thường
là 0,3–1,0% đối với mì được đun sôi một phần bằng kiềm Ngày nay, muối kiềm được sử dụngrộng rãi trong ngành công nghiệp mì như một chất điều hòa bột nhào hoặc chất cải thiện chấtlượng ở mức độ thấp hơn nhiều, ví dụ, 0,1–0,3% cacbonat cho mì ăn liền Ở mức độ thấp nhưvậy, hương vị kiềm rất nhẹ nhưng kết cấu sợi mì có thể bị thay đổi đáng kể
Trang 14Mì kiềm được du nhập vào Đông Nam Á bởi những người nhập cư từ các tỉnh Canton vàHokkien, đây là quê hương ban đầu của hầu hết những người Hoa di cư đến Đông Nam Á Mìkiềm đã được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực địa phương của Malaysia, Singapore, Indonesia,Thái Lan, Đài Loan (có liên quan chặt chẽ về văn hóa với tỉnh Hokkien) và Hồng Kông (là mộtphần của tỉnh Canton).
1.2.3 Phân loại dựa vào phương pháp chế biến:
Mì tươi là loại mì sống, ướt Không có quy trình nào khác được áp dụng trong nhà máy saukhi bột cán mỏng được cắt thành các sợi mì có chiều dài và chiều rộng mong muốn Sợi mìthường được phủ một lớp tinh bột hoặc bột mì mịn ngay sau khi cắt để tránh dính vào nhau trongquá trình xử lý và vận chuyển Một lượng mì được đo lường được cắt và tách riêng để đóng gói
tự động hoặc được xếp vào khay với số lượng lớn cho các cửa hàng bán lẻ Độ ẩm của mì tươi từ32% đến 40% Nhược điểm chính của mì tươi là thời hạn sử dụng tương đối ngắn, từ một ngàyđến vài ngày, tùy thuộc vào bao bì và điều kiện bảo quản
Mì kiềm tươi, được gọi là mì Quảng Đông, rất phổ biến ở nhiều vùng Đông Nam Á, baogồm cả vùng phía nam của Trung Quốc Chúng được gọi là Ramen và Chukamen ở Nhật Bản, vàđược bán rộng rãi trong các cửa hàng bán lẻ và nhà hàng Sợi mì có tính kiềm tươi phải cứng,đàn hồi và có kết cấu mịn, có thể cắt sạch bằng răng Người tiêu dùng ưa chuộng loại mì có bềngoài sáng và sạch, tuy nhiên mức độ vàng được ưa chuộng thay đổi tùy theo vùng Mì muốitươi thông thường rất phổ biến ở hầu hết các vùng của Trung Quốc, với kết cấu được ưa chuộng
là chắc, đàn hồi và dai Sau mì gói và mì muối khô thông thường, mì muối tươi thông thườngcũng rất phổ biến ở Hàn Quốc Mì muối thông thường được bán trên thị trường ở dạng thô tươikhông phổ biến ở Nhật Bản
Mì sấy:
Mì khô là loại mì thô được sản xuất bằng cách sấy khô có kiểm soát các sợi mì ướt chưanấu chín Độ ẩm cuối cùng của mì khô thường nhỏ hơn 14% Mì bán khô, có độ ẩm khoảng 18–25% cũng được sản xuất với số lượng nhỏ Sau khi sợi mì được hình thành, chúng được cắt cóchiều dài từ 2-4 m và treo trên que để làm khô Trong các nhà máy tự động lớn, mì được làm khôtrong một phòng lớn, nơi quá trình sấy được kiểm soát thông qua quy trình ba giai đoạn Mì cũng
có thể được làm khô trong một buồng có thể điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm tương đối và thông gió.Nơi có khí hậu Do có độ ẩm thấp nên mì khô có thời gian bảo quản lâu dài từ 1–2 năm Có một
Trang 15số giấy phép biến thể rộng rãi, một số sợi mì, đặc biệt là sợi mì căng bằng tay, vẫn được phơikhô dưới ánh nắng mặt trời.
