1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo trình kinh tế vĩ mô

243 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Final-GT-Kinh Te Vi Mo 2022

Nội dung

1 BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2022 TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số QĐ CKĐ, ngày tháng năm của Hiệu trưởng Trườ.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

GIÁO TRÌNH

KINH TẾ VI MÔ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022

TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG

Ban hành kèm theo Quyết định số: QĐ-CKĐ, ngày tháng năm

của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại

Trang 2

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin

có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

K

inh tế học vi mô là môn học cơ sở ngành và chuyên ngành trong các

trường đại học và cao đẳng khối ngành kinh tế

Nhằm giúp sinh viên có tài liệu học tập và tham khảo nhóm tác giả viết giáo trình môn Kinh tế vi mô, nội dung gồm năm chương, trong mỗi chương,

có mục tiêu rất rõ ràng, các vấn đề kinh tế cơ bản được trình bày một cách

có hệ thống, ngắn gọn và dễ hiểu, có nhiều ví dụ và diễn giải được minh họa cho các phần lý thuyết Cuối mỗi chương có phần tóm tắt nội dung, câu hỏi lý thuyết và bài tập để sinh viên kiểm tra kiến thức thu nhận của mình

Để viết giáo trình này, chúng tôi đã tham khảo nhiều tài liệu trong nước

và ngoài nước, đồng thời cũng được sự đóng góp ý kiến của nhiều giảng viên giảng dạy môn học này của nhà trường để giáo trình được hoàn thiện Trong quá trình biên soạn do thời gian có hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý đọc giả

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2020Tham gia biên soạn

1 TS Phạm Xuân Thu (Chủ biên)

2 ThS Nguyễn Văn Dĩnh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 13

MỤC LỤC 4 I Đối tượng của kinh tế học vi mô 13

II Nội dung môn học 13

III Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô 15

III.1 Phương pháp mô hình hóa 15

III.2 Phương pháp so sánh tĩnh 17

III.3 Quan hệ nhân quả 18

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ 19

1.1 Các khái niệm cơ bản 19

1.1.1 Sự khan hiếm nguồn lực 19

1.1.2 Kinh tế học 20

1.1.3 Kinh tế học vi mô và vĩ mô 20

1.1.4 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc 22

1.2 Lý thuyết lựa chọn kinh tế 24

1.2.1 Chi phí cơ hội 24

1.2.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất 25

1.3 Ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế 28

1.3.1 Ba vấn đề cơ bản 28

1.3.2 Hệ thống các nền kinh tế 29

1.3.2.1 Nền kinh tế thị trường 29

1.3.2.2 Nền kinh tế kế hoạch 32

1.3.2.3 Nền kinh tế hỗn hợp 32

1.3.3 Mô hình nền kinh tế 34

CHƯƠNG 2: CUNG, CẦU VÀ CÂN BẰNG THỊ TRƯỜNG 42

2.1 Cầu (Demand) 42

2.1.1.Khái niệm cầu 42

2.1.2 Công cụ biểu diễn cầu 43

2.1.2 Qui luật cầu: 45

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu 45

2.2 Cung (Supply) 50

2.2.1 Khái niệm cung 50

2.2.2 Công cụ biểu diễn cung 50

2.2.3 Qui luật cung: 52

2.3 Cân bằng cung - cầu 56

2.3.1 Trạng thái cân bằng cung – cầu 56

2.3.2 Sự thay đổi của trạng thái cân bằng 59

2.4 ĐỘ CO GIÃN (Elasticity) 63

2.4.1 Khái niệm 63

2.4.2 Co giãn cầu(Elasticity of demand) 63

2.4.1 Co giãn cung (Elasticity of Supply) 72

Trang 5

2.5 Thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất 74

2.5.1 Thặng dư tiêu dùng 74

2.5.2 Thặng dư sản xuất 75

2.5.3 Thăng dư tiêu dùng và sản xuất khi cân bằng thị trường 76

2.6 Can thiệp của chính phủ vào thị trường (Price control) 78

2.6.1 Can thiệp trực tiếp 78

2.6.2 Can thiệp gián tiếp 82

CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG 120

3.1 Sở thích của người tiêu dùng 120

3.2 Phân tích cân bằng tiêu dùng bằng lý thuyết hữu dụng 121

3.2.1 Các giả định 121

3.2.2 Các khái niệm 122

3.2.3 Quy luật hữu dụng biên giảm dần 124

3.2.4 Nguyên tắc tối đa hóa hữu dụng 125

3.3 Phân tích cân bằng tiêu dùng bằng hình học 128

3.3.1 Ba giả thuyết cơ bản về sở thích của người tiêu dùng 128

3.3.2 Đường đẳng ích 128

3.3.3 Đường ngân sách 133

3.3.4 Nguyên tắc tối đa hóa hữu dụng 137

3.4 Sự hình thành đường cầu 139

3.4.1 Sự hình thành đường cầu cá nhân 139

3.4.2 Sự hình thành đường cầu thị trường 140

3.5 Các vấn đề khác 142

3.5.1 Đường Engel 142

CHƯƠNG 4: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NHÀ SẢN XUẤT 157

4.1 LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT 157

4.1.1 Hàm sản xuất 157

4.1.1.1 Yếu tố đầu vào và đầu ra 158

4.1.1.2 Khái niệm hàm sản xuất và các mối quan hệ trong hàm sản xuất 158

4.1.2 Năng suất cận biên và năng suất trung bình 160

4.1.2.1 Năng suất biên 160

4.1.2.2 Quy luật năng suất biên giảm dần 160

4.1.2.3 Năng suất trung bình 161

4.1.2.4 Đường tổng sản lượng, đường năng suất biên và năng suất trung bình 162

4.1.3 Đường đẳng lượng 163

4.1.3.1 Đường đẳng lượng 163

4.1.3.2 Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên 165

4.1.3.3 Mối quan hệ giữa tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên và năng suất biên 166

4.1.3.4 Các dạng đặc biệt của đường đẳng lượng 166

4.1.4 Đường đẳng phí 168

4.1.4.1 Khái niệm 168

4.1.4.2 Đồ thị đường đẳng phí 169

4.1.4.3 Đặc điểm của đường đẳng phí 170

4.1.5 Nguyên tắc tối đa hóa sản lượng hay tối thiểu hóa chi phí 170

4.1.5.1 Nguyên tắc tối đa hóa sản lượng 170

Trang 6

4.1.6 Đường mở rộng sản xuất 175

4.1.7 Hiệu xuất theo qui mô 175

4.2 LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ 178

4.2.1 Một số khái niệm 178

4.2.1.1 Chi phí kế toán và chi phí cơ hội 179

4.2.1.2 Chi phí sản xuất và thời gian 180

4.2.2 Phân tích chi phí ngắn hạn 180

4.2.2.1 Tổng chi phí, chi phí cố định, chi phí biến đổi 180

4.2.2.2 Chi phí trung bình và chi phí biên 181

4.2.2.3.Mối quan hệ giữa chi phí biên và chi phí trung bình 183

4.2.2.4 Sản lượng tối ưu 184

4.2.2.5 Phân tích chi phí trong dài hạn 185

4.2.3 Tính kinh tế theo quy mô 188

4.3 TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN VÀ QUYẾT ĐỊNH CUNG 189

4.3.1 Tối đa hóa lợi nhuận 189

4.3.1.1Tổng doanh thu 189

4.3.1.2 Doanh thu biên 189

4.3.1.3 Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận 190

4.3.2 Quyết định cung của doanh nghiệp 191

4.3.2.1 Quyết định cung của doanh nghiệp trong ngắn hạn 191

4.3.2.2 Quyết định cung của doanh nghiệp trong dài hạn 192

CHƯƠNG 5: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 204

5.1 Khái niệm và phân loại thị trường 204

5.2 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo 206

5.2.1 Một số vấn đề cơ bản 206

5.2.1.1 Đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo 206

5.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo 207

5.3 Quyết định về cung ứng của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo 209

5.3.1 Quyết định cung trong nhất thời 209

5.3.2 Quyết định cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo 210

5.3.2.1 Tối đa hóa lợi nhuận 210

5.3.2.2 Tối thiểu hóa lỗ 213

5.3.2.3 Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp 214

5.4 Thị trường độc quyền hoàn toàn 215

5.4.1 Đặc điểm của thị trường độc quyền hoàn 215

5.4.2 Nguyên nhân của độc quyền hoàn toàn 216

5.4.3.2 Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền 219

5.4.3.3 Lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền 220

5.4.4 Chiến lược phân biệt giá của nhà độc quyền 221

5.4.4 1 Phân biệt giá cấp một 221

5.4.4.2 Phân biệt giá cấp hai 222

5.4.5 Các biện pháp quản lý và điều tiết nhà sản xuất độc quyền 223

5.4.5.1 Tổn thất phúc lợi của độc quyền 223

5.4.5.2 Định giá tối đa 224

5.4.5.3 Đánh thuế 225

5.5 Thị trường cạnh tranh độc quyền 227

5.6 Thị trường độc quyền nhóm 228

Trang 7

+ Xác định được các vấn đề cơ bản của kinh tế học

+ Trình bày được các kiến thức cung, cầu, độ co giãn, thị trường, các loại chi phí trong sản xuất, cấu trúc thị trường

