Trong bài này, người học sẽ được tiếp cận các nội dung: • Cơ sở lý thuyết về sở thích của người tiêu dùng, phân tích đường bàng quan, các đặc trưng của đường bàng quan, quy luật lợi ích cận biên giảm dần và ý nghĩa của nó. • Xây dựng phương trình giới hạn ngân sách, đường ngân sách; phân tích tác động của sự thay đổi thu nhập, sự thay đổi giá cả đến đường ngân sách. • Điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng (chủ yếu phân tích đối với hàng hóa thông thường).
Trang 1ý nghĩa của nó
Xây dựng phương trình giới hạn ngân sách, đường ngân sách; phân tích tác động của sự thay đổi thu nhập, sự thay đổi giá cả đến đường ngân sách
Điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng (chủ yếu phân tích đối với hàng hóa thông thường)
Xác định được các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi lựa chọn của người tiêu dùng
Tiếp cận được mô hình toán để xác định
lựa chọn tiêu dùng cá nhân nhằm đạt
mục tiêu tối đa hóa lợi ích
Giải thích được mối quan hệ giữa cân
bằng tiêu dùng và đường cầu cá nhân
Phân tích được tác động thu nhập và tác
động của giá cả đến sự lựa chọn tiêu
dùng cá nhân
Thời lượng học
8 tiết học: 5 tiết lý thuyết và 3 tiết thảo luận
Đọc giáo trình trước lúc nghe giảng
Sử dụng tốt các phương pháp và công
cụ trong kinh tế học (bao gồm kiến thức đại số và hình học lớp 12) để phân tích và nghiên cứu bài học
Thực hành thường xuyên và liên tục các bài tập vận dụng để hiểu được lý thuyết và bài tập thực hành
BÀI 3: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 2Bài này đề cập một cách chi tiết về lý thuyết lựa chọn tiêu dùng Trong khi cầu cá nhân đối với một hàng hóa cụ thể được xác định thông qua mối quan hệ giữa giá và lượng hàng hóa mà cá nhân mong muốn tiêu dùng Để giải thích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng, các nhà kinh tế vận dụng lý thuyết lợi ích Khi học bài này học viên cần đặt mình vào hoàn cảnh của người tiêu dùng để hình dung về sở thích và khả năng thu nhập có hạn của mình để từ đó xem xét mình đang và đã lựa chọn tối ưu chưa? Trong quá trình học, “người học thử tìm cách tối ưu hoá” chi tiêu mà hàng tháng nhận được từ tiền công hoặc từ người khác và “thời gian cũng có giới hạn” sao cho mình cảm thấy hài lòng nhất
3.1 Sở thích của người tiêu dùng và đường bàng quan
Sở thích hay còn gọi là thú vui, thú tiêu khiển là những hoạt động thường xuyên hoặc theo thói quen để đem lại cho con người niềm vui, sự phấn khởi trong khoảng thời gian thư giãn, sở thích cũng chỉ về sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định Sở thích của con người thường có đối tượng rất rộng và không giống nhau
3.1.1 Một số giả thiết cơ bản về hành vi của người tiêu dùng
Thông tin hoàn hảo: Chúng ta giả định rằng
người tiêu dùng có thông tin đầy đủ liên quan tới
những quyết định tiêu dùng của họ Họ biết toàn
bộ các loại hàng hóa và dịch vụ hiện có và khả
năng đem lại lợi ích của từng loại hàng hóa và
dịch vụ đó Thông tin hoàn hảo là một giả định ít
xảy ra trên thực tế, nhưng giả định về thông tin
hoàn hảo không làm bóp méo những khía cạnh
liên quan đến quyết định người tiêu dùng trên
thực tế
Sở thích có tính chất hoàn chỉnh: Giả định này
cho rằng, người tiêu dùng là những người có lý trí, họ có thể sắp xếp tất cả các giỏ hàng hóa sẵn có
Ví dụ: Giả sử một người tiêu dùng phải lựa chọn hai giỏ hàng hóa Khi xếp thứ tự ưu tiên, một người có thể có một trong ba phản ứng: (1) thích giỏ hàng hóa A hơn giỏ hàng hóa B, (2) thích giỏ hàng hóa B hơn giỏ hàng hóa A, hoặc (3) hài lòng với cả hai giỏ hàng hóa