Vì độ ẩm thấp nên mì khô có thời gian bảo quản lâu dài từ 1–2 năm Có rất nhiều loại kích
cỡ và hình dạng của mì khô, từ sợi dẹt, sợi dày đến sợi mì tròn, mỏng như sợi tóc Thật khôngmay, mì khô cần thời gian nấu lâu hơn và cẩn thận trong quá trình nấu hơn các loại mì khác Quátrình làm khô làm giảm kích thước của các ô khí trong sợi mì, làm chậm quá trình thấm và hấpthụ nước Nấu lâu trong nước sôi quá mạnh dẫn đến bề mặt bún bị nhão và dính Việc sản xuất
mì sợi dày và dẹt đã giảm đi đáng kể trong thời hiện đại, tuy nhiên, mì khô mỏng và mỏng vẫnrất phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan Hầu hết các loại mì khô là loạimuối thông thường Có ít mì kiềm khô
Mì hấp:
Mì hấp được làm chín một phần bằng cách xử lý mì tươi với hơi bão hòa hoặc chưa bãohòa trước khi bán ra thị trường Trong các ngành tiểu thủ công nghiệp, mì hấp được chế biếnbằng tủ hấp tre Trong các ngành công nghiệp hiện đại, quá trình hấp đã được tự động hóa hoàntoàn bằng cách xếp mì tươi trên băng chuyền lưới đi qua lò hấp trong hầm Độ ẩm của sản phẩmcuối cùng thường thay đổi từ 28% đến 65% Sợi mì có độ ẩm nhỏ hơn 32% được làm khô mộtphần sau khi hấp Những loại mì hấp có độ ẩm thấp này dễ xử lý hơn vì độ dính bề mặt thấp vàthời hạn sử dụng lâu hơn Bún có độ ẩm cao chứa khoảng 60% độ ẩm Mì được phun bằng nướcnóng theo từng khoảng thời gian, và được hấp cách thủy trong khi đi qua lò hấp đường hầm, đểtăng độ keo hóa của tinh bột Mì hấp có độ ẩm cao có bề mặt dính và phải được tráng dầu trướckhi đóng gói để phân phối
Mì hấp có độ ẩm thấp yêu cầu phải nấu ngắn trong nước sôi trước khi chuẩn bị cuối cùng
để phục vụ Sau khi để ráo, mì được cho vào nước dùng nóng hoặc xào với rau hoặc thịt Mì hấp
có độ ẩm cao được xào trực tiếp mà không cần nấu trong nước sôi
Mì hấp chủ yếu là mì có tính kiềm, mặc dù mức độ muối kiềm thường là 0,3–0,5%, thấphơn nhiều so với mì có tính kiềm tươi Hình thức phổ biến nhất của món mì hấp là mì hoànhthánh, được tiêu thụ rộng rãi ở hầu hết các khu vực Đông Nam Á và phía Nam Trung Quốc Mìhấp có độ ẩm cao, được gọi là Yakisoba, rất phổ biến ở Nhật Bản Chúng có thể được xào thuậntiện, kết hợp mì, rau và thịt thành một món ăn như một bữa ăn thông thường Mì muối thôngthường cũng có thể được hấp để sản xuất mì hấp, nhưng việc sản xuất chúng còn rất hạn chế Mìkéo dài tay hấp là một sản phẩm cao cấp ở Trung Quốc, được gọi là Xian Mian hấp Chúng
Trang 16thường được tiêu thụ trong các bữa tiệc sinh nhật để truyền tải thông điệp về ý chí tốt cho cuộcsống lâu dài.
Mì luộc:
Mì luộc được trụng sơ qua nước sôi Những loại mì này thường được chia thành hai nhóm;
mì luộc một phần và mì luộc hoàn toàn Trong các thao tác làm thủ công truyền thống, mì tươiđược cắt theo độ dài mong muốn trước khi cho vào một ấm đun nước lớn để luộc hàng loạt.Trong các nhà máy tự động, mì chưa cắt sẽ được chần sơ qua nồi nước sôi Mì được cắt và táchthành các trọng lượng đã xác định trước cũng có thể được đưa vào giỏ trên dây đai chuyển động
đi qua bể đun sôi Sau khi luộc, mì phải được ngâm ngay vào nước lạnh Nước thừa chảy ra trên
bề mặt bún Các sợi mì sau đó được tráng một lớp dầu để chúng không bị dính vào nhau Mìđược gửi với số lượng lớn đến các điểm bán lẻ hoặc đóng gói trước khi bán
Mì kiềm luộc một phần, được gọi là mì Hokkien, rất phổ biến ở Đông Nam Á Chúng đượclàm chín chuyên nghiệp bằng cách nấu mì tươi (dày 1,6–2,0 mm) trong một thời gian ngắn (0,5–1,5 phút) trong nước sôi, dẫn đến lõi không tráng men mịn ở giữa, bao quanh bởi bột nấu chín
Mì Hokkien nhanh chóng được nấu lại bằng cách luộc hoặc xào trước khi ăn Mì Udon luộc hoàntoàn rất phổ biến ở Nhật Bản Thời gian ngâm trong nước sôi để mì Udon chín hoàn toàn daođộng từ 10 đến 20 phút, tùy thuộc vào độ dày của sợi mì Mì luộc hoàn toàn, được đóng gói vớisúp hoặc gói nước sốt, được coi là sản phẩm mì tiện lợi nhất trên thị trường Việc chuẩn bị chobữa ăn của họ rất đơn giản, có thể thả chúng trực tiếp vào súp nóng hoặc đun lại chúng trong 1hoặc 2 phút trước khi ăn
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nguyên liệu
2.1.1 Bột mì
Có 3 loại bột mì có thể dùng là: bột mì số 8, bột mì số 11 và bột mì số 13, nhưng loại đượcdùng chủ yếu là bột mì số 11 Hiện nay có nhiều thương hiệu trên thị trường cung cấp là Baker’schoise, Tài Ký, Hoa Mộc Lan, Meizan, Đại Phong, Beksul,… Con số trong tên bột mì còn thểhiện cho hàm lượng protein có trong chúng, trong đó bột mì số 11 có lượng protein là 11%, đủcao để tạo mạng gluten tốt, giúp kết cấu sợi mì được dai, đàn hồi và trương nở tốt khi hồ hóa.Trong khi đó bột mì số 8 không được sử dụng vì hàm lượng protein thấp là khoảng 8%, khi làm
mì thì cho ra loại mì sợi với độ bền và dẻo không đạt yêu cầu Còn loại bột mì số 13 thì lại cóhàm lượng protein cao là 13% hoặc hơn thì sẽ cho ra loại mì có mạng gluten sẽ rất chặt và dai,
Trang 17dẫn đến việc sợi mì sẽ có độ hấp thụ nước kém và rất dai, khi nấu thì sợi mì sẽ khó nở ra theođúng yêu cầu và giá thành loại bột số 13 cũng rất cao.
