Hiệu xuất theo qui mô

Một phần của tài liệu giáo trình kinh tế vĩ mô (Trang 175 - 178)

CHƯƠNG 4: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NHÀ SẢN XUẤT

4.1. LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT

4.1.7 Hiệu xuất theo qui mô

Một khía cạnh khác của việc đo lường tác động của sự thay đổi của cả hai yếu tố đầu vào đến sự thay đổi của sản lượng là nghiên cứu hiệu suất theo quy mô của một quá trình sản xuất. Chúng ta hãy xem xét sản lượng sẽ thay đổi như thế nào khi số lượng các yếu tố đầu vào đồng loạt tăng lên theo cùng một tỷ lệ.

Nếu một hàm sản xuất có dạng Q1 = f(K,L) và tất cả yếu tố đầu vào được tăng theo một tỷ lệ γ kết quả dẫn đến sản lượng gia tăng với tỷ lệ δ .

δQ= f(γ.K,γ.L)

176

− Nếu δ >γ , ta gọi sản xuất có hiệu suất theo qui mô tăng.

− Nếu δ = γ , đó là sản xuất có hiệu suất theo qui mô không thay đổ.

− Nếu δ <γ , ta gọi sản xuất có hiệu suất theo qui mô giảm.

Thông thường hàm sản xuất được sử dụng để phân tích thường là hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng: Q1 = A.Kα.Lβ; với 0<α,β <1, trong đó:

− α là hệ số co giãn của sản lượng theo vốn, thể hiện khi lượng vốn tăng lên 1%, trong khi lượng lao động không thay đổi thì sản lượng sẽ tăng thêm là α %.

− β là hệ số co giãn của sản lượng theo lao động, thể hiện khi lượng lao động tăng lên 1%, trong khi lượng vốn không thay đổi thì sản lượng sẽ tăng thêm làβ %.

Nếu gia tăng lượng vốn và lao động lên m lần thì sản lượng tương ứng là Q2:

(mK) (α mK

A

Q2 = . . . . . 1

. . .

Q m

L K A m

β α

β α β α

+ +

=

=

− Nếuα +β >1⇒Q2> m.Q1: hàm Cobb-Douglas có hiệu suất tăng dần theo qui mô.

− Nếuα +β=1⇒Q2= m.Q1: hàm Cobb-Douglas có hiệu suất không đổi theo qui mô.

− Nếu α+β<1⇒Q2< m.Q1: hàm Cobb-Douglas có hiệu suất giảm dần theo qui mô.

Việc nghiên cứu hiệu suất theo quy mô của sản xuất giúp ích cho chúng ta điều gì? Một quá trình sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng có thể xảy ra do công nhân và các nhà quản lý được chuyên môn hóa cao hơn giúp họ khai thác các máy móc, thiết bị sẵn có hiệu quả hơn. Dây chuyền sản xuất xe ô-tô hay điện lực là các thí dụ cụ thể về hiệu suất theo quy mô tăng. Nếu một quá trình sản xuất có hiệu suất quy mô tăng thì chi phí sản xuất sẽ giảm vì khi đó sản lượng tăng nhanh hơn số lượng các yếu tố đầu vào.

177 Thực tế, một số quá trình sản xuất má khi ta tăng tất cả các số lượng đầu vào thì sản lượng sẽ tăng lên với tỷ lệ lớn hơn, chi phí trung bình giảm dần và hiệu suất sẽ tăng dần. Ðây l quy luật kinh tế chi phối hầu hết các quá trình sản xuất kinh doanh trong dài hạn. Vì khi sản xuất với quy mô lớn chúng ta sẽ có điều kiện:

− Tiết kiệm các khoản chi phí gián tiếp sản xuất.

− Thực hiện phân công chuyên môn hoá lao động.

− Sử dụng các loại máy móc và dây chuyền hiện đại.

Các nhà lập chính sách cũng rất quan tâm đến hiệu suất theo quy mô của một quá trình sản xuất. Nếu quá trình sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng thì việc tổ chức một doanh nghiệp sản xuất lớn sẽ có hiệu quả kinh tế hơn nhiều so với nhiều doanh nghiệp nhỏ. Chẳng hạn, hiệu suất theo quy mô tăng trong ngành điện lực giải thích lý do vì sao chúng ta lại có những công ty điện lực lớn và chịu sự điều tiết của chính phủ.

Trong trường hợp hiệu suất theo quy mô cố định, quy mô của doanh nghiệp không ảnh hưởng đến năng suất của các đầu vào. Năng suất trung bình và năng suất biên không thay đổi cho dù nhà máy lớn hay nhỏ. Các doanh nghiệp nhỏ cũng có thể có hiệu quả như các doanh nghiệp lớn.

Trong thực tế có một số quá trình sản xuất mà chúng ta nhận thấy rằng:

nếu tăng số lượng của tất cả các đầu vào, thì số lượng đầu ra cũng tăng theo cùng một tỷ lệ. Như vậy khi chúng ta thay đổi quy mô sản xuất thì chi phí trung bình vẫn không đổi nên hiệu suất cũng không đổi. Trường hợp này thông thường xảy ra ở các nghành mang tính chất thủ công. Ví dụ, trong nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu trước đây nếu chúng ta tăng gấp đôi diện tích đất trồng trọt, giống cây, lao động, phân bón… thì sản lượng thu hoạch sẽ tăng gấp đôi.

Cuối cùng, một quá trình sản xuất có hiệu suất theo quy mô giảm thường xảy ra đối với các doanh nghiệp có quy mơ lớn. Những khó khăn về quản lý sẽ phát sinh khi quy mô của doanh nghiệp tăng vượt qu khả năng quản lý của ban giám đốc. Điều này có thể làm giảm năng suất của các yếu tố sản xuất do nhà quản lý không thể quan tâm đúng mức đến việc

178

sử dụng tất cả các đầu vào. Do vậy, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ sẽ hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp lớn.

Có thể minh họa những điều trên bằng việc xem xét sự thay đổi của năng suất lao động trung bình (APL) khi tăng các yếu tố đầu vào của các hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô khác nhau. Ta có công thức tính năng suất trung bình như sau:

APL Q f K L( , )

L L

= =

Khi tăng vốn và lao động gấp m lần, thì năng suất lao động trung bình, lúc này trở thành: APL f mK mL( , )

= mL Các trường hợp của hàm APL:

(i) Trường hợp hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng, ta có:

f(mK, mL) > mf(K, L). Do vậy, APL’ > APL, có nghĩa l khi ta tăng các yếu tố đầu lên thì năng suất lao động trung bình cũng tăng lên. Ðiều này có thể làm giảm chi phí để sản xuất ra một sản phẩm.

(ii) Trường hợp hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô cố định, ta có:

f(mK, mL) = mf(K, L). Do vậy, APL’ = APL, có nghĩa khi ta tăng các yếu tố đầu vào lên thì năng suất lao động trung bình không đổi và như vậy chi phí sản xuất ra một sản phẩm sẽ không đổi.

(iii) Trường hợp hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô giảm, ta có:

f(mK, mL) < mf(K, L). Do vậy, APL’ < APL, có nghĩa l khi ta tăng các yếu tố đầu vào lên thì năng suất lao động trung bình sẽ giảm xuống. Ðiều này có thể làm tăng chi phí sản xuất.

Một phần của tài liệu giáo trình kinh tế vĩ mô (Trang 175 - 178)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(243 trang)