Sở thích của người tiêu dùng có tính chất bắc
cầu: Nếu có ba giỏ hàng hóa A, B và C, và nếu
người tiêu dùng thích A hơn B và B hơn C, thì
giỏ hàng hóa A phải được thích hơn giỏ hàng hóa
C Hoặc nếu người tiêu dùng là thấy A và B như
nhau và thích B hơn C, thì A phải được thích hơn
C Nếu người tiêu dùng có thế xếp thứ tự ưa thích
đối với bất kỳ hai giỏ hàng hóa nào, thì họ có thể
xếp thứ tự ưa thích đối với tất cả các giỏ hàng
hóa và dịch vụ có thể được
Người tiêu dùng thích nhiều hơn là thích ít: Chúng ta giả định rằng người tiêu
dùng luôn luôn thích có nhiều hàng hóa hơn là có ít hàng hóa Chúng ta thừa nhận rằng con người có thể tiêu dùng quá nhiều một hàng hóa hay dịch vụ nào đó khiến họ cảm thấy bão hòa và không muốn tiêu dùng thêm chút nào nữa
Sự đa dạng về chủng loại hàng hóa tiêu dùng
Người tiêu dùng thích nhiều hơn
là thích ít
Trang 3Khi người tiêu dùng sướng và đau cùng SH
Phương tiện đi lại phổ thông nhất của người Việt Nam hiện nay vẫn là xe gắn máy 2 bánh Chính vì thế mà từ trước đến giờ, nếu được sở hữu một chiếc xe máy hàng hiệu như Honda
SH, hay Liberty, Vespa LX… thì đó không chỉ là tài sản mà còn thể hiện “đẳng cấp” của người
sử dụng Có nhiều ý kiến trái chiều nhau, người thì cho rằng thị trường xe sang đã mất giá, người thì khẳng định SH mới chỉ là “dân chơi nửa mùa”, có ý kiến thì cho rằng giá rẻ là tốt nhưng không “minh bạch” quyền lợi của người đã sử dụng dòng xe này trước đây (cũng được sản xuất trong nước)…
Khi “công nghệ” làm giá đã lỗi thời
Ở góc độ người tiêu dùng, đầu tiên phải kể lại câu chuyện
này Cứ dòng xe máy mới nào của Honda xuất hiện trên
thị trường thì y như rằng giá của nó bị thổi lên, ít thì vài
triệu và nhiều thì cũng gần chục triệu đồng Câu chuyện
“bán đúng giá hãng” đối với sản phẩm của nhà sản xuất
này hầu như không tồn tại, không có thực trên thị trường,
vì khi xe đến tay người tiêu dùng thì giá của nó đã bị
“nhào nặn” qua các đại lý ủy quyền
Tất nhiên, cái gì cũng có cái giá của nó và người tiêu dùng
cũng không “mù quáng lâu” đến độ phải chi thêm hàng
đống tiền để mua được một chiếc xe, một khi chiếc xe đó không phải là “quý hiếm” nữa Thực
tế nhãn tiền cho thấy, nếu nhiều năm trước, khi một mẫu xe mới nào của hãng này ra thì thời gian đầu rất rầm rộ, nhưng rồi không bao lâu xe nằm đầy kho… chứ không thể “sốt” mãi Và thế là, ai mua trước đành phải “ngậm trái đắng” với đại lý vì khi thấy người mua sau được giảm giá hơn mình rất nhiều Không riêng gì Honda mà các dòng xe của Yamaha cũng bị đẩy giá bán cao hơn giá công bố của hãng Lời giải thích “cũ xì” từ các hãng là họ không kiểm soát được chuyện tự ý tăng giá của các đại lý xem ra không thuyết phục Còn nhớ, khi Yamaha tung chiếc Nouvo LX, giá của xe này đội lên vài triệu đồng, một thời gian sau, khi chiếc Nozza ra mắt, giá cũng đội lên có khi đến gần chục triệu Người tiêu dùng ban đầu hồ hởi, nhưng rồi dần dần cũng nhìn thấy rõ “bản chất thật” của giá xe máy tại Việt Nam: “Công nghệ làm giá trên sự thật thà của người tiêu dùng…(!)” Chính thực tế này mà gần đây tại một số tờ báo mạng hoặc những diễn đàn liên quan đến xe, không ít các lời bình của độc giả hoặc các thành viên diễn đàn đã hô hào nên tẩy chay những thương hiệu xe làm giá, hét giá Mưa dầm thấm lâu, người tiêu dùng có đam mê mấy, có yêu thích chiếc xe đến mấy thì cũng phải “tỉnh táo”
để không bị công nghệ làm giá gây thiệt hại cho kinh tế cá nhân