Hình 1.1 Bột mì meizan
Chỉ tiêu cảm quan (TCVN 4359:2008)
Bột mì có màu trắng, hạt nhỏ, mịn và khô (với độ ẩm tối đa 15,5%)
Không có mùi, vị lạ
Không lẫn tạp chất có thể gây ảnh hưởng để sức khỏe con người
Chỉ tiêu vi sinh (46/2007/QĐ-BYT)
Độc tố vi nấm Deoxynivalenol (DON) <1000g/kg
2.1.2 Trứng
Trứng là một trong ba thành phần nguyên liệu cơ bản trong sản xuất mì sợi, dùng tăngcường các hương vị cảm quan và màu sắc cho sợi mì vì trong lòng đỏ trứng chứa các sắc tốxanthophyll tạo màu vàng cho sợi mì, làm gia tăng giá trị dinh dưỡng và cải thiện kết cấu cho mìsợi
2.1.3 Muối ăn
Trong muối ăn có ion Na+ đóng vai trò quan trong việc thúc đẩy 2 loại protein quan trọng
là gliadin và glutenin tương tác liên kết với nhau qua đó giúp cấu trúc mạng gluten bền hơn vàtăng khả năng đàn hồi của khối bột, muối ăn còn giúp ức chế khả năng hoạt động và chống lạikhả năng xâm nhập của các loại vi sinh vật đối với khối bột, nếu khối bột có muối kansui thìmuối ăn sẽ có thêm vai trò là làm giảm vị đắng và tăng vị mặn cho khối bột
2.1.4 STPP
Trang 18STPP (E451) là tên viết tắt của sodium tripolyphosphate, có công thức hóa học là 5𝑃3𝑂10,được sử dụng trong thuốc đánh răng và là chất cấu tạo trong xà phòng hay bột giặt để làm tăngtính tẩy rửa của các sản phẩm này, nó làm giảm độ cứng của nước do tạo thành những phức chấtcalci, magie, sắt dưới dạng hòa tan và ngăn cản không cho chất bẩn bám trở lại vải Trong thựcphẩm, STPP được dùng như một loại phụ gia, đây là loại phụ gia có dạng bột hoặc dạng hạt màutrắng có các nhóm hydroxyl trong phân tử thúc đẩy sự tương tác giữa phốt phát và chuỗi tinh bột
để ổn định vùng vô định hình của các hạt tinh bột, có thể làm tăng liên kết giữa các phân tử tinhbột, các loại muối phosphate, đặc biệt là STPP làm tăng nhiệt độ hồ hóa, cải thiện cấu trúc củacủa bột mì như tăng độ dai, độ kết dính và khả năng phục hồi cho sợi mì (Meng Niu et al, 2014)
Bổ sung STPP vào thành phần nguyên liệu làm tăng khả năng hấp thụ nước của sợi mì, ngoài rakhi bổ sung còn cải thiện được cấu trúc của bột nhào tăng độ kết dính, độ dai vì tạo liên kếtngang giữa amylose và amylosepectin STPP được sử dụng để thay thế hàn the trong sản xuấtcác loại sản phẩm dạng sợi từ bột mì, bột gạo,…
Hình 1.2 Công thức cấu tạo STPP
2.1.5 Muối Kansui
Hay còn gọi là muối kiềm hoặc nước tro Tàu là một dung dịch kiềm cho thực phẩm được
sử dụng trong nhiều món ăn trên thế giới Thường được sử dụng trong các loại mì châu Á, đặcbiệt là ở Trung Quốc Muối Kansui là hỗn hợp của muối Natri Cacbonate và Kali Cacbonate Bổsung muối Kansui góp phần tạo nên đặc điểm cảm quan của sợi mì, ức chế sự phát triển của visinh vật và làm giảm sự hoạt động của enzyme, thay đổi pH của khối bột nhào (pH = 9 - 11) giúpkéo dài thời gian sử dụng của mì Muối kiềm cũng có thể tạo ra màu vàng riêng biệt, độ dẻo dai
và đàn hồi cho sợi mì (Ine Rombouts et al, 2014) Hơn nữa, nó sẽ làm giảm độ ổn định và thờigian phát triển của bột, làm dai sợi mì và tăng lực kéo đứt của sợi mì Khi mạng gluten hìnhthành, kansui sẽ tương tác với gluten để tăng độ dai và tăng khả năng hồ hóa giúp sản phẩmnhanh chín do Kansui làm tăng liên kết disulfide của gluten trong quá trình phối trộn
Trang 192.1.6 CMC
CMC (E466) hay còn gọi là Carboxymethyl cellulose đây là chế phẩm dang bột trắng thuđược do tác dụng của Carboxymethylnatri (- CH2 – COONa) với các nhóm hydroxyl củacellulose CMC có dạng bột mịn, có màu trắng hơi ngả vàng, có tính hút ẩm và gần như khôngmùi Trong thực phẩm CMC là chất làm đặc, chất ổn định CMC dễ phân tán trong nước, được