+ Mô tả được sự lựa chọn mua sắm hàng hoá của người tiêu dùng, sự phối hợp các yếu tố đầu vào để tối ưu hóa trong sản xuât và cách ra quyết định về giá, sản lượng và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động trên các thị trường có cơ cấu khác nhau

Trang 8

MỘT SỐ THUẬT SỬ DỤNG TRONG GIÁO TRÌNH

Các yếu tố khác không đổi Ceteris Paribus (other things being equal or held

constant)

Các yếu tố ngoại sinh Exogenous factors

Các yếu tố nội sinh Endogenous factors

Cạnh tranh độc quyền Monopolistic competitive

Chi phí biến đổi trung bình Average variable cost

Chi phí cố định trung bình Average fixed cost

Chính sách chính phủ Government policies

Co giãn cầu theo giá Price elasticity of demand

Co giãn cầu theo thu nhập Income elasticity

Co giãn khoảng của cầu Arc elasticity of demand

Co giãn một điểm của cầu Point elasticity of demand

Trang 9

Dịch chuyển đường cầu Shift of the demand curve

Dịch chuyển đường cung Shift of the supply curve

Độ co giãn chéo của cầu Cross-Price elasticity of demand

Doanh thu trugn bình Average revenue

Độc quyền tự nhiên Natural monopoly

Đường đẳng dụng Indifference Curve for Utility

Đường giới hạn khả năng sản

Giá của các yếu tố sản xuất Prices of factors of production

Hàng hóa thay thế Substitutes goods

Hàng hóa thông thường Normal goods

Hiệu suất không đổi theo quy

Trang 10

Kinh tế học Economics

Kinh tế học chuẩn tắc Normative Economics

Kinh tế học thực chứng Positive Economics

Kinh tế theo quy mô Efficient scale

Lợi nhuận kế toán Accounting profit

Lợi nhuận kinh tế Economic profit

Lý thuyết tiêu dung Consumer Theory

Nền kinh tế kế hoạch (chỉ huy) Planned or Command Economy

Phi kinh tế theo quy mô Disefficient scale

Phương pháp so sánh tĩnh Comparative Statics

Quy luật hữu dụng biên giảm

Sản phẩm biên giảm dần Diminishing marginal product

Số lượng nhà sản xuất Number of producers

Sự lựa chọn của người tiêu dùng Consumer’s Choice

Sự vận động trên đường cầu Movement along the demand curve

Trang 11

Tài nguyên (nguồn lực) Resources

Thặng dư sản xuất Producer Surplus

Thặng dư sản xuất Producer Surplus

Thặng dư tiêu dùng Consumer Surplus

Thế lưỡng nan của người tù Prisoners’ dilemma

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Competitive market

Thị trường độc quyền Monopoly market

Tổng chi phí trung bình Average cost

Trạng thái cân bằng Nash Nash equilibrium

Tỷ lệ thay thế biên Marginal Rate of Substitution

Vận động trên đường cung Movement along the supply curve

Trang 12

NỘI DUNG CỦA MÔN HỌC:

Phần mở đầu

Chương 1 Khái quát về kinh tế học vi mô

Chương 2 Cung, cầu và cân bằng thị trường Chương 3 Lý thuyết hành vi của người tiêu dùng Chương 4 Lý thuyết hành vi của nhà sản xuất Chương 5 Cấu trúc của thị trường

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

Mục tiêu

Mục tiêu phần mở đầu nhằm giúp sinh viên nắm bắt được khái niệm, đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành nghiên cứu đối với học phần kinh tế học vi mô.

I

Đối tượng của kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô là một môn khoa học kinh tế và môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp luận kinh tế Kinh tế học vi mô

là khoa học về sự lựa chọn của các nhân tố trong nền kinh tế Có ba nhân tố

cơ bản đó là Hộ gia đình (Cá nhân), Doanh nghiệp và Chính phủ Các nhân

tố cơ bản này tương tác với nhau tạo nên hoạt động của nền kinh tế

Kinh tế vi mô là một môn kinh tế cơ sở, là một bộ phận của kinh tế học nghiên cứu bản chất của hiện tượng kinh tế, tính quy luật và xu hướng vận động của các hiện tượng và quy luật của kinh tế thị trường Kinh tế vi

mô cung cấp các kiến thức cơbản về hoạt động kinh tế của các thành viên kinh tế trong nền kinh tế thị trường Do đó, tuy có khác với các môn học như kinh tế học vĩ mô, quản lý kinh tế và quản lý doanh nghiệp, nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các môn khoa học quản lý kinh

tế và quản lý doanh nghiệp được xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận và phương pháp luận có tính khách quan của kinh tế học vi mô

II Nội dung môn học

Nội dung chủ yếu của môn học này là nhằm giới thiệu việc lựa chọn tối

ưu các vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, tính quy luật và xu hướng vấn động tối ưu của quan hệ cung cầu, các nhân tố ảnh hướng tới cung, cầu hàng hoá, dịch vụ nào đó; Cách thức lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng khi thu nhập bị giới hạn; Trong một giới hạn về nguồn lực thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn cơ cấu đầu vào như thế nào để sản xuất có hiệu quả nhất,

Trang 14

khi mà khả năng sản xuất của doanh nghiệp thay đổi thì tập phương án sản xuất nào sẽ là tối ưu đối với doanh nghiệp; Phương pháp xác định chính xác doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp làm thế nào để biết được điểm mạng lại lợi nhuận lớn nhất, điểm hoà vốn, điểm đóng cửa; Với các hình thái thị trường sản phẩm đầu ra khác nhau thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án sản xuất và bán ra như thế nào cho phù hợp với mỗi mục tiêu của doanh nghiệp; Để bảo đảm được mục tiêu doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải lựa chọn những loại đầu vào như thế nào với số lượng và giá

cả như thế nào để thoả mãn đầu ra Với các sản phẩm mà thị trường hoạt động không có hiệu về mặt kinh tế, xã hội thì Chính phủ cần phải can thiệp vào thị trường như thế nào để thị trường đạt được hiệu quả cao nhất

Với những nội dung như vậy,“Giáo trình Kinh tế vi mô” là tài liệu sử

dụng chính thức cho sinh viên hệ cao đẳng của tất cả các khối ngành kinh tế

Mở đầu:Trong phần mở đầu sẽ giới thiệu đối tượng, nội dung và

phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô.

Chương 1: Tổng quan về kinh tế học vi mô sẽ trình bày quy luật khan

hiếm và đường giới hạn khả năng sản xuất, các vấn đề cơ bản của kinh tế và khái niệm kinh tế học Bên cạnh đó các mô hình kinh tế sẽ được giới thiệu, các cách phân loại kinh tế học vi mô và sơ đồ chu chuyển của hoạt động kinh tế

Chương 2: Nghiên cứu nội dung của cung và cầu, các yếu tố ảnh

hưởng đến cung và cầu, cơ chế hình thành giá cân bằng và sự thay đổi trạng thái cân bằng Ngoài ra, các khái niệm về thặng dư của người tiêu dùng, thặng dư của nhà sản xuất sẽ được dùng để phân tích những tác động của các biện pháp kiểm soát giá cả

Chương 3: Giới thiệu về lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng và từ

những nguyên tắc cơ bản trong việc tối ưu hoá hành vi của người tiêu dùng

sẽ xây dựng dạng thức của đường cầu thị trường

Chương 4: Nghiên cứu về hành vi của doanh nghiệp theo một trình tự

từ lý thuyết sản xuất đến lý thuyết chi phí và nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận

Chương 5: Trình bày các mô hình thị trường về cạnh tranh hoàn hảo,

độc quyền, độc quyền nhóm và cạnh tranh độc quyền để hoàn chỉnh việc

Trang 15

nghiên cứu các cấu trúc thị trường sản phẩm Trong mỗi loại thị trường, các đặc điểm sẽ được trình bày và qua đó hành vi tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp trong thị trường đó được xem xét thông qua việc xác định sản lượng, giá bán.

III Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô cũng chính là phương pháp nghiên cứu kinh tế học Kinh tế học là một môn khoa học nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học cũng tương tự các môn khoa học tự nhiên Tuy nhiên, kinh tế học nghiên cứu hành vi kinh tế của con người nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học cũng có nhiều điểm khác biệt với các môn khoa học tự nhiên khác Một số phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế học là:

III.1 Phương pháp mô hình hóa

Để nghiên cứu kinh tế học, các giả thuyết kinh tế được thành lập và được kiểm chứng bằng thực nghiệm Nếu các phép thử được thực hiện lặp

đi lặp lại nhiều lần đều cho kết quả thực nghiệm giống như giả thuyết thì giả thuyết kinh tế được xem là lý thuyết kinh tế Một vài giả thuyết và lý thuyết kinh tế được công nhận một cách rộng rãi thì được gọi là quy luật kinh tế

Xác định vấn đề nghiên cứu

Phát triển mô hình

- Lựa chọn các biến số phù hợp

- Đưa ra các giả định đơn giản hóa so với thực tế

- Xác lập các giả thuyết nghiên cứu để giải thích vấn đề nghiên cứu

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

- Thu thập dữ liệu

- Phân tích số liệu

- Kiểm định

Trang 16

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu

Bước đầu tiên được áp dụng trong phương pháp nghiên cứu kinh tế học là phải xác định được vấn đề nghiên cứu hay câu hỏi nghiên cứu Ví

dụ, các nhà kinh tế mong muốn tìm hiểu hiện tượng kinh tế bất thường, đó

là vì sao người dân lại giảm tiêu thụ xăng trong mấy tháng qua

Bước hai: Phát triển mô hình

Bước thứ hai là xây dựng mô hình kinh tế để tìm được câu trả lời cho vấn đề nghiên cứu đã xác định Mô hình kinh tế là một cách thức mô tả thực tế đã được đơn giản hóa để hiểu và dự đoán được mối quan hệ của các biến số Mô hình kinh tế có thể được mô tả bằng lời, bảng số liệu, đồ thị hay các phương trình toán học

Diễn giải 1:

Lưu ý các mô hình thường dựa trên nhiều giả định về hành vi của các biến số đã được đơn giản hóa hơn so với thực tế Ngoài ra, mô hình chỉ tập trung vào những biến số quan trọng nhất để giải thích vấn đề nghiên cứu Ở ví dụ về sản phẩm xăng, trong thực tế, các biến số có thể liên quan đến lượng tiêu thụ xăng bao gồm giá xăng, thu nhập của người tiêu dùng, giá các hàng hóa khác hay điều kiện thời tiết,… Các nhà nghiên cứu kinh tế sẽ phải lựa chọn các biến số thích hợp và loại

bỏ những biến số ít có liên quan hay không có ảnh hưởng đến lượng xăng Trong trường hợp đơn giản nhất, nhà kinh tế học sẽ loại bỏ sự phức tạp bằng cách giả định, chỉ có giá của xăng quyết định đến lượng tiêu thụ xăng, còn các yếu tố khác là không thay đổi.

Mục tiêu của mô hình kinh tế là dự báo hoặc tiên đoán kết quả khi các biến số thay đổi Mô hình kinh tế có hai nhiệm vụ quan trọng Thứ

nhất, chúng giúp chúng ta hiểu nền kinh tế hoạt động như thế nào Bằng cách mô tả vấn đề nghiên cứu thông qua mô hình đơn giản, chúng ta có thể hiểu sâu hơn một vài khía cạnh quan trọng của vấn đề Thứ hai, các mô hình kinh tế được sử dụng để hình thành các giả thuyết kinh tế Vẫn tiếp tục ví dụ về xăng, một giả thuyết có thể thiết lập là giá xăng tăng cao trong thời gian nghiên cứu đã dẫn đến hiện tượng lượng tiêu thụ xăng giảm

Trang 17

Bước ba: Kiểm chứng giả thuyết kinh tế

Mô hình kinh tế chỉ có ích khi và chỉ khi nó đưa ra được những dự đoán đúng Ở bước ba này, các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu để kiểm chứng lại giả thuyết Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết thì giả thuyết được công nhận, còn nếu ngược lại, giả thuyết sẽ bị bác bỏ

Diễn giải 2:

Trong ví dụ về xăng, nhà kinh tế học sẽ kiểm tra xem liệu có phải khi giá xăng tăng lên thì lượng cầu xăng sẽ giảm khi các yếu tố được giữ nguyên Nếu như phân tích số liệu thu nhập được cho thấy, trong thực tế, giá xăng đã tăng cao trong những tháng qua thì có thể, số liệu đã chứng minh giả thuyết là chính xác.

Tuy nhiên, việc đưa ra kết luận cuối cùng cần có sự thận trọng Có hai vấn đề liên quan đến việc giải thích các số liệu kinh tế Vấn đề thứ nhất liên quan đến giả định các yếu tố khác không đổi và vấn đề còn lại liên quan đến quan hệ nhân quả

III.2 Phương pháp so sánh tĩnh

Các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định các yếu tố khác không đổi (Ceteris Paribus) trong mô hình Ceteris Paribus là một thuật ngữ Latinh được sử dụng thường xuyên trong kinh tế học, có nghĩa là các yếu tố khác không thay đổi

Diễn giải 3:

Trong ví dụ về xăng, giả định quan trọng của mô hình là thu nhập của người tiêu dùng, giá các hàng hóa khác và một vài biến số khác không thay đổi Giả định này cho phép chúng ta tập trung vào mối quan hệ giữa hai biến số chính yếu: giá xăng và lượng tiêu dùng xăng trong từng tháng.

Đối với các môn khoa học tự nhiên, việc thực hiện các thí nghiệm mà chỉ những biến số quan tâm được thay đổi còn các yếu tố khác được giữ nguyên có vẻ dễ dàng Tuy nhiên, đối với kinh tế học, phòng thí nghiệm là

Trang 18

thế giới thực, là cuộc sống nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó có thể thực hiện được những thực nghiệm hoàn hảo như trong phòng thí nghiệm, các biến số kinh tế mà các nhà kinh tế học quan tâm như tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số giá, sản lượng,… luôn thay đổi và chịu tác động của rất nhiều nhân

tố cùng một lúc Vì thế, muốn kiểm tra giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế học thường phải sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê được thiết kế riêng cho trường hợp các yếu tố khác không thể cố định được

III.3 Quan hệ nhân quả

Các giả thuyết kinh tế thường mô tả mối quan hệ giữa các biến số mà

sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân làm cho một hoặc các biến khác thay đổi theo Biến số chịu sự tác động được gọi là biến phụ thuộc, còn biến thay đổi tác động đến các biến khác được gọi là biến độc lập Biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc nhưng bản thân thì chịu sự tác động của các biến số khác nằm ngoài mô hình

Một lỗi thường gặp trong phân tích số liệu là kết luận sai lầm về quan

hệ nhân quả: sự thay đổi của một biến số này là nguyên nhân sự thay đổi của biến số kia chỉ vì chúng có xu hướng xảy ra đồng thời Vì sự nguy hiểm khi đưa ra kết luận về mối quan hệ nhân quả nên các nhà kinh tế học thường sử dụng các phép thử thống kê để xác định xem liệu sự thay đổi của một biến số có thực sự là nguyên nhân gây ra sự thay đổi quan sát được

ở biến khác hay không Tuy nhiên, bên cạnh nguyên nhân là yếu tố khó có thể có những thực nghiệm hoàn hảo như trong phòng thí nghiệm, những phép thử thống kê không phải lúc nào cũng đủ sức thuyết phục các nhà kinh tế học tin vào mối quan hệ nhân quả thực sự

Trang 19

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ

Mục tiêu của chương

- Các vấn đề về kinh tế và khái niệm kinh tế học

- Giúp cho người học hiểu và trình bày được được quy luật khan hiếm và thể hiện bằng đường giới hạn khả năng sản xuất

- Phân biệt được kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô cũng như kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

- Nắm bắt và trình bày được các hệ thống kinh tế và sơ đồ chu chuyển của hoạt động kinh tế trong mô hình đơn giản.