Chuyện làm giá đã lỗi thời hoặc sẽ không còn đất “dụng võ” khi thị trường có nhiều dòng xe để lựa chọn Hơn thế nữa, khi đã là người tiêu dùng thông minh thì yếu tố chinh phục người mua đâu chỉ đến từ thương hiệu mà còn là chất lượng sản phẩm, hậu mãi, dịch vụ và chính sách giá hợp lý
Đành “bức tử đứa con” thương hiệu
Quay trở lại câu chuyện về chiếc SH mới của Honda Việt Nam vừa mới ra mắt trong tháng qua Dòng xe này có hai mức giá là 66 triệu đồng cho bản 125i và 80 triệu cho phiên bản 150i Khách quan mà nói, có một bộ phận người tiêu dùng đang rất “sướng” khi được dùng Honda
SH với giá rẻ, điều mà họ chờ đợi bao lâu nay mới có “xe sang giá rẻ” Thế nhưng, ở góc nhìn nhạy cảm hơn, nhiều ý kiến cho rằng, đây phải chăng là đòn đánh trực diện của thương hiệu này vào các dòng xe cùng phân khúc giá đang chiếm ưu thế tại Việt Nam như Liberty và Vespa LX… và đã biến thương hiệu hạng sang SH một thời đi làm “bia đỡ đạn” cho phân khúc thị trường này Honda không chính thức phát ngôn cũng không chính thức thừa nhận chuyện này Thôi thì chuyện chiến lược kinh doanh là chuyện của họ…
Tuy nhiên, tại sao lại giảm giá thương hiệu xe sang SH, được người tiêu dùng trong nước
SH mới được Honda Việt Nam
giới thiệu
Trang 4Bình Thạnh, TP.HCM, bức xúc: “Tôi cảm thấy “đau” khi Honda tung ra dòng xe mới này Đau vì chiếc SH của tôi mua trước đó giá 130 triệu cũng do Honda Việt Nam sản xuất, mới đi chưa đầy năm thì giờ xem ra đã mất giá thê thảm Hôm rồi tôi kêu bán không ai muốn mua vì cho rằng để mua SH mới giá rẻ sướng hơn…” Anh cũng cho rằng, làm như vậy là hãng không bảo
vệ quyền lợi cho người tiêu dùng “đến trước”, không phân biệt tên gọi sản phẩm SH mới giá rẻ
có điểm nào “khác biệt cơ bản” với sản phẩm SH trước đây (cùng lắm chỉ là vài điểm thiết kế)
mà đều chung chạ “khoác trên mình” chiếc xe này “là SH” miễn để hút người mua xe? Anh nói:
“Đã là thương hiệu SH thì sao động cơ tổng thành trước đây nhập từ Italy thì nay thay bằng loại eSP lắp ráp tại Việt Nam… Chưa nói, nếu đã nội địa hóa đến 93% thì với mức giá trên liệu
có rẻ hay không?” Có lẽ chính vì thế mà các thành viên Custom bình luận trên VnExpress về dòng xe này đã cho rằng: “Đa số người dùng trước đây khoái dòng xe này nhưng nay lại chê vì
sử dụng SH từ nay đâu còn… đẳng cấp”
“Đẳng cấp” ở đây không thể hiểu là bị giảm do giảm giá bán mà là nhiều thứ khác Một chiếc
SH nhập từ Ý trước đây có giá khá cao là chuyện không thể so sánh vì còn liên quan nhiều thứ khác Tuy nhiên, một chiếc SH Việt Nam trước đây giá cũng cao ngất, cao hơn dòng SH mới gần 40% Có chuyện như vậy vì dòng SH trước đây tỉ lệ nội địa hóa là 13% và bây giờ là 93% Vậy nên hiểu cả 2 dòng SH đều được sản xuất tại Việt Nam thời gian qua và gần đây là chủ trương nội địa hóa “nhỏ giọt”? Đành rằng nội địa hóa là tốt, thậm chí nếu chiếc xe được nội địa hóa 100% thì lại là điều rất đáng mừng cho ngành công nghiệp và phụ trợ nước nhà Nhưng, câu chuyện nội địa hóa và câu chuyện sử dụng hình ảnh thương hiệu là hai câu chuyện khác nhau Trạng thái của người tiêu dùng lúc này là cảm thấy bị bỏ rơi hoặc bị “hớ” khi nhà sản xuất đem “đại hạ giá” cho một dòng thương hiệu mà họ đã tôn sùng Bị bỏ rơi vì họ đã tốn quá nhiều tiền để mua sản phẩm giá trị cao, về chất lượng và thương hiệu, thì nay nhìn thấy nó được bán với giá thấp hơn
Và cũng từ đây, người ta đã nhận ra rằng, hóa ra mình đã tốn rất nhiều tiền cho một thương hiệu SH để rồi giờ đây khi chính thương hiệu đó đã quay lại làm mất giá mình Quả thật, sử dụng SH “sướng” mà “đau”!