sử dụng như tác nhân tạo gel, làm ổn định, cải thiện cấu trúc như làm mềm khối bột nhào, giữ
ẩm, kéo dài thời gian bảo quản, ngoài ra CMC còn giúp tăng hoàn nguyên trong sản phẩm mì ănliền (Theo FAO, 1998)
Hình 1.3: Công thức cấu tạo CMC
2.1.7 Nước
Nước giúp hình thành mạng gluten của khối bột nhào, hàm lượng nước ảnh hưởng đến tínhchất của khối bột Nếu lượng nước ít, khối bột nhào sẽ khô khi cán sẽ không đều và dễ nứt tấmbột Nếu lượng nước quá nhiều thì khối bột nhào sẽ bị nhảo và dính gây khó khăn khi cán và cắt.(Bùi Đức Hợi, 2009)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quy trình sản xuất
Trang 20Hình 1.4 Quy trình sản xuất mì tươi
2.3 Công thức phối trộn
Mì tươi
Trang 211 (0.3g 𝐾2𝐶𝑂3+0.6g 𝑁𝑎2𝐶𝑂3 +0.1g STPP)
2.3.1 Cân nguyên liệu
Các thành phần nguyên liệu cần được cân trên loại cân kĩ thuật 2 số để có thể lấy được sốliệu một cách chính xác
Hình 1.5 Cân khối lượng STPP
Trang 22Hình 1.6 Cân khối lượng CMC
Thông thường, thời gian nhào trộn kéo dài từ 15 – 20 phút phụ thuộc vào năng suất máynhào và lượng bột Trong công nghiệp các loại thường được sử dụng để trộn mì như máy nhàotrục ngang, máy nhào trục đứng,…Trong phòng thí nghiệm nên nhóm thực hiện nhào trộn bằngtay
Yếu tố quan trọng của quá trình này là sự tạo thành khối bột nhào và protein hút nước,trưởng nở tạo thành mạng gluten liên kết trong khối bột nhào Trong quá trình nhào bột nên cânbằng lực tay khi nhào Nếu lực quá mạnh có thể phá vỡ cấu trúc sợi glutenin, không tạo đượcmạng Gluten Lực quá yếu thì không đủ mạnh để phá vỡ liên kết giữa các phân tử gliadin đểgliadin liên kết với glutenin tạo thành mạng gluten
Khối bột được nhào đến khi tay cảm nhận được độ dẻo, dai và đồng nhất, bề mặt khối bộtlán mịn, đàn hồi và không dính tay (Lê Văn Việt Mẫn, 2011)
Trang 23Hình 1.7 Khối bột nhào thành phẩm
2.3.4 Ủ lạnh
Khối bột sau khi nhào trộn sẽ được bọc lại bằng màng bọc thực phẩm và ủ trong ngăn mát
tủ lạnh khoảng 1 tiếng, giúp độ ẩm trong khối bột được phân bố đồng đều, tăng cường liên kếtdisulfua, ổn định mạng gluten trước khi bước vào công đoạn cán cắt
Hình 1.8 Khối bột được bọc màng lại
Trang 24Hình 1.9 Khối bột nhào sau 1 tiếng ủ lạnh
2.3.5 Cán bột
Sau khi được ủ đủ lâu trong ngăn mát tủ lạnh, khối bột được lấy ra và tiến hành cán bằngmáy cán với các mức cán giảm dần cho đến khi đạt được độ dày mong muốn Quá trình này sẽgiảm bớt không khí có trong khối bột làm tăng khả năng kết dính giữa các sợi gluten Độ dai tấmbột phụ thuộc vào khoảng cách giữa các trục cán
Hình 1.10 Cán bột
2.3.6 Cắt sợi
Trang 25Trước khi tiến hành cắt cần bôi dầu lên máy cắt và phủ bột lên tấm bột tạo thành một lớp
áo bột cho tấm bột để khi cắt thì phần bột nhào không bị dính vào lưỡi dao của máy cắt Sợi mìthường được phủ bột áo bằng bột mịn ngay sau khi cắt để ngăn chúng dính vào nhau
Hình dạng sợi mì phụ thuộc vào tốc độ và lực quay tay cầm của máy cắt, nếu tay quaykhông đều sẽ làm đứt sợi mì, nếu quay nhanh thì sợi mì ra không đều, tấm bột bị kéo dãn nhanh
sẽ bị rách và có thể làm hỏng máy và cũng như là sẽ gây khó khăn trong việc vệ sinh máy
Hình 1.11 Cắt sợi
Hình 1.12 Thành phẩm
3 Các phương pháp nghiên cứu
3.1 Xác định thời gian nấu của sợi mì
Trang 26Từ mỗi mẫu mì lấy ra 5 gam cân trên cân kĩ thuật 2 số để có số liệu chính xác Sau đó cholần lượt vào nồi nước 250ml được đun sôi, đậy kín nắp khi đun sôi Thời gian nấu được tính từlúc bắt đầu đun mì cho đến khi sợi mì được hồ hóa hoàn toàn, tức là khi sợi mì trở nên trong vànổi hoàn toàn trên mặt nước.