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Sự khan hiếm nguồn lực

Tất cả những tài nguyên hoặc nguồn lực (resources) trong nền kinh tế của một quốc gia luôn khan hiếm (scarcity) Sự khan hiếm theo nghĩa là

so với lòng mong muốn thỏa mãn nhu cầu của con người Đối với người tiêu dùng, tài nguyên là thu nhập có được, thời gian và năng lực cá nhân Những lựa chọn của người tiêu dùng là nhằm thỏa mãn những mong muốn của mình trong khi thu nhập, thời gian và năng lực lại có hạn Còn đối với doanh nghiệp, những nguồn lực bao gồm lao động, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị và vốn; trong khi doanh nghiệp mong muốn áp dụng công nghệ mới nhất, hoặc mở rộng sản lượng nhưng nguồn lực của doanh nghiệp không thể đáp ứng được Chính phủ sử dụng ngân sách để đáp ứng nhiều yêu cầu của xã hội nhưng chỉ có thể thỏa mãn được với khả năng ngân sách hạn hẹp mà chính phủ có được

Trang 20

1.1.2 Kinh tế học

Khái niệm được xem là bao quát nhất cho kinh tế học hiện đại do Robbins (1945) đưa ra là: “Khoa học nghiên cứu hành vi con người cũng như mối quan hệ giữa nhu cầu và nguồn lực khan hiếm, trong đó có giải pháp chọn lựa cách sử dụng” Theo Robbins, sự khan hiếm nguồn lực có

nghĩa là tài nguyên không đủ để thỏa mãn tất cả mọi ước muốn và nhu cầu của mọi người Không có sự khan hiếm và các cách sử dụng nguồn lực thay thế nhau thì sẽ không có vấn đề kinh tế nào cả

Diễn giải 4:

Để xem xét khái niệm này cụ thể hơn, hãy nghĩ tình huống của chính bạn Liệu bạn có đủ thời gian cho các công việc mà bạn mong muốn thực hiện hay không? Bạn có khả năng trang trải cho các hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầu vật chất của bạn hay không? Các nhà kinh

tế cho rằng mọi người mong muốn nhiều thứ, thậm chí cả những người giàu có nhất trong xã hội cũng không nằm ngoài hiện tượng này Vấn

đề nguồn lực hạn chế và nhu cầu vô hạn cũng có thể vận dụng cho tổng thể xã hội Liệu bạn nghĩ về một xã hội mà ở đó mọi nhu cầu có thể được thỏa mãn hay không? Hầu hết các xã hội đều mong muốn chăm sóc sức khỏe tốt hơn, chất lượng giáo dục cao hơn, giảm tỷ lệ nghèo và một môi trường trong sạch hơn Điều đáng tiếc là xã hội không đủ các nguồn lực để đáp ứng các mục tiêu này.

Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi cá nhân và xã hội phải đưa ra quyết

định lựa chọn Các nhà kinh tế cho rằng: “Kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn” Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn

lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong thế giới mà nguồn lực bị giới hạn

1.1.3 Kinh tế học vi mô và vĩ mô

Những lựa chọn của cá nhân và xã hội về cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên có giới hạn được biểu hiện thành những hoạt động kinh tế Kinh

tế học tiến hành nghiên cứu những hoạt động này trên hai góc độ:

Trang 21

Một là, góc độ bộ phận như một hộ gia đình, một doanh nghiệp, một ngành hay một thị trường Cách tiếp cận này hình thành nên môn kinh tế

học vi mô (Microeconomics) Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị kinh

tế cụ thể của nền kinh tế và xem xét một cách chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của nền kinh tế

Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể Kinh tế học vi mô còn nghiên cứu các qui định, thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng hàng hóa và dịch vụ cụ thể Chẳng hạn, kinh tế học vi mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giá và lượng

xe ô tô, đồng thời nghiên cứu các qui định và thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng sản xuất xe ô tô trên thị trường

Hai là, góc độ toàn bộ nền kinh tế Với cách tiếp cận thứ hai dẫn tới

hình thành môn kinh tế học vĩ mô (Macroeconomics) Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế quốc dân và kinh tế toàn cầu, xem xét xu hướng phát triển và phân tích biến động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế.Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất Kinh tế học

vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của chính phủ như thuế, chi tiêu, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và thu nhập Chẳng hạn, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu chi phí cuộc sống bình quân của dân cư, tổng giá trị sản xuất, chi tiêu ngân sách của một quốc gia

Ranh giới giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô không thực sự

rõ nét vì để hiểu rõ các hoạt động kinh tế ở phạm vi tổng thể ta cần phải nắm vững thái độ của các doanh nghiệp, người tiêu dùng, của công nhân, các nhà đầu tư, Điều này cho thấy rằng kết quả của hoạt động kinh tế vĩ

mô phụ thuộc vào các hành vi kinh tế vi mô như hoạt động của các doanh nghiệp, người tiêu dùng, Ngược lại, hành vi của doanh nghiệp, của người tiêu dùng, bị chi phối bởi các chính sách kinh tế vĩ mô Do vậy, chúng ta cần nắm vững cả hai ngành trong mối liên hệ tương tác với nhau để có thể nghiên cứu một cách thấu đáo các hiện tượng kinh tế

Trang 22

1.1.4 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

Kinh tế học thực chứng (Positive Economics) là một nhánh kinh tế

học quan tâm tới việc miêu tả và giải thích các hiện tượng kinh tế (Wong, 1987) Nó tập trung vào các sự kiện và các quan hệ nhân-quả, phát triển

và thử nghiệm các lý luận kinh tế Kinh tế học thực chứng cố gắng đưa

ra các phát biểu có tính khoa học về hành vi kinh tế Các phát biểu thực chứng nhằm mô tả nền kinh tế vận hành như thế nào và tránh các đánh giá Kinh tế học thực chứng đề cập đến “điều gì là?” Ví dụ, một phát biểu thực chứng là “thất nghiệp là 7% trong lực lượng lao động” Dĩ nhiên, con số 7% này dựa trên các dữ liệu thống kê và đã được kiểm chứng Hoặc khi chính phủ quy định giá sàn (hay giá tối thiểu) về lúa sẽ gây ra hiện tượng

dư thừa trên thị trường Vì vậy, không có gì phải tranh cãi với các phát biểu thực chứng và sự phân tích thực chứng là trung tâm của kinh tế học vi mô.Kinh tế học chuẩn tắc hay còn gọi là Kinh tế học lý thuyết (Normative Economics) liên quan đến các đánh giá của cá nhân về nền kinh tế phải là như thế này, hay chính sách kinh tế phải hành động ra sao dựa trên các mối quan hệ kinh tế (Wong, 1987) Nói cách khác, kinh tế học chuẩn tắc đưa

ra những chỉ dẫn, những quan điểm cá nhân về cách giải quyết các vấn đề kinh tế Nó bao hàm sự đánh giá, cho biết nên như thế nào và mang tính chủ quan Đây chính là nguồn gốc bất đồng quan điểm và dẫn đến bất đồng

về những chính sách can thiệp vào nền kinh tế giữa các nhà kinh tế học Chẳng hạn, một phát biểu chuẩn tắc là “nên khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho người nghèo hoặc nên miễn thuế nông nghiệp để cải thiện đời sống nông dân để góp phần giảm khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị” Kinh tế học chuẩn tắc dựa trên những nhận định mang tính giá trị chủ quan chứ không dựa vào nghiên cứu về sự thực khách quan

Sự phân biệt giữa kinh tế học thực chứng và chuẩn tắc giúp chúng ta hiểu tại sao có sự bất đồng giữa các nhà kinh tế Thực tế, sự bất đồng bắt nguồn từ quan điểm của mỗi nhà kinh tế khi nhìn nhận vấn đề

Trang 23

Diễn giải 5:

Hãy xem xét phát biểu sau đây: “Những người cao tuổi có chi phí chăm sóc y tế rất cao và chính phủ nên trợ cấp cho họ” Phần thứ nhất của luận điểm trên là nhận định trong kinh tế học thực chứng Nó là một nhận định về sự vận động của thế giới thực Chúng ta có thể hình dung được một chương trình nghiên cứu để xác định nhận định đó có chính xác không.

Diễn giải 5:(tiếp theo)

Phần thứ hai của luận điểm này – đề xuất chính phủ nên làm gì – không thể chứng minh được là đúng hay sai vì đó là một nhận định mang giá trị chủ quan dựa trên cảm giác của người đưa ra nhận định

đó Nhiều người có thể có cùng nhận định chủ quan này Những người khác có thể phản đối một cách hợp lý Bạn có thể cho rằng tốt hơn là chuyển nguồn lực khan hiếm của xã hội sang việc cải thiện môi trường hơn là để chăm sóc sức khỏe cho người đã có tuổi.