Nguồn: Diễn đàn Doanh nghiệp
3.1.2 Lợi ích (độ thỏa dụng) và lợi ích cận biên (độ thỏa dụng cận biên)
Case study 3.1 cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về hành vi lựa chọn của người tiêu dùng Với một mức ngân sách có hạn, người tiêu dùng hiện nay đã trở nên thông minh hơn trong việc lựa chọn hàng hóa dịch vụ với chất lượng cao, giá thành thấp, dịch vụ hậu mãi
Nhìn chung, các mong muốn của người tiêu dùng về một sản phẩm cụ thể có thể được đáp ứng đầy đủ trong một khoảng thời gian nhất định với giả định sở thích không thay đổi Tuy nhiên, càng có nhiều sản phẩm thì mong muốn trên mỗi đơn vị sản phẩm đó sẽ ít
đi Để giải thích cho điều này, chúng ta hãy xem xét khái niệm về lợi ích và lợi ích biên
Lợi ích (hay còn gọi là độ thỏa dụng) là mức độ thỏa mãn (hài lòng) mà người tiêu dùng
có được từ việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ Lợi ích ngụ ý sự hữu ích, và rất nhiều sản phẩm mà hầu hết chúng ta tiêu dùng có thể không có ích
Sở thích của người tiêu dùng có thể được thể hiện bằng hàm lợi ích Hàm lợi ích thể hiện
quan điểm của một cá nhân chỉ ra một sự nhận thức cá nhân về mức lợi ích có thể đạt được từ việc tiêu dùng một giỏ gồm một loại hàng hóa hoặc dịch vụ hay nhiều loại hàng hóa hoặc dịch vụ được kết hợp theo nhiều cách khác nhau Một dạng đơn giản của một hàm lợi ích đối với một người tiêu dùng hai loại hàng hóa X và Y, có thể có dạng:
TU = f(X,Y)
Trang 5Chúng ta có thể xác định hàm lợi ích với nhiều hàng hóa và dịch vụ Hàm lợi ích lúc này
sẽ là: U = f(X1, X2, X3,…, Xn) Trong đó, Xi là lượng hàng hóa và dịch vụ thứ i, và TU là tổng lợi ích phụ thuộc vào số lượng hàng hóa đã tiêu dùng X1, X2, X3,…, Xn Tuy nhiên, chúng ta cần nhấn mạnh rằng phương pháp tiếp cận sử dụng hai loại hàng hóa khiến chúng ta nhận thấy được rất nhiều khái niệm lý thuyết quan trọng để có thể phân tích
được từ mô hình n hàng hóa và những phân tích ít phức tạp hơn rất nhiều
Lợi ích cận biên là sự thay đổi trong tổng lợi ích khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng
hóa Lợi ích cận biên được ký hiệu là MU và được tính theo công thức:
TUMU
Q
Nếu hàm lợi ích là hàm liên tục thì lợi ích cận biên được tính là đạo hàm bậc nhất của hàm tổng lợi ích:
'
MU TU
Ví dụ: Bảng 3.1 minh họa mối quan hệ giữa tổng lợi ích và lợi ích bên liên quan đến tiêu
dùng của cá nhân đối với bánh Trung Thu (trong một khoảng thời gian nhất định) Bảng 3.1 cho thấy, lợi ích biên liên quan đến mỗi chiếc bánh Trung Thu tăng thêm chỉ là mức thay đổi tổng lợi ích khi có thêm một chiếc bánh Trung Thu tiêu dùng Chẳng hạn, lợi ích biên của tiêu dùng chiếc bánh Trung Thu thứ ba là 20 do tổng lợi ích tăng lên 20 đơn
vị (từ 75 lên 95) Khi lợi ích cận biên có giá trị dương, nếu người tiêu dùng tăng lượng tiêu dùng hàng hóa lên thì tổng lợi ích có xu hướng tăng lên Khi lợi ích cận biên bằng không thì tổng lợi ích đạt giá trị cực đại Nếu lợi ích cận biên có giá trị âm, tổng lợi ích
có xu hướng giảm dần khi người tiêu dùng tăng lượng tiêu dùng hàng hóa lên
Bảng 3.1 Lợi ích và lợi ích cận biên
mãn quy luật lợi ích biên giảm dần
Trang 63.1.3 Đường bàng quan
a Khái niệm