3.2 Xác định khả năng hút nước
Sợi mì sau khi hồ hóa hoàn toàn được để ráo cho hết nước rỉ xuống Xác định khối lượng
𝑀2 của sợi mì Khả năng hấp thụ nước được xác định bằng số ml nước được sợi mì hấp thụ trongquá trình nấu trên 1 đơn vị khối lượng mì (thông qua sự chênh lệch khối lượng giữa mẫu mìtrước và sau khi hồ hóa)
Công thức
X2= M 2−M 1 M 1 *100Trong đó:
𝑀1 (𝑔): Khối lượng sợi mì ban đầu
𝑀2 (𝑔): Khối lượng sợi mì sau khi nấu
𝑋1 (%): Khả năng hấp thụ nước của sợi mì
4 Kết quả thí nghiệm và bàn luận.
4.1 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu đến thời gian nấu của sợi
Sai số chuẩn
Khoảng tin cậy 95% Giá
trị Min
Giá trị Max
Giới hạntrên
Giới hạndưới
Trang 27Bảng 1.5 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa thời gian nấu của các mẫu mì sợi
Mẫu N Subset for alpha = 0.05
Mẫu 5 3 187.3333 Mẫu 4 3 197.3333
Mẫu 1 3 203.6667
Sig. 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
Bảng 1.6 Thời gian nấu trung bình giữa các mẫu mì sợi (giây)
Thời gian nấu trung bìnhMẫu
1
203.67 ± 1.52c
Mẫu2
223.33 ± 1.52e
Mẫu 213.67 ± 2.51d
Trang 28197.33 ± 2.08b
Mẫu5
187.33 ± 2.08a
Chú thích bảng :
Giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (n = 3 )
a,b,c,d biểu thị sự khác nhau có ý nghĩa về thời gian nấu trung bình của các mẫu bánh canh
về mặt thống kê tại α = 0.05
4.1.2 Nhận xét và bàn luận
Hình 1.12 Biểu đồ thể hiện thời gian nấu (s) của các mẫu mì sợi
Biểu đồ ở hình 4.1 cho thấy các mẫu mì sợi ở cùng một điều kiện về lượng nước, nhiệt độ
và lượng bột mì nhưng khác nhau giữa các mẫu về bổ sung các phụ gia nên thời gian nấu sẽ có
sự khác biệt Thứ tự thời gian nấu từ thấp đến cao là : mẫu 5 < mẫu 4 < mẫu 1 < mẫu 3 < mẫu 2.Dựa vào các số liệu thực nghiệm thu thập được, ta thấy thời gian nấu (hồ hóa) giữa cácmẫu không có sự khác biệt đáng kể nhưng về mặt thống kê vẫn có ý nghĩa, với mức α=0.05
Trang 29Nhìn chung độ lệch chuẩn của các mẫu SD <0.05 nên đây có thể xem là số liệu đáng tin cậy,riêng đối với mẫu 2 SD >0.05, nên cần phải xem xét lại Chúng tôi cho rằng nguyên nhân dẫnđến sai số trên có thể do người thực nghiệm không các định chính xác được khi nào sợi mì được
hồ hóa hoàn toàn vì rất khó quan sát bằng mắt thường
Khi phân tích bằng phương pháp ANOVA, ta thấy rằng mẫu 1 có sự khác biệt nhất so vớicác mẫu còn lại Nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt trên có thể do mẫu 1 chỉ sử dụng các nguyênliệu cơ bản và không có sự can thiệp của phụ gia vào Mẫu 2 có thời gian hồ hóa lâu nhất,mẫu 3
và 1 có nhiệt độ hồ hóa của mì sợi tương đối lâu Mẫu 4 và 5 thì có thời gian hồ hóa thấp nhất.Mẫu 3 được bổ sung muối Kansui nên thời gian nấu giảm đáng kể, nguyên nhân là do khimạng gluten hình thành, kansui sẽ tương tác với gluten để tăng độ dai và tăng khả năng hồ hóagiúp nhanh chín do Kansui làm tăng liên kết disulfide của gluten trong quá trình phối trộn (IneRombouts và cộng sự, 2014)
Còn mẫu 4, 5 có thời gian hồ hóa có giảm do cả hai mẫu được bổ sung phụ gia CMC vàSTPP nên có thời gian giảm đáng kể hơn các mẫu còn lại Qua đó ta có thể thấy khi thêm phụ gia
có ảnh hưởng đến khả năng hồ hóa của sợi mì.4.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn cácnguyên liệu đến khả năng hút nước của sợi mì tươi
19
Mẫ u Lần M 1 (g) M 2 (g) X 1 (ml/g)
Trang 30Bảng 4.7 Kết quả xử lý số liệu độ hút nước của các mẫu mì sợi trong phần mềm SPSS
Mẫu N Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn
Sai số chuẩn
Khoảng tin cậy 95% Giá trị
Min
Giá trị Max
Giới hạntrên
Giới hạndưới
Bảng 4.9 Phân tích ý nghĩa về sự khác nhau giữa độ hút nước của các mẫu mì sợi
Mẫu N Subset for alpha = 0.05
Trang 31Bảng 4.10 Độ hút nước trung bình giữa các mẫu mì sợi (giây)
Thời gian nấu trung bình Mẫu 1 56.41 ± 0.91a
Giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (n = 3 )