Kinh tế học không thể chỉ ra nhận định này của kinh tế học chuẩn tắc

là đúng và nhận định kia là sai Nó hoàn toàn phụ thuộc vào sở thích hay các ưu tiên của cá nhân hay xã hội đưa ra sự lựa chọn Nhưng chúng ta có thể sử dụng kinh tế học thực chứng để chỉ rõ một danh mục các lựa chọn

mà từ đó xã hội phải đưa ra sự lựa chọn chuẩn tắc của mình

Hầu hết các nhà kinh tế đều có quan điểm chuẩn tắc Tuy nhiên, vai trò ủng hộ việc xã hội nên làm gì cần phải được phân biệt rõ ràng với vai trò của nhà kinh tế là một chuyên gia về các kết cục của việc thực hiện một hành động Trong vai trò sau, nhà kinh tế chuyên nghiệp đưa ra lời khuyên chuyên môn dựa trên kinh tế học thực chứng Các nhà kinh tế thận trọng thường phân biệt rõ ràng giữa vai trò là một nhà tư vấn chuyên môn trên phương diện kinh tế học thực chứng với việc học là một công dân đang

Trang 24

ủng hộ cho những lựa chọn chuẩn tắc nhất định.

1.2 Lý thuyết lựa chọn kinh tế

1.2.1 Chi phí cơ hội

Sự khan hiếm nguồn lực (hay tài nguyên) đòi hỏi xã hội, cá nhân phải đưa ra sự lựa chọn được cân nhắc trên cơ sở xét chi phí cơ hội Bởi lẽ mỗi

cá nhân trong xã hội sở hữu những nguồn lực nhất định (cho sản xuất hay tiêu dùng một số hàng hóa nhất định) cho dù cá nhân có nguồn lực dồi dào

đi chăng nữa thì sự giới hạn về thời gian và nhân lực chỉ cho phép họ sản

xuất và tiêu dùng một số hàng hóa nhất định Vậy, Chi phí cơ hội là giá trị lớn nhất trong các giá trị của các cơ hội bị bỏ qua khi đưa ra một quyết định lựa chọn để nhận được một giá trị từ quyết định đó (Sloman, 2006) Chi phí cơ hội là khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết

lựa chọn Đây là một ý tưởng đơn giản nhưng được sử dụng hết sức rộng rãi trong cuộc sống Nếu chúng ta hiểu rõ khái niệm này, thì nó trở thành một công cụ hữu ích nhất giúp chúng ta đưa ra các quyết định lựa chọn có hiệu quả khi đứng trước hàng loạt các tình huống khác nhau xảy ra trong hoạt động kinh tế

Diễn giải 6:

Ví dụ, khi quyết định vào học ở một trường (cao đẳng, đại học) thì lợi ích mang lại là làm cho chúng ta thêm kiến thức và có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn Nhưng chi phí của nó là gì? Thoạt đầu chúng ta sẽ liệt

kê ra là học phí, chi phí sách vở, nhà ở, ăn uống,… Nhưng đó không thể hiện hết những gì mà chúng ta mất đi để khi vào học Thật ra một trong những chi phí đáng kể mà chúng ta cần phải cân nhắc khi đi học đó là thời gian Khi chúng ta dùng thời gian vào việc học thì chúng ta không thể dùng thời gian đó để đi làm kiếm tiền Với một người trưởng thành

ở một xã hội có công ăn việc làm tương đối tốt thì đối với hầu hết sinh viên, tiền lương mà họ có thể kiếm được đã bị họ bỏ qua khi quyết định

đi học là một khoản chi phí lớn nhất.

Khi cân nhắc một quyết định nào, người thực hiện quyết định nên biết chi phí cơ hội đi cùng với mỗi hành động lựa chọn

Trang 25

1.2.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Sự khan hiếm(Scarcity) tài nguyên làm cho việc sản xuất bị hạn chế về mặt sản lượng Đường giới hạn khả năng sản xuất (Production Posibilities Frontier - PPF) cho biết các kết hợp khác nhau của hai (hay nhiều loại hàng hóa) có thể được sản xuất từ một số lượng nhất định của nguồn tài nguyên (khan hiếm) Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự

khan hiếm của nguồn tài nguyên

Diễn giải 7:Ví dụ Mặc dù trong thực tế, nền kinh tế sản xuất ra nhiều

loại hàng hóa và dịch vụ, chúng ta giả định rằng nền kinh tế đó sản xuất chỉ hai loại hàng hóa là gạo và áo Cũng vì vậy, ngành sản xuất gạo và ngành sản xuất áo sử dụng tất cả các yếu tố sản xuất của nền kinh tế Số liệu về khả năng sản xuất của nền kinh tế này được trình bày trong bảng 1.1.

có tấn gạo nào được sản xuất Hai điểm cuối của đường giới hạn khả năng sản xuất tượng trưng cho hai khả năng đặc biệt trên Nền kinh tế chia tài nguyên cho hai ngành sản xuất nó có thể sản xuất 7.000 tấn gạo và 4.000.000 áo hoặc 9.000 tấn gạo và 2.000.000 áo.

Từ ví dụ trên ta có thể vẽ nên một đường cong được gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất như trong hình 1.1

Trang 26

Hình 1.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Qua đường giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế, ta thấy những

điểm nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất thì không thể đạt được

(ví dụ điểm F), những điểm nằm dưới đường đó là những điểm không

mong muốn (ví dụ điểm E), chỉ có những điểm nằm trên đường giới hạn

khả năng sản xuất đại diện trực tiếp cho lựa chọn của chúng ta (các điểm

A, B, C, D)

Tất cả những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất đều

cho ta hiệu quả vì nó tận dụng hết năng lực sản xuất Như vậy, hiệu quả

sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà

không cần cắt giảm sản lượng của hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu

quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm

trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó Nhưng tại điểm nào là sản

xuất có hiệu quả nhất? Điểm hiệu quả nhất trước hết nằm trên đường giới

hạn khả năng sản xuất và điểm đó thỏa mãn tối đa các nhu cầu của xã hội

và con người mong muốn

Nếu ta di chuyển dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất, chẳng

hạn từ điểm B đến điểm Ccủa hình 1.1, ta sẽ thấy việc sản xuất thêm gạo

sẽ làm cho số áo giảm đi Như vậy, đường giới hạn khả năng sản xuất cho

thấy: một khi chúng ta đạt đến những điểm hiệu quả trên đường giới hạn

khả năng sản xuất, cách duy nhất để có thể hàng hóa này là giảm bớt hàng

hóa kia Đồng thời, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng cho thấy chi

11

Hình 1.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Qua đường giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế, ta thấy những điểm nằm ngoài

đường giới hạn khả năng sản xuất thì không thể đạt được (ví dụ điểm F), những điểm nằm dưới đường đó là những điểm không mong muốn (ví dụ điểm E), chỉ có những điểm nằm

trên đường giới hạn khả năng sản xuất đại diện trực tiếp cho lựa chọn của chúng ta (các

điểm A, B, C, D)

Tất cả những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất đều cho ta hiệu quả vì

nó tận dụng hết năng lực sản xuất Như vậy, hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cần cắt giảm sản lượng của hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó Nhưng tại điểm nào là sản xuất có hiệu quả nhất? Điểm hiệu quả nhất trước hết nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất và điểm đó thỏa mãn tối đa các nhu cầu của xã hội và con người mong muốn Nếu ta di chuyển dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất, chẳng hạn từ điểm B đến điểm Ccủa hình 1.1, ta sẽ thấy việc sản xuất thêm gạo sẽ làm cho số áo giảm đi Như vậy, đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy: một khi chúng ta đạt đến những điểm hiệu quả trên đường giới hạn khả năng sản xuất, cách duy nhất để có thể hàng hóa này là giảm bớt hàng hóa kia Đồng thời, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng cho thấy chi phí cơ hội của một hàng hóa này nhờ vào việc đo lường trong giới hạn của hàng hóa khác

Đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy sự đánh đổi giữa việc sản xuất ra các sản phẩm khác nhau ở một thời điểm nào đó nhưng theo thời gian sự đánh đổi đó có thay đổi

Theo thời gian, các nguồn lực sản xuất của các quốc gia đều có khuynh hướng tăng lên, đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ dịch chuyển ra phía ngoài, thể hiện nền kinh tế

có thể sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước Ví dụ, do tiến bộ của công nghệ trong ngành sản xuất áo nên số lượng áo mà mỗi công nhân có thể sản xuất

ra mỗi ngày tăng lên (năng suất lao động tăng) nền kinh tế có thể tạo ra nhiều áo hơn với các mức số lượng gạo cho trước Kết quả là đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ dịch ra phía ngoài (hình 1.2)

Trang 27

phí cơ hội của một hàng hóa này nhờ vào việc đo lường trong giới hạn của

hàng hóa khác

Đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy sự đánh đổi giữa việc sản

xuất ra các sản phẩm khác nhau ở một thời điểm nào đó nhưng theo thời

gian sự đánh đổi đó có thay đổi

Theo thời gian, các nguồn lực sản xuất của các quốc gia đều có khuynh

hướng tăng lên, đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ dịch chuyển ra phía

ngoài, thể hiện nền kinh tế có thể sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa và

dịch vụ hơn so với trước Ví dụ, do tiến bộ của công nghệ trong ngành sản

xuất áo nên số lượng áo mà mỗi công nhân có thể sản xuất ra mỗi ngày

tăng lên (năng suất lao động tăng) nền kinh tế có thể tạo ra nhiều áo hơn

với các mức số lượng gạo cho trước Kết quả là đường giới hạn khả năng

sản xuất sẽ dịch ra phía ngoài (hình 1.2)

Diễn giải 8:

Khi xã hội phân phối lại các yếu tố sản xuất từ ngành sản xuất áo sang

ngành sản xuất gạo nó đã từ bỏ không sản xuất 2.000.000 chiếc áo để

sản xuất thêm 2.000 tấn gạo Nói cách khác, khi nền kinh tế ở điểm B,

chi phí cơ hội của 2.000 tấn gạo là 2.000.000 chiếc áo Chi phí cơ hội

của gạo là số lượng áo bị mất đi để sản xuất thêm 1 tấn gạo.