Đường bàng quan (đường đồng lợi ích) là tập hợp tất cả những điểm mô tả các kết hợp hàng hóa khác nhau (các giỏ hàng hóa khác nhau) nhưng mang lại lợi ích như nhau đối với người tiêu dùng (hay được người tiêu dùng ưa thích như nhau)
Để hiểu về cách thức xác định đường bàng quan, lấy điểm A làm tâm, chúng ta phân chia thành 4 vùng như hình 3.1 Hình này cho thấy tập hợp tất cả những giỏ hàng hóa nằm ở vùng I (ví dụ giỏ hàng hóa D) là vùng được ưa thích nhất, vùng III là vùng kém được ưa thích nhất (ví dụ giỏ hàng hóa E kém được ưa thích nhất)
Hình 3.1 Phân chia vùng được ưa thích và kém được ưu thích
Người tiêu dùng sẽ bị bàng quan ở vùng II và IV (người tiêu dùng bàng quan giữa các giỏ hàng hóa A, B, và C)
Hình 3.2 miêu tả các giỏ hàng hóa A, B, và C đều có cùng lợi ích là U0 vì chúng nằm trên cùng một đường bàng quan U0
Hình 3.2 Đường bàng quan U 0
b Những tính chất cơ bản của đường bàng quan
Đường bàng quan là một đường dốc xuống về phía phải và không có độ dốc dương: Giả
định này phản ánh thực tế rằng người tiêu dùng đạt được lợi ích từ cả hai loại hàng hóa
Do đó, nếu thêm nhiều hàng hóa X hơn, thì một số lượng hàng hóa Y phải bớt đi để duy trì mức lợi ích nhất định
Đường bàng quan là một đường cong lồi về phía gốc tọa độ: Giả sử một người tiêu dùng
mong muốn lựa chọn thêm lượng hàng hóa X, nhưng vẫn duy trì một mức lợi ích không đổi Người này sẽ phải chấp nhận từ bỏ những đơn vị hàng hóa Y thì mới có thêm được
Trang 7những đơn vị hàng hóa X, khi đó đường bàng quan sẽ dốc xuống và có độ dốc âm Khi lượng hàng hóa Y đánh đổi để có thêm những đơn vị hàng hóa X ngày càng ít đi, hàng hóa Y ngày càng khan hiếm Ngoài ra, sự lựa chọn tiêu dùng của người này tuân theo quy luật lợi ích cận biên giảm dần Tất cả những điều này đều giải thích tại sao đường
bàng quan có dạng cong lồi về phía gốc tọa độ
Các đường bàng quan không bao giờ cắt nhau: Thật vậy, giả sử có hai đường bàng quan
U1 và U2 cắt nhau tại C, được minh họa trên hình 3.3
Hình 3.3 Giả sử có hai đường bàng quan cắt nhau
Trên đường bàng quan U1 xác định được giỏ hàng hóa B có cùng lợi ích với giỏ hàng hóa C Trên đường bàng quan U2 xác định được giỏ hàng hóa A có cùng lợi ích với giỏ hàng hóa C Theo tính chất bắc cầu, ba giỏ hàng hóa A, B, và C có cùng lợi ích như nhau Tuy nhiên, đồ thị cho thấy, giỏ hàng hóa A có lợi ích lớn hơn giỏ hàng hóa B vì có cùng số lượng hàng hóa X, nhưng số lượng hàng hóa Y lớn hơn (Y1 > Y2)
Đường bàng quan của một người tiêu dùng càng xa gốc tọa độ thì biểu thị lợi ích càng tăng lên Hình 3.4 cho thấy, các giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan U0 có lợi ích nhỏ hơn các giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan U1 và nhỏ hơn các giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan U2 (tức là U0< U1< U2) Ví dụ: Lợi ích của giỏ G lớn hơn lợi ích của giỏ A hoặc B hoặc C hoặc E, và lớn hơn lợi ích của giỏ D hoặc giỏ F
Hình 3.4 Đường bàng quan càng xa gốc tọa độ biểu thị lợi ích càng tăng 3.1.4 Tỷ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng
Quy luật lợi ích cận biên giảm dần: Lợi ích cận biên của một hàng hóa có xu hướng
giảm đi khi lượng hàng hóa đó được tiêu dùng nhiều hơn trong một giai đoạn nhất định
Trang 8Hình 3.5 Đường tổng lợi ích và lợi ích cận biên