a,b,c,d biểu thị sự khác nhau có ý nghĩa về thời gian nấu trung bình của các mẫu bánhcanh về mặt thống kê tại α = 0.05
4.3 Nhận xét và bàn luận
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện độ hút nước của các mẫu mì sợi
Trang 32Biểu đồ ở hình 4.2 cho thấy các mẫu mì sợi ở cùng một điều kiện về lượng nước, nhiệt độ
và lượng bột mì nhưng khác nhau giữa các mẫu về bổ sung các phụ gia nên độ hút nước cũng sẽ
có sự khác biệt Thứ tự thời gian nấu từ thấp đến cao là : mẫu 1 < mẫu 3 < mẫu 2 < mẫu 4 < mẫu5
Dựa vào phân tích phương sai ANOVA, các kết quả chỉ ra rằng có sự khác biệt ý nghĩa vềmặt thống kê Mẫu 5 có sự khác biệt nhất so với các mẫu còn lại, với độ hút nước cao nhất do có
bổ sung cả ba loại phụ gia là: muối Kansui, CMC và STPP Mẫu 1 và mẫu 2 có độ hấp thụ nướcthấp nhất, mẫu 3 và mẫu 5 có độ hấp thụ nước tương đối cao Mẫu 2 có bổ sung STPP giúp giữnước trong bột nhào và mẫu 4 có bổ sung CMC nên độ hấp thụ nước có tăng đáng kể
Độ lệch chuẩn giữa các mẫu đều có SD <0.05 Vì vậy đây là số liệu đáng tin cậy Từ đó ta
đi đến kết luận rằng phụ gia có ảnh hưởng đáng kể đến độ hấp thụ nước của mì
5 Kết luận chung
Từ các cuộc khảo sát đã được thực hiện, chúng ta có thể kết luận rằng phụ gia có ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng của mì sợi Chất STPP giúp cải thiện cấu trúc của của bột mì như làtăng độ dai, độ kết dính và khả năng đàn hồi cho sợi mì, đây là loại phụ gia an toàn có thể được
sử dụng như một chất để thay thế hàn the vốn có tính nguy hiểm và độc hại cao Muối Kansuihay còn gọi là nước tro tàu thì có tác dụng giúp làm tăng liên kết disulfide của gluten trong quátrình phối trộn, tạo màu vàng do các sắc tố flavonoid và làm tăng hương vị cho sợi mì ngoài racòn thúc đẩy quá trình ủ tốt trong khi ngăn chặn sự phân rã của bột mì CMC được sử dụng nhưtác nhân tạo gel, làm ổn định, cải thiện cấu trúc như làm mềm khối bột nhào, giữ ẩm, kéo dàithời gian bảo quản
Hiện nay xu hướng sử dụng các loại sản phẩm có thiên hướng về các cây lương thực cũngnhư là ngũ cốc, điều đó làm cho nhu cầu sử dụng các sản phẩm mì sợi có nguồn gốc từ cây lươngthực được mọi người đón nhận sử dụng ngày càng gia tăng, cùng với điều đó là sự đòi hỏi vềchất lượng cũng như giá cả phù hợp Để sợi mì có giá trị dinh dưỡng tốt nhất thì không nên bổsung thêm bất kì phụ gia nào trong quá trình chế biến Điều đó rất là khó bởi vì phụ gia đóng vaitrò quan trọng với mì, nó giúp cho mì đạt được độ dai phù hợp và kéo dài thời gian sử dụng cho
mì, nếu không có phụ gia sợi mì sẽ không đạt được các chỉ tiêu mong muốn và không thể bảoquản lâu dài được Vì vậy, sản xuất mì sợi mà không có phụ gia là một điều rất khó
Trang 33TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1 Bùi Đức Hợi và Lương Hồng Nga 2007 Giá trị thực phẩm của bánh mì và mì sợi.In: Kỹ thuật chế biến lương thực tập 2 NXB Khoa học và kỹ thuật tr 188
2 Lê Văn Việt Mẫn và cộng sự 2011 Công nghệ chế biến thực phẩm, NXB Đại họcQuốc gia TPHCM tr.519
Tài liệu tiếng Anh
1 Bin Xiao Fu, 2007 Asian noodles: History, classification, raw materials, andprocessing, Food Research International, Elsevier
2 Hou, G (2001) Oriental noodles Advances in Food and Nutritional Research, 43,
pp 141–193
3 Ine Rombouts và cộng sự (2014) The impact of salt and alkali on glutenpolymerization and quality of fresh wheat noodles Journal of Cereal Science pp.507- 513
4 Kruger, R B Matsuo, & J W Dick (Eds.), Pasta and noodle technology pp 169
5 Lu, H., Yang, X., Ye, M., Liu, K., Xia, Z., Ren, X., et al (2005) Millet noodles inlate Neolithic China Nature, pp 967–968
6 Meng Niu, Xiaodan Li, Li Wang, Zhengxing Chen and Gary G Hou 2014 Effects
of Inorganic Phosphates on the Thermodynamic, Pasting, and Asian Making Properties of Whole Wheat Flour pp 1-2
Noodle-7 Miskelly, D M (1993) Noodles – A new look at an old food Food Australia, 45,496–500