Hình 1.2 Sự dịch chuyển của đường PPF

Hình 1.2 Sự dịch chuyển của đường PPF

1.3 Ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế

1.3.1 Ba vấn đề cơ bản

Vì nguồn lực là khan hiếm, mọi quyết định lựa chọn trong sản xuất và tiêu dùng của các tác nhân kinh tế đều phải đảm bảo sử dụng đầy đủ và hiệu quả nguồn lực Để sử dụng nguồn lực hiệu quả, các quyết định lựa chọn phải trả lời tốt ba câu hỏi nền tảng được gọi

là ba vấn đề cơ bản của kinh tế học, đó là:

 Sản xuất cái gì?

 Sản xuất như thế nào?

 Sản xuất cho ai?

Sản xuất cái gì?

Sản xuất cái gì là vấn đề cơ bản đầu tiên cần phải trả lời Vấn đề này có thể được hiểu

như là: “Hàng hóa và dịch vụ nào sẽ được sản xuất?” Vì nguồn lực khan hiếm nên không thể nào đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội Trong khả năng hiện có, xã hội phải lựa chọn để sản xuất một số loại hàng hóa và dịch vụ nhất định Việc lựa chọn loại hàng hóa và dịch

vụ gì nên được ưu tiên sản xuất sẽ được căn cứ vào nhiều yếu tố như cầu của thị trường, khả năng về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh, giá cả trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu trực tiếp nhất giúp người sản

Diễn giải 8:

Khi xã hội phân phối lại các yếu tố sản xuất từ ngành sản xuất áo sang ngành sản xuất gạo nó đã từ bỏ không sản xuất 2.000.000 chiếc áo để sản xuất thêm 2.000 tấn gạo Nói cách khác, khi nền kinh tế ở điểm B, chi phí cơ hội của 2.000 tấn gạo là 2.000.000

chiếc áo Chi phí cơ hội của gạo là số lượng áo bị mất đi để sản xuất thêm 1 tấn gạo

Gạo

4.000 2.000

7.000

9.000

Áo

Trang 28

1.3 Ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế

1.3.1 Ba vấn đề cơ bản

Vì nguồn lực là khan hiếm, mọi quyết định lựa chọn trong sản xuất

và tiêu dùng của các tác nhân kinh tế đều phải đảm bảo sử dụng đầy đủ và hiệu quả nguồn lực Để sử dụng nguồn lực hiệu quả, các quyết định lựa chọn phải trả lời tốt ba câu hỏi nền tảng được gọi là ba vấn đề cơ bản của kinh tế học, đó là:

− Sản xuất cái gì?

− Sản xuất như thế nào?

− Sản xuất cho ai?

Sản xuất cái gì?

Sản xuất cái gì là vấn đề cơ bản đầu tiên cần phải trả lời Vấn đề này

có thể được hiểu như là: “Hàng hóa và dịch vụ nào sẽ được sản xuất?”

Vì nguồn lực khan hiếm nên không thể nào đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội Trong khả năng hiện có, xã hội phải lựa chọn để sản xuất một số loại hàng hóa và dịch vụ nhất định Việc lựa chọn loại hàng hóa và dịch vụ gì nên được ưu tiên sản xuất sẽ được căn cứ vào nhiều yếu tố như cầu của thị trường, khả năng về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh, giá cả trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu trực tiếp nhất giúp người sản xuất quyết định sản xuất cái gì

Sản xuất như thế nào?

Sau khi quyết định được loại hàng hóa và dịch vụ gì nên được sản

xuất, xã hội phải trả lời câu hỏi quan trọng thứ hai là “Sản xuất như thế nào?” Vấn đề thứ hai này có thể phát biểu một cách hoàn chỉnh như sau

“Hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bằng cách nào?” Câu hỏi thứ hai liên quan đến việc lựa chọn những nguồn lực, phương pháp và công nghệ thích

hợp để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Đồng thời, giải quyết vấn đề “Sản xuất như thế nào?” cũng chính là tìm câu trả lời cho những câu hỏi sau:

hàng hóa và dịch vụ đó nên sản xuất ở đâu? sản xuất bao nhiêu? khi nào thì sản xuất và cung cấp? tổ chức và quản lý các khâu từ lựa chọn đầu vào đến tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ ra sao?

Trang 29

Sản xuất cho ai?

Sau khi xác định được loại hàng hóa, dịch vụ nào nên được sản xuất

và phương pháp sản xuất các loại hàng hóa, dịch vụ đó, xã hội còn phải

giải quyết vấn đề cơ bản thứ ba là “Sản xuất cho ai?” Vấn đề này có thể

được hiểu là “Ai sẽ nhận hàng hóa và dịch vụ?” Câu hỏi này liên quan đến việc lựa chọn phương pháp phân phối những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra đến người tiêu dùng như thế nào Tất nhiên, vì nguồn lực là khan hiếm, sẽ có cạnh tranh trong tiêu dùng và trên thị trường tự do cạnh tranh thì hàng hóa và dịch vụ sẽ thuộc về người tiêu dùng có khả năng thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được chính phủ xem xét và điều tiết thông qua các chính sách về giá cả, thuế và trợ cấp, nhằm đảm bảo cho những người nghèo, khó khăn, có thu nhập thấp cũng được hưởng những thành quả từ nguồn lực của xã hội

1.3.2 Hệ thống các nền kinh tế

Một nhiệm vụ chủ chốt của kinh tế học là nghiên cứu và giải thích những cách thức khác nhau mà xã hội trả lời ba vấn đề kinh tế cơ bản, đó

là: sản xuấtcái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Các xã hội khác

nhau được tổ chức theo những hệ thống kinh tế khác nhau và kinh tế học nghiên cứu những cơ chế phối hợp khác nhau mà xã hội có thể vận dụng

để phân bổ các nguồn lực bị giới hạn của quốc gia

Ngày nay, chúng ta có thể phân biệt rõ hai phương thức cơ bản trong tổ chức nền kinh tế Ở một phía, chính phủ đưa ra hầu hết các quyết định kinh

tế và ở phía còn lại, toàn bộ các quyết định đều do thị trường xác định

1.3.2.1 Nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường (market economy) là nền kinh tế mà mà tất

cả các quyết định kinh tế được thực hiện bởi các cá nhân (hộ gia đình)

và các doanh nghiệp mà không có sự can thiệp của chính phủ (Sloman,

2006) Cụ thể, các cá nhân và các doanh nghiệp đưa ra các quyết định chủ yếu về sản xuất và tiêu dùng Hệ thống giá cả, thị trường, lợi nhuận

và thua lỗ, khuyến khích và khen thưởng sẽ xác định vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Các doanh nghiệp sẽ sản

Trang 30

xuất để thu được lợi nhuận tối đa (vấn đề cái gì) bằng các kỹ thuật sản xuất có chi phí thấp nhất (vấn đề thế nào) Việc tiêu dùng được xác định

thông qua các quyết định cá nhân về việc nên chi tiêu tiền lương và thu nhập từ tài sản có được do lao động và sở hữu tài sản của họ như thế nào

(vấn đề cho ai) Nhiệm vụ của chính phủ là thiết lập một hệ thống pháp

luật bảo vệ tài sản tư nhân và các hợp đồng thỏa thuận để các cá dân và các doanh nghiệp có thể kiểm soát và thực hiện hoạt động kinh tế của

họ Trong nền kinh tế thị trường, sự tác động của chính phủ rất giới hạn, thậm chí chính phủ hầu như không có vai trò kinh tế nào và đây được gọi

là nền kinh tế thị trường tự do hoàn toàn

Những tiêu chí của nền kinh tế thị trường: Bộ Thương mại Hoa Kỳ và

Liên minh Châu Âu (EU) không đề rõ ranh giới mà một nền kinh tế phi thị trường và một nền kinh tế thị trường Hoa Kỳ và EU chỉ đưa ra tiêu chí khái quát nhằm xác định nền kinh tế thị trường Sự khác biệt cơ bản giữa các tiêu chí của Hoa Kỳ và các tiêu chí của EU là Hoa Kỳ đánh giá các nước trong khi EU đánh giá các doanh nghiệp