Do quy luật lợi ích cận biên giảm dần tác động nên khi một người tiêu dùng một loại hàng hóa (ví dụ hàng hóa X), tổng lợi ích và lợi ích cận biên của người này sẽ thay đổi như được minh họa trên hình 3.5 Thêm vào đó, hình 3.5 cho thấy, khi MU > 0, X tăng thì tổng lợi ích TU sẽ tăng Khi MU < 0, X tăng thì tổng lợi ích sẽ giảm Nếu MU = 0 thì
TU sẽ đạt giá trị cực đại
Chúng ta thường giả định rằng do việc tiêu dùng của một loại hàng hóa tăng lên, nên lợi ích cận biên từ một đơn vị hàng hóa thêm vào có xu hướng giảm dần Trong khi lợi ích cận biên có xu hướng giảm dần không thể chứng minh bằng lý thuyết, thì sự giảm dần lợi ích cận biên cho thấy đặc điểm của mô hình tiêu dùng dành cho hầu hết người tiêu dùng đối với phần lớn các loại hàng hóa
Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y (MRS X/Y ) đo lường số đơn vị
hàng hóa Y có thể giảm đi trên mỗi đơn vị hàng hóa X được tăng thêm vào để duy trì mức lợi ích không đổi Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y chính là
tỷ lệ đánh đổi giữa hai hàng hóa để đảm bảo lợi ích trong tiêu dùng không đổi
Hình 3.6 Sự đánh đổi hàng hóa Y cho hàng hóa X
Giá trị của MRS chính là giá trị tuyệt đối độ dốc của đường bàng quan Ban đầu người tiêu dùng lựa chọn tiêu dùng tại A, giả sử người tiêu dùng này muốn nhận được thêm lượng hàng hóa X nhưng vẫn muốn giữ nguyên mức lợi ích ban đầu, khi đó họ phải từ
Trang 9bỏ Y lượng hàng hóa Y để có được X lượng hàng hóa X Khi đó ta có tỷ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng là:
X/Y
YMRS
MUY
Vì thế, tỷ lệ thay thế cận biên có thể được hiểu là tỷ lệ của lợi ích cận biên của hàng hóa
X chia cho lợi ích cận biên của hàng hóa Y:
X X/Y
Y
MUMRS
MU
Giá trị của MRS còn được xác định là giá trị tuyệt đối độ dốc của đường bàng quan
3.1.5 Một số trường hợp đặc biệt của đường bàng quan
Nếu hai hàng hóa X và Y là hai loại hàng hóa bổ sung hoàn hảo cho nhau thì đường bàng quan có dạng góc vuông, được minh họa trên hình 3.7
Hình 3.7 Đường bàng quan đối với hai loại hàng hóa bổ sung hoàn hảo
Hàm tổng lợi ích trong trường hợp này có dạng:
(X,Y)
TU n min aX; bYtrong đó: Các giá trị n, a, b là các tham số
Trang 10Nếu hai hàng hóa X và Y là hai loại hàng hóa thay thế hoàn hảo cho nhau thì đường bàng quan có dạng đường thẳng, được minh họa trên hình 3.8
Hình 3.8 Đường bàng quan đối với hai loại hàng hóa thay thế hoàn hảo
Hàm tổng lợi ích trong trường hợp này có dạng hàm tuyến tính: TU(X,Y) aX bY
3.2 Sự ràng buộc về ngân sách của người tiêu dùng
3.2.1 Đường ngân sách
Giả sử một người tiêu dùng có số tiền là M, sử dụng để mua hai loại hàng hóa là X và Y với giá tương ứng là PX và PY Mối quan hệ giữa thu nhập bằng tiền (I) và số lượng hàng hóa X và Y có thể được mua nhìn chung có thể được diễn tả bằng công thức:
XPx + YPy ≤ M Dấu bằng biểu thị ràng buộc chặt, chính là phương trình đường ngân sách
Đường ngân sách mô tả các giỏ hàng hóa (X,Y) tối đa mà người tiêu dùng có thể mua được Nó cho chúng ta biết số lượng hàng hóa Y tối đa mà người tiêu dùng có thể mua được khi đã mua một lượng hàng hóa X nhất định, hay số lượng hàng hóa X tối đa mà người tiêu dùng có thể mua được khi đã mua một lượng hàng hóa Y nhất định Khi đã mua một lượng X nhất định, số lượng Y tối đa có thể mua được chính là lượng thu nhập