8 Nagao, S (1996) Processing technology of noodle products in Japan In J E
Trang 34BÀI 2: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BÁNH CANH
Phân loại vào nguyên liệu sử dụng
Dựa trên loại bột sử dụng, bánh canh được chia làm 2 loại : bánh canh bột gạo và bánhcanh bột lọc
Trang 35Bánh canh bột gạolà loại bánh canh quen thuộc nhất mà chúng ta thường thấy trong nhữngtiệm bình dân hay quán ăn vỉa hè Sợi bánh được làm hầu như là từ bột gạo, có màu trắng đục,mềm thơm Để có những sợi bánh ngon nhất, chúng ta nên sử dụng loại gạo thơm chất lượng, có
độ mềm dẻo như gạo lài, gạo hương sen Tuy nhiên, để sợi bánh canh bột gạo ngon thì ngoài việclựa chọn những loại gạo ngon thì điều quan trọng để cho sợi bánh canh không bị đứt thì quá trìnhnhào bột rất quan trọng (Loubes và cộng sư, 2016)
Hình 1.3 Bánh canh bột gạo
Bánh canh bột lọc là loại bánh canh làm từ gạo lọc – là loại gạo được xử lý lắng lọc nhiềulần Quá trình ngâm và lắng lọc nhiều lần một lượng gạo giúp giảm hàm lượng amylose trong bộtgạo, giúp cho sợi bánh canh sẽ dai và trong hơn Ngoài ra, ta có thể giảm hàm lượng amylosebằng cách bổ sung vào sợi bánh canh một lượng bột năng ( chứa nhiều amylopectin) Độ dai củasợi bánh canh của phụ thuộc rất lớn vào qáu trình nhào trộn bột (Choi và cộng sự, 2012)
Hình 1.4 Bánh canh bột lọc
Phân loại bánh canh theo công nghệ chế biến
Ở Việt Nam, bánh canh theo công nghệ chế biến được chia làm 2 loại: bánh canh bột xắt
và bánh canh ép đùn
Trang 36Đối với bánh canh bột xắt là loại bánh canh đặc trưng của người Việt Nam Đầu tiên, khốibột nhào sau khi được hồ hoá sơ bộ sẽ được cắt mỏng vừa phải sau đó đem đi xắt thành sợi vàtạo ra sợi bánh canh bột xắt Sợi bánh canh sẽ dẹt, hơi vuông và sẽ được áo bên ngoài một lớpbột gạo để chống kết dính Loại bánh canh này được bán trên thị trường ở dạng chưa được xử lýnhiệt nên giá thành của loại bánh canh này sẽ đắt hơn so với các loại bánh canh khác.
Hình 1.5 Bánh canh bột xắt
Bánh canh ép đùn là bánh canh được sản xuất theo phương pháp ép đùn và thường được sửdụng ở quy mô công nghiệp Sợi bánh canh sau khi ép đùn thằn sẽ là dạng sợi tròn, to
Hình 1.6 Bánh canh ép đùn
Ngoài ra, ta có thể phân loại bánh canh dựa vào nước dùng chung, và ở Việt nam có 2 loại
là bánh canh mặn ( dùng với nước dùng từ tôm, thịt,…) và bánh canh ngọt (dùng với nước cốtdừa, nước đường,…)
1.1.3 Khuynh hướng phát triển của sản phẩm bánh canh
Ngày nay, bánh canh là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và mùi vị dễ chịu nên làmột loại thực phẩm đang được dùng nhiều ở Việt Nam Chính vì thế, người sản xuất thực phẩmluôn tìm những hướng phát triển mới cho sản phẩm này bằng cách bổ sung vào công thức một số
Trang 37phụ gia, màu sắc, hương vị hay thay một thành phần nguyên liệu trong công thức Tất cả nhữngđiều này sẽ giúp thúc đẩy sản phẩm đạt được tiêu chuẩn hóa, cơ giới hóa và tự động hóa sản xuất(Caiming Li và cộng sự, 2021) Những thành phần được bổ sung vào công thức trong quá trìnhchế biến như: tinh bột kiều mạch (Xiao-Miao Han và cộng sự, 2021), tinh bột sắn (H Herawati,2021), tinh bột đậu triều (Yadav và cộng sự, 2011), tinh bột dong riềng (Wandee và cộng sự,2015), protein isolate của đậu nành (Cao và cộng sự, 2021), protein isolate của đậu xanh (Sofi vàcộng sự, 2020), gạo lứt (Geng và cộng sự, 2020)…
Ngoài việc bổ sung các màu sắc, hương vị của sợi bánh canh thì ta còn có thể bổ sung thêmnhững nguyên liệu chứa nhiều amylopectin như bột năng để góp phần tạo độ dai, trong và tăngkhả năng kết dính các hạt tinh bột lại với nhau Và cũng có thể bổ sung vào các phụ gia tạo gel,
ổn định cấu trúc để cải thiện cấu trúc, cảm quan hay tăng độ nhớt của sợi bánh canh
1.2 Tổng quan về nguyên liệu
1.2.1 Bột gạo
Bạo gạo là một liệu không thể thiếu trong công nghệ sản xuất bánh canh Bột gạo thìthường làm từ gạo trắng hoặc gạo lứt và thành phần chính trong tinh bột gạo là amylose vàamylopectin (Bùi và cộng sự, 2009)
Các đặc tính chức năng của bột gạo hạt dài và hạt ngắn được ép đùn ở 70 đến 120°C và độ
ẩm 22% được báo cáo Mật độ hàng loạt về cơ bản không thay đổi Cả chỉ số hấp thụ nước và chỉ
số hòa tan trong nước đều tăng khi nhiệt độ ép đùn tăng lên Các chỉ số hấp thụ chất béo chỉ giảm
ở 55°C Độ nhớt của keo lạnh tăng dần, trong khi độ nhớt đỉnh, độ phân giải, độ lùi và độ nhớtcuối cùng giảm khi nhiệt độ ép đùn tăng lên Việc thay thế 25% bột gạo hạt dài chưa ép hoặc70°C thành một món ăn nhẹ chiên làm từ bột mì làm giảm sự hấp thụ chất béo của nó từ 35%đến 50% mà không ảnh hưởng đến kết cấu tổng thể
1.2.2 Bột năng
Bột năng là loại bột làm từ tinh bột của của sắn hay củ khoai mì Trong bột năng có hàm
lượn chất béo, protein và tro thấp (Breuninger và cộng sự, 2009) Trong bột năng có hàm lượngamylopectin rất lớn nên khi được bổ sung vào thành phần nguyên liệu để sản xuất ra sợi bánhcanh để làm giảm lượng amylose cao trong bột gạo giúp sợi bánh canh dai và trong hơn, ngoài rabột năng còn có tính kết dính tốt khi được thực hiện quá trình hồ hóa (Huang và cộng sự, 2017)
1.2.3 Muối
Trang 38Để tạo vị cho sợi bánh canh, ta thường thêm muối vào khoảng 1-3% khối lượng bột(Fu,2008).
Ngoài ra, ta còn sử dụng một số phụ gia để tăng chất lượng của sợi bánh canh như sodiumtripolyphosphate (STPP) hay xanthan gum
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Bột gạo thường có đặc tính tạo gel đàn hồi kém, khả năng chịu lực cắt kém, tính nhớt kém
vì vì trong quá trình sản xuất bánh canh cần sử dụng thêm bột năng cũng như các phụ gia để tăng
độ bền cho cấu trúc của sợi bánh canh Trong khi luộc bánh canh, ta thấy nước luộc bị đục là do
Trang 39tinh bột có khả năng chịu nhiệt kém và có độ hoà tan cao trong quá trình nấu (Williams và cộng
sự, 1958)
2.1.2 Bột năng
Trong bột năng có hàm lượng amylose(17-20%) thấp hơn so với các loại tinh bột khác.Chính vì thế, công dụng đặc trưng của bột năng giúp cho sợi bánh canh dẻo dai và có độ nhớtcao nhờ hàm lượng amylopectin cao trong thành phần (Loubes và cộng sự, 2016) Một ưu điểmnữa của bột năng là dùng làm chất làm đặc và ổn định cấu trúc sản phẩm nhưng không gây ảnhhưởng đến mùi vị
Hình 2.2 Bột năng Takyfood
2.1.3 Muối
Muối được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất sợi bánh canh vì nó giúp tạo vị cho sảnphẩm Ngoài ra, muối còn làm giảm thời gian nấu và mang lại kết cấu đàn hồi và mềm hơn chosợi bánh canh; giúp ức chế sự phát triển của các vi sinh vật Muối còn có thể giúp làm chậm quátrình oxy hoá , kéo dài thời gian bảo quản
2.1.4 Sodium tripolyphosphate (STPP)
Sodium tripolyphosphate (STPP) là một phụ gia thuộc nhóm phosphate có chỉ số E451 vàcông thức hóa học là Na5P3O10 (Branen và cộng sự, 2001)
Trang 40Hình 2.3 Công thức cấu tạo của sodium tripolyphosphate (STPP)
Sodium tripolyphosphate thường được sử dụng để cải thiện chất lượng tổng thể của bánhcanh Việc sử dụng sodium tripolyphosphate làm tăng độ hồ hóa của tinh bột và khả năng giữnước của sợi bánh trong quá trình nấu Ngoài ra, nó cũng giúp điều chỉnh các đặc tính của bộtnhào (Fu, 2008) Khi ta phân tích cấu trúc của sản phẩm khi đã được nấu chín, lượng phosphateđược bổ sung vào nhờ phụ gia STPP giúp làm giảm độ cứng và tăng độ đàn hồi, độ kết dính, khảnăng phục hồi (Wang và cộng sự, 2000)
2.1.5 Xanthan gum
Xanthan gum được đăng ký theo số E415 (Urlacher và cộng sự, 1997) Xanthan gum làmột polysaccharide ngoại bào được tiết ra bởi vi sinh vật Xanthomonas campestris Về mặtthương mại, nó được sản xuất bằng quá trình lên men (Sworn, 2021) Xanthan gum có cấu trúcbao gồm chuỗi chính là b-D glucose và chuỗi phụ là trisaccharide gồm hai gốc: D-manosoe vàD-glucronic aicd (Cai và cộng sự, 2016)
Hình 2.4 Công thức hoá học của Xanthan gum