Những tiêu chí của nền kinh tế thị trường do Hoa Kỳ đưa ra theo

iii) Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với sự phân bổ các nguồn lực

và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp;

iv) Mức độ mà các mức tiền lương lao động ở nước đó được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và người sử dụng lao động;v) Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động ở nước đó;

vi) Những yếu tố khác mà cơ quan quản lý thấy phù hợp

Cũng theo Polouektov (2002), những tiêu chí của nền kinh tế thị trườngdo EU đưa ra bao gồm:

Trang 31

i) Tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ được thực hiện theo giá thị trường;ii) Các quyết định của doanh nghiệp về giá cả, chi phí và đầu vào – gồm chi phí nguyên vật liệu, công nghệ và lao động, sản lượng, doanh số

và đầu tư – được đưa ra để đáp ứng với những tín hiệu thị trường phản ánh cung và cầu, không có sự can thiệp đáng kể nào của chính phủ và chi phí của những đầu vào chính về cơ bản phản ánh giá thị trường;

iii) Các doanh nghiệp có một loạt các sổ sách kế toán cơ bản rõ ràng, được kiểm toán độc lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các mục đích;

iv) Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không chịu sự bóp méo đáng kể dưới tác động của hệ thống kinh tế phi thị trường;v) Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định về pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động;

vi) Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định về pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động

Một nền kinh tế đáp ứng được những tiêu chí trên sẽ được Hoa Kỳ hoặc EU công nhận là nền kinh tế thị trường

Những ưu điểm và nhược điểm của nền kinh tế thị trường:

Ưu điểm: Sức ép của cạnh tranh buộc những nhà sản xuất phải giảm

chi phí sản xuất bằng cách áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất như không ngừng đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý, nâng cao hiệu quả.Trong nền kinh tế thị trường, việc phân phối các yếu tố sản xuất, vốn đều tuân theo nguyên tắc của thị trường (chuyển đến nơi được sử dụng với hiệu quả cao nhất) do

đó các nguồn lực kinh tế được phân bố một cách tối ưu

Nhược điểm:Động cơ vì mục tiêu tối đa hóa dẫn đến nguy cơ vi phạm

pháp luật, tạo ra sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, tình trạng độc quyền ngày càng lớn trong nền kinh tế, thông tin bất cân xứng giữa người mua và người bán, thiếu vốn đầu tư cho hàng hóa công cộng dẫn đến lợi

Trang 32

ích chung của xã hội sẽ bị tổn hại.Ngoài ra, cơ chế thị trường không thể tránh khỏi sức ép từ các vấn đề về chính sách công trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay như chu kỳ kinh doanh dẫn đến tình trạng lạm phát cao hay

tỷ lệ thất nghiệp cao trong nền kinh tế, ô nhiễm môi trường, nghèo đói và các rào cản thương mại quốc tế

Những đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch đó là:

− Thứ nhất, Quyền sở hữu công cộng đối với mọi nguồn lực;

− Thứ hai, Quyền đưa ra các quyết định kinh tế bởi chính phủ thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung Chính phủ quyết định cơ cấu các ngành, đơn vị sản xuất và phân bổ sản lượng và các nguồn lực sử dụng để tổ chức quá trình sản xuất

Các doanh nghiệp sở hữu bởi chính phủ và sản xuất theo định hướng của Chính phủ giao kế hoạch sản xuất và định mức chi tiêu cho các doanh nghiệp và hoạch định phân bổ nguồn lực cụ thể cho các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu sản xuất

1.3.2.3 Nền kinh tế hỗn hợp

Rất hiếm các nền kinh tế của các quốc gia hiện nay hoàn toàn nằm

ở một trong hai thái cực đó mà đa phần các nền kinh tế đều là các nền kinh tế hỗn hợp (mixed economy).Nền kinh tế hỗn hợp là một nền kinh

tế mà các quyết định kinh tế được thực hiện bởi chính phủ và cơ chế thị trường(Sloman, 2006).Nền kinh tế hỗn hợp phát huy ưu điểm của nền kinh

tế thị trường, đồng thời tăng cường vai trò của chính phủ trong việc điều chỉnh các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường

Trang 33

Vai trò kinh tế của chính phủ

Thiết lập khuôn khổ pháp luật: đề ra các quy tắc mà doanh nghiệp,

người tiêu dùng và cả chính phủ cũng phải tuân theo Bao gồm: các quy định về tài sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh, trách nhiệm hỗ trợ của các liên đoàn lao động, ban quản lý và các luật lệ để xác định môi trường kinh tế

Sửa chữa, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường:

+ Can thiệp để hạn chế độc quyền

+ Can thiệp vào các tác động bên ngoài như hạn chế sự ô nhiễm môi trường, khai thác bừa bãi tài nguyên,

+ Đảm nhiệm việc sản xuất các hàng hóa công cộng cần thiết, có ý nghĩa quan trọng mà tư nhân không muốn hoặc không thể sản xuất (quốc phòng, an ninh, )

+ Thu thuế để đảm bảo hoạt động của Chính phủ, phân phối lại thu nhập,…

+ Trợ cấp người cao tuổi, tàn tật, thất nghiệp, người có thu nhập thấp,…

+ Tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô: Chính phủ sử dụng các chính sách tiền tệ, tài chính tác động tới chu kỳ kinh doanh, giải quyết tình trạng thất nghiệp, chống trì trệ, lạm phát,

Nền kinh tế hỗn hợp có thể được thể hiện bằng cách sử dụng một sơ

đồ như hình 1.3 Sơ đồ rất hữu ích trong việc cung cấp một bức tranh đơn giản của nền kinh tế hỗn hợp thực tế tồn tại trên thế giới

Hình 1.3 Mức độ tự do hóa thị trường ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ

 Đảm nhiệm việc sản xuất các hàng hóa công cộng cần thiết, có ý nghĩa quan trọng

mà tư nhân không muốn hoặc không thể sản xuất (quốc phòng, an ninh, )

 Thu thuế để đảm bảo hoạt động của Chính phủ, phân phối lại thu nhập,…

 Trợ cấp người cao tuổi, tàn tật, thất nghiệp, người có thu nhập thấp,…

 Tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô: Chính phủ sử dụng các chính sách tiền tệ, tài chính tác động tới chu kỳ kinh doanh, giải quyết tình trạng thất nghiệp, chống trì trệ, lạm phát,

Nền kinh tế hỗn hợp có thể được thể hiện bằng cách sử dụng một sơ đồ như hình 1.3

Sơ đồ rất hữu ích trong việc cung cấp một bức tranh đơn giản của nền kinh tế hỗn hợp thực tế tồn tại trên thế giới

Nguồn: Sloman (2006)

Hình 1.3 Mức độ tự do hóa thị trường ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ

Hiện nay, để đo lường mức độ tự do nền kinh tế của các quốc gia ta có thể sử dụng chỉ

số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom) được công bố thường niên bởi tạp chí Phố Wall (The Wall Street Journal) và Quỹ Di sản (The Heritage Foundation)

1.3.3 Mô hình nền kinh tế

Để hiểu được nền kinh tế vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét các thành phần của nền kinh tế và sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần này Trong nền kinh tế giản đơn, các thành phần của nền kinh tế bao gồm: Hộ gia đình, Doanh nghiệp và Chính phủ

Hộ gia đình: bao gồm một nhóm người chung sống với nhau như một đơn vị ra quyết

định Một hộ gia đình có thể gồm một người, nhiều gia đình, hoặc nhóm người không có quan hệ nhưng chung sống với nhau

Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ

Doanh nghiệp: là tổ chức kinh doanh, sở hữu và điều hành các đơn vị kinh doanh của

nó Đơn vị kinh doanh là một cơ sở trực thuộc dưới hình thức nhà máy, nông trại, nhà bán buôn, bán lẻ hay nhà kho mà nó thực hiện một hoặc nhiều chức năng trong việc sản xuất, phân phối hàng hóa hay dịch vụ

Một doanh nghiệp có thể chỉ có một đơn vị kinh doanh, hoặc cũng có thể có nhiều đơn vị kinh doanh Trong khi đó một ngành gồm một nhóm các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tự nhau