M còn lại sau khi đã mua X chia cho mức giá PY
Hình 3.9 Đường ngân sách
Phương trình đường ngân sách có thể được viết lại dưới dạng một phương trình tuyến tính như sau:
Trang 11PM
Y
PY
Như vậy, về mặt ý nghĩa kinh tế, độ dốc của đường ngân sách cho biết phải từ bỏ bao nhiêu hàng hóa Y để mua thêm một đơn vị hàng hóa X khi ngân sách không đổi
3.2.2 Các yếu tố làm thay đổi đường ngân sách
Giả định giá của các hàng hóa không đổi, khi thu nhập bằng tiền giảm đi sẽ khiến cho đường ngân sách dịch chuyển song song vào trong từ M0 đến M2 Giả định giá của các hàng hóa không đổi, khi thu nhập bằng tiền tăng lên sẽ khiến cho đường ngân sách dịch chuyển song song ra ngoài từ M0 đến M1 Điều này được thể hiện trên hình 3.10
Hình 3.10 Sự thay đổi đường ngân sách khi thu nhập thay đổi
Giá của hàng hóa X tăng lên (giảm xuống) sẽ khiến cho đường ngân sách xoay vào trong (ra ngoài) quanh điểm chặn ban đầu nằm trên trục tung
Hình 3.11 Sự thay đổi đường ngân sách khi giá hàng hóa X tăng lên
Hình 3.11 mô tả trường hợp đường ngân sách xoay vào phía trong khi giá của hàng hóa
X tăng lên, giá hàng hóa Y không đổi
M 2 M 1
Trang 123.3 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng
Tối đa hóa thỏa dụng là hành vi của người tiêu dùng điển hình Người tiêu dùng khi đối mặt với một mức ngân sách nhất định của bản thân, sẽ tìm cách chọn một tổ hợp hàng tiêu dùng tối ưu sao cho mức thỏa dụng mà tổ hợp này đem lại cho mình là lớn nhất Nếu minh họa bằng đồ thị, tổ hợp cho phép đạt mức thỏa dụng tối đa là tổ hợp hàng hóa tại tiếp điểm của đường bàng quan và đường ngân sách Tại đó, tỷ lệ giữa mức thỏa dụng biên của hai hàng hóa (hay chính là tỷ lệ thay thế biên của hàng tiêu dùng) bằng tỷ lệ giữa hai mức giá của các hàng hóa Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng với một mức ngân sách hạn chế có thể được minh họa trong case study 3.1 và 3.2 Họ phần lớn thường quan tâm đến giá cả, chủng loại sau đó là chất lượng Làm thế nào để trở thành một người tiêu dùng thông minh trong điều kiện giới hạn về ngân sách? Chúng ta cùng xem xét sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu trong các trường hợp sau:
3.3.1 Tối đa hóa lợi ích với một mức ngân sách nhất định
Giả sử một người tiêu dùng có một mức ngân sách nhất định là I0 tiêu dùng hai loại hàng hóa X và Y, với giá tương ứng là Px và PY, được biểu thị bởi đường ngân sách trên hình 3.12 Người tiêu dùng này không thể mua được các giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan U2 vì không đủ ngân sách Họ chỉ có thể mua được các giỏ hàng hóa nằm trên hoặc nằm trong đường ngân sách (ví dụ như giỏ B, C, D và E) Người tiêu dùng sẽ không lựa chọn các giỏ hàng hóa B, C và D vì các giỏ này chỉ mang lại mức lợi ích là U0 Họ sẽ lựa chọn giỏ hàng hóa tối ưu để tối đa hóa lợi ích tại E (được xác định tại điểm đường ngân sách tiếp xúc với đường bàng quan)
Hình 3.12 Xác định giỏ hàng hóa tối ưu với mức ngân sách nhất định
Tại điểm E trên hình 3.12, độ dốc của đường ngân sách bằng độ dốc của đường bàng quan Tỷ lệ thay thế cận biên biểu thị độ dốc của đường bàng quan Tỷ lệ giá biểu thị độ dốc của đường ngân sách Một người tiêu dùng đạt được tới mức lợi ích cao nhất từ một mức thu nhập đã cho khi tỷ lệ thay thế cận biên cho hai hàng hóa bất kỳ, chẳng hạn, hàng hóa X và Y, bằng với tỷ lệ giá của hai hàng hóa đó:
Trang 13Từ đây, suy rộng ra, nếu một người tiêu dùng mua N hàng hóa, X1, X2, X3,…, XN với các mức giá P1, P2, P3, …, PN từ một mức thu nhập cho trước là M, thì điều kiện cần và
đủ để người tiêu dùng tối đa hóa lợi ích là:
3.3.2 Tối thiểu hóa chi tiêu ứng với một mức lợi ích nhất định
Giả sử một người tiêu dùng hai loại hàng hóa là X và Y, người tiêu dùng mong muốn đạt một mức lợi ích nhất định, giá của các loại hàng hóa được xác định trước là Px và PY Hình 3.13 cho thấy, người tiêu dùng sẽ không lựa chọn được giỏ hàng hóa D trên đường ngân sách M1 để đạt được mức lợi ích U0 do không đủ tiền Người tiêu dùng này có thể lựa chọn tiêu dùng tại giỏ hàng hóa A và B trên đường ngân sách M2 Tuy nhiên, ứng với mức ngân sách M2, người tiêu dùng có thể đạt được mức lợi ích cao hơn; nếu chỉ dùng ngân sách M2 để đạt lợi ích U0 thì thực sự lãng phí Người tiêu dùng này có thể giảm mức ngân sách bằng việc chuyển đường ngân sách vào phía trong cho đến khi đường ngân sách tiếp xúc với đường bàng quan tại điểm E
Hình 3.13 Xác định giỏ hàng hóa tối ưu tại mức lợi ích nhất định
Tại điểm E trên hình 3.13, độ dốc của đường ngân sách bằng độ dốc của đường bàng quan Tỷ lệ thay thế cận biên biểu thị độ dốc của đường bàng quan Tỷ lệ giá biểu thị độ dốc của đường ngân sách Một người tiêu dùng muốn tối thiểu hóa chi tiêu tại mức lợi ích nhất định khi tỷ lệ thay thế cận biên cho hai hàng hóa bất kỳ, chẳng hạn, hàng hóa X
và Y, bằng với tỷ lệ giá của hai hàng hóa đó:
Trang 143.3.3 Lựa chọn trong điều kiện mất cân bằng trong tiêu dùng
Giả sử rằng người tiêu dùng chưa đạt tối đa hóa lợi ích, điều kiện cân bằng chưa thỏa mãn, điều kiện mất cân bằng xảy ra
Người tiêu dùng sẽ tiếp tục chuyển những đồng đôla chi tiêu cho hàng hóa X sang chi tiêu cho hàng hóa Y với điều kiện là MUx/Px = MUy/Py Bởi vì MUx tăng lên khi mua ít hàng hóa X đi và MUy giảm đi khi mua nhiều hàng hóa Y hơn, nên người tiêu dùng sẽ đạt được tối đa hóa lợi ích khi MUx/Px = MUy/Py và không có những thay đổi nào hơn nữa diễn ra
Thêm vào đó nếu, X Y
P P thì lợi ích cận biên tính trên mỗi đôla mua hàng hóa X lớn hơn lợi ích cận biên tính trên mỗi đôla mua hàng hóa Y Người tiêu dùng lấy những đồng đôla chi tiêu cho hàng hóa Y chuyển sang mua thêm hàng hóa X, tiếp tục đánh đổi cho đến khi tới điểm cân bằng
3.3.4 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi ngân sách thay đổi
Giả sử một người tiêu dùng hai loại hàng hóa là X và Y với giá tương ứng là Px và PY
Cả hai loại hàng hóa này đều là hàng hóa thông thường Người tiêu dùng này có mức ngân sách ban đầu là M1 Khi ngân sách của người tiêu dùng tăng lên từ M1 đến M2, và đến M3, đường ngân sách dịch chuyển song song sang phải tương ứng Đối với hàng hóa thông thường, người tiêu dùng sẽ có phản ứng thuận chiều với sự gia tăng của thu nhập, tức là mua cả hai hàng hóa nhiều hơn Các đường bàng quan sẽ tiếp xúc với các đường ngân sách tại các điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu tương ứng là A đến B, và đến C Lợi ích tối đa của người tiêu dùng cũng tăng lên tương ứng U1< U2< U3
Hình 3.14 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi ngân sách thay đổi
M 3