Kinh tế kế hoạch hóa

Trang 34

Hiện nay, để đo lường mức độ tự do nền kinh tế của các quốc gia ta

có thể sử dụng chỉ số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom) được công bố thường niên bởi tạp chí Phố Wall (The Wall Street Journal) và Quỹ Di sản (The Heritage Foundation)

1.3.3 Mô hình nền kinh tế

Để hiểu được nền kinh tế vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét các thành phần của nền kinh tế và sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần này Trong nền kinh tế giản đơn, các thành phần của nền kinh tế bao gồm: Hộ gia đình, Doanh nghiệp và Chính phủ

Hộ gia đình: bao gồm một nhóm người chung sống với nhau như

một đơn vị ra quyết định Một hộ gia đình có thể gồm một người, nhiều gia đình, hoặc nhóm người không có quan hệ nhưng chung sống với nhau

Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản

lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ

Doanh nghiệp: là tổ chức kinh doanh, sở hữu và điều hành các đơn

vị kinh doanh của nó Đơn vị kinh doanh là một cơ sở trực thuộc dưới hình thức nhà máy, nông trại, nhà bán buôn, bán lẻ hay nhà kho mà nó thực hiện một hoặc nhiều chức năng trong việc sản xuất, phân phối hàng hóa hay dịch vụ

Một doanh nghiệp có thể chỉ có một đơn vị kinh doanh, hoặc cũng

có thể có nhiều đơn vị kinh doanh Trong khi đó một ngành gồm một nhóm các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tự nhau

Hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bằng cách sử dụng các nguồn lực sản xuất mà các nhà kinh tế gọi các yếu tố sản xuất Các yếu tố sản xuất được Parkin và cộng sự (2005) phân thành bốn nhóm sau đây:

Tài nguyên thiên nhiên (natural resources):Trong kinh tế, tài

nguyên thiên nhiên còn được gọi là“quà tặng của thiên nhiên” Nó bao gồm đất, quặng kim loại, dầu, khí đốt và than đá, nước và không khí

Lao động (Labour): Thời gian làm việc và nỗ lực làm việc mà cá

nhân dùng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ được gọi là lao động Lao động

Trang 35

bao gồm lao động thể chất và những nỗ lực tinh thần của những người làm việc Chất lượng lao động phụ thuộc vào vốn con người (human capital),

đó là những kiến thức và kỹ năng mà cá nhân có được từ giáo dục, đào tạo nghề và kinh nghiệm làm việc

Vốn (Capital): Các công cụ, dụng cụ, máy móc, nhà cửa và các công

trình xây dựng khác mà các doanh nghiệp hiện đang sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ được gọi là vốn Trong ngôn ngữ hàng ngày, chúng ta thường cho rằng vốn là tiền,cổ phiếu và trái phiếu và đây được gọi là vốn tài chính (financial capital) Vốn tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người đi vay tiến hành kinh doanh và cung cấp nguồn lực tài chính cho các doanh nghiệp để chuyển hóa thành các nguồn lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ

- Quản lý (Entrepreneurship): Người quản lý thực hiện các cải tiến trong việc kết hợp các nguồn lực (tài nguyên thiên nhiên, lao động và vốn)

để tạo ra hàng hóa và dịch vụ; đưa ra các quyết định về chiến lược và chính sách: kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, phương thức quản lý

Chính phủ: là một tổ chức gồm nhiều cấp, ban hành các luật, qui

định, chính sách và vận hành nền kinh tế theo một cơ chế dựa trên luật Chính phủ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cộng như: an ninh quốc phòng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giao thông, giáo dục Bằng cách thay đổi và điều chỉnh luật, qui định vàchính sách, chính phủ có thể tác động đến sự lựa chọn trong tiêu dùng của các hộ gia đình và sản xuất của các doanh nghiệp

Trang 36

Hình 1.4 Sơ đồ chu chuyển nền kinh tế

Hình 1.4 mô tả mối quan hệ giữa các thành phần trong nền kinh tế thông qua các tương tác trên thị trường hàng hóa và dịch vụ và thị trường nguồn lực Dòng tiền tệ đi kèm với dòng dịch chuyển hàng hóa và dịch

vụ và nguồn tài nguyên Hộ gia đình sử dụng thu nhập (từ việc cung cấp nguồn lực) để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Các doanh nghiệp chỉ có thể trả tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và thu lợi nhuận từ doanh thu do bán hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình Chính phủ thu thuế từ hộ gia đình và doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ công cộng trở lại Để tạo ra các dịch vụ công cộng, chính phủ mua các nguồn lực từ các hộ gia đình và doanh nghiệp và thanh toán chi phí cho các nguồn lực đó

Thực tế, không phải tất cả thu nhập của hộ gia đình đều chi tiêu hết vào hàng hóa và dịch vụ, một số thu nhập dành để tiết kiệm dưới hình thức đầu tư Khi đó các trung gian tài chính đóng vai trò trung gian trong việc dịch chuyển nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp.18

Hình 1.4 Sơ đồ chu chuyển nền kinh tế

Hình 1.4 mô tả mối quan hệ giữa các thành phần trong nền kinh tế thông qua các

tương tác trên thị trường hàng hóa và dịch vụ và thị trường nguồn lực Dòng tiền tệ đi kèm

với dòng dịch chuyển hàng hóa và dịch vụ và nguồn tài nguyên Hộ gia đình sử dụng thu

nhập (từ việc cung cấp nguồn lực) để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Các

doanh nghiệp chỉ có thể trả tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và thu lợi nhuận từ doanh thu

do bán hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình Chính phủ thu thuế từ hộ gia đình và

doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ công cộng trở lại Để tạo ra các dịch vụ công cộng,

chính phủ mua các nguồn lực từ các hộ gia đình và doanh nghiệp và thanh toán chi phí

cho các nguồn lực đó

Thực tế, không phải tất cả thu nhập của hộ gia đình đều chi tiêu hết vào hàng hóa và

dịch vụ, một số thu nhập dành để tiết kiệm dưới hình thức đầu tư Khi đó các trung gian

tài chính đóng vai trò trung gian trong việc dịch chuyển nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư

của doanh nghiệp

Nguồn lực sản xuất

Nguồn lực sản xuất

Chi phí sử dụng

nguồn lực

Nguồn lực sản xuất

Trang 37

Tóm tắt chương

1 Mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn và nguồn lực hữu hạn làm xuất hiện khái niệm sự khan hiếm Quy luật khan hiếm đòi hỏi các cá nhân và xã hội đưa ra quyết định lựa chọn Kinh tế học nghiên cứu sự lựa chọn trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, đó là vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?

2 Kinh tế học được chia thành hai lĩnh vực: kinh tế học vi mô và kinh

tế học vĩ mô Kinh tế học vi mô nghiên cứu quá trình ra quyết định của các hộ gia đình và doanh nghiệp cũng như sự tương tác giữa hộ gia đình

và doanh nghiệp trên thị trường Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế trên phạm vi tổng thể

3 Kinh tế học thực chứng là việc sử dụng các lý thuyết và mô hình để

lý giải, dự báo các hiện tượng kinh tế đã, đang và sẽ diễn ra dưới tác động của sự lựa chọn Kinh tế học chuẩn tắc tiếp cận các vấn đề theo quan điểm đánh giá về giá trị “nên làm thế nào”

4 Chi phí cơ hội của một phương án sử dụng nguồn lực nào đó là phần lợi ích bị mất đi do không đầu tư vào phương án tốt nhất trong số các phương án còn lại bị bỏ qua

5 Đường giới hạn khả năng sản xuất biểu hiện các phối hợp hàng hóa tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất ra khi toàn bộ nguồn lực sẵn có của

xã hội được sử dụng hết

6 Sơ đồ chu chuyển nền kinh tế thể hiện quan hệ cách thức tổ chức của nền kinh tế và phương thức tác động qua lại giữa chủ thể tham gia vào nền kinh tế, đó là: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ

Trang 38

Câu hỏi thực hành

1

Trình bày ba vấn đề kinh tế cơ bản của một nền kinh tế

Bài làm

2

Quy luật khan hiếm là gì ?

Bài làm

Trang 39

3

Trình bày cách thức giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản trong các nền kinh tế khác nhau

Bài làm

4

Hãy phân biệt giữa Kinh tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô? Cho

ví dụ minh họa

Bài làm

Trang 40

5

Hãy phân biệt giữa Kinh tế học thực chứng và Kinh tế học chuẩn tắc? Cho ví dụ minh họa.

Bài làm

6

Chi phí cơ hội là gì? Trình bày quy luật chi phí cơ hội tăng dần, cho

ví dụ minh họa

Bài làm

Ngày đăng: 20/08/2022, 12:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN