CHƯƠNG 2: CUNG, CẦU VÀ CÂN BẰNG THỊ TRƯỜNG
2.3 Cân bằng cung - cầu
2.3.1 Trạng thái cân bằng cung – cầu
Là trạng thái mà tại đó không có sức ép làm cho giá và sản lượng thay đổi, và xuất hiện khi lượng cung vừa đủ để thỏa mãn lượng cầu trong một khoảng thời gian nhất định.
Tại điểm cân bằng của thị trường sẽ xác định được giá cân bằng và sản lượng cân bằng.
Trạng thái cân bằng này được hình thành do qui luật cung- cầu chứ không theo ý muốn bất kỳ ai.
Cách xác định điểm cân bằng thị trường:
0 P P1
P0
Q1 Q Q0
S A
B
Hình 2.8. Sự vận động trên đường cung
56
Khi giá của sản phẩm P0 thì lượng cung sản phẩm ở mức Q0 khi giá sản phẩm tăng đến mức P1 làm lượng cung tăng đến Q1, như vậy có một sự vận động trên đường cung từ điểm Ađến điểm B khi giá sản phẩm tăng từ P0 đến P1.
2.3 Cân bằng cung - cầu
2.3.1 Trạng thái cân bằng cung – cầu
Là trạng thái mà tại đó không có sức ép làm cho giá và sản lượng thay đổi, và xuất hiện khi lượng cung vừa đủ để thỏa mãn lượng cầu trong một khoảng thời gian nhất định. Tại điểm cân bằng của thị trường sẽ xác định được giá cân bằng và sản lượng cân bằng. Trạng thái cân bằng này được hình thành do qui luật cung- cầu chứ không theo ý muốn bất kỳ ai.
Cách xác định điểm cân bằng thị trường:
a) Dựa vào biểu cung và biểu cầu
Ví dụ Mô tả cung và cầu về thị trường sản phẩm X tại Tp.HCM Bảng 2.3. Biểu cung và biểu cầu của sản phẩm X trên thị trường Giá P
(1.000 đ/
sp)
Lượng cung QS (1.000 sp )
Lượng cầu QD (1.000 sp)
Trạng thái thị trường (1.000 sp)
50 39 7 Dư thừa 32
40 30 14 Dư thừa 26
30 21 21 Cân bằng
20 12 28 Thiếu hụt 14
10 3 35 Thiếu hụt 32
Tại mức giá P= 30.000đ/sp thì lượng cung của thị trường bằng với lượng cầu thị trường và bằng 21.000 sản phẩm, thị trường đạt trạng thái cân bằng.
b) Dựa vào đường cung và đường cầu
57 Hình 2.9. Cân bằng thị trường sản phẩm X
Điểm E (21; 30) là điểm cân bằng của thị trường, đó là nơi giao nhau giữa đường cung và đường cầu. Tại điểm cân bằng của thị trường, người tiêu dùng mua lượng cần muốn mua, người bán muốn bán lượng cần bán Qs=QD=21, nên ở điểm cân bằng không có áp lực làm thay đổi giá và sản lượng.
Cung cầu có thể không phải lúc nào cũng cân bằng, một số thị trường có thể không đạt được cân bằng một cách nhanh chóng khi các điều kiện đột ngột thay đổi, thị trường có những thời điểm ở trạng thái dư thừa hoặc thiếu hụt, nhưng xu thế của thị trường là tiến tới trạng thái cân bằng.
Để hiểu được vì sao thị trường sẽ dẫn tới sự cân bằng, ta hãy giả sử giá ban đầu cao hơn giá cân bằng của thị trường, chẳng hạn P = 40. Khi đó nhà sản xuất sẽ cố sản xuất và bán ra một lượng bằng QS= 30, trong khi đó với mức giá trên người tiêu dùng chỉ muốn mua một lượng QD= 14. Sẽ phát sinh một lượng dư thừa hàng hóa là 16, để bán được số hàng hóa dư thừa này hoặt ít nhất không cho hàng hóa dư thừa này tăng lên, những người sản xuất sẽ bắt đầu giảm giá hàng hóa của họ. Kết quả là giá giảm xuống, lượng cầu sẽ tăng lên, lượng cung sẽ giảm xuống và nhà sản xuất sẽ giảm giá đến mức giá cân bằng của thị trường P=30.
34 a) Dựa vào biểu cung và biểu cầu
Ví dụ Mô tả cung và cầu về thị trường sản phẩm X tại Tp.HCM Bảng 2.3. Biểu cung và biểu cầu của sản phẩm X trên thị trường
Giá P (1.000 đ/sp)
Lượng cung QS
(1.000 sp )
Lượng cầu QD
(1.000 sp)
Trạng thái thị trường (1.000 sp)
50 39 7 Dư thừa 32
40 30 14 Dư thừa 26
30 21 21 Cân bằng
20 12 28 Thiếu hụt 14
10 3 35 Thiếu hụt 32
Tại mức giá P= 30.000đ/sp thì lượng cung của thị trường bằng với lượng cầu thị trường và bằng 21.000 sản phẩm, thị trường đạt trạng thái cân bằng.
b) Dựa vào đường cung và đường cầu
Hình 2.9. Cân bằng thị trường sản phẩm X
Điểm E (21; 30) là điểm cân bằng của thị trường, đó là nơi giao nhau giữa đường cung và đường cầu. Tại điểm cân bằng của thị trường, người tiêu dùng mua lượng cần muốn mua, người bán muốn bán lượng cần bán Qs=QD=21, nên ở điểm cân bằng không có áp lực làm thay đổi giá và sản lượng.
Cung cầu có thể không phải lúc nào cũng cân bằng, một số thị trường có thể không đạt được cân bằng một cách nhanh chóng khi các điều kiện đột ngột thay đổi, thị trường có những thời điểm ở trạng thái dư thừa hoặc thiếu hụt, nhưng xu thế của thị trường là tiến tới trạng thái cân bằng.
Để hiểu được vì sao thị trường sẽ dẫn tới sự cân bằng, ta hãy giả sử giá ban đầu cao hơn giá cân bằng của thị trường, chẳng hạn P = 40. Khi đó nhà sản xuất sẽ cố sản xuất và bán ra một lượng bằng QS= 30, trong khi đó với mức giá trên người tiêu dùng chỉ muốn mua một lượng QD= 14. Sẽ phát sinh một lượng dư thừa hàng hóa là 16, để bán được số hàng hóa dư thừa này hoặt ít nhất không cho hàng hóa dư thừa này tăng lên, những người sản xuất sẽ bắt đầu giảm giá hàng hóa của họ. Kết quả là giá giảm xuống, lượng cầu sẽ
0 2
3
Q (1.000 sp) S
D E
P
58
Hình 2.10. Thị trường trong trạng thái dư thừa
Nếu giá ban đầu thấp hơn giá cân bằng, chẳng hạn ở mức giá P=10 thì diễn ra quá trình ngược lại. Ở mức giá này nhà sản xuất chỉ sản xuất ở mức sản lượng Qs=3 trong khi đó người tiêu dùng ở mức sản lượng Q D= 35, nên nhiều người tiêu dùng sẽ không mua được lượng hàng hóa mà họ muốn mua ở mức giá này và thị trường sẽ xảy ra hiện tượng thiếu hụt hàng hóa.
Trình trạng này gây sức ép tăng giá lên bởi vì mỗi người tiêu dùng đều cố gắng trả giá cao hơn người khác để mua được hàng hóa hiện có và những người sản xuất phản ứng lại bằng cách tăng giá và tăng sản lượng. Kết quả là giá sẽ tăng lên đến giá cân bằng của thị trường P=30, lượng cung tăng lên đến 21, lượng cầu giảm về 21.
Hình 2.11. Thị trường trong trạng thái thiếu hụt
35 tăng lên, lượng cung sẽ giảm xuống và nhà sản xuất sẽ giảm giá đến mức giá cân bằng của thị trường P=30.
Hình 2.10. Thị trường trong trạng thái dư thừa
Nếu giá ban đầu thấp hơn giá cân bằng, chẳng hạn ở mức giá P=10 thì diễn ra quá trình ngược lại. Ở mức giá này nhà sản xuất chỉ sản xuất ở mức sản lượng Qs=3 trong khi đó người tiêu dùng ở mức sản lượng QD= 35, nên nhiều người tiêu dùng sẽ không mua được lượng hàng hóa mà họ muốn mua ở mức giá này và thị trường sẽ xảy ra hiện tượng thiếu hụt hàng hóa. Trình trạng này gây sức ép tăng giá lên bởi vì mỗi người tiêu dùng đều cố gắng trả giá cao hơn người khác để mua được hàng hóa hiện có và những người sản xuất phản ứng lại bằng cách tăng giá và tăng sản lượng. Kết quả là giá sẽ tăng lên đến giá cân bằng của thị trường P=30, lượng cung tăng lên đến 21, lượng cầu giảm về 21.
Hình 2.11. Thị trường trong trạng thái thiếu hụt c) Dựa vào phương trình hàm số cung và hàm số cầu
Nghiệm của phương trình đường cung và đường cầu là điểm cân bằng thị trường
0 14 21 30
40 30
Q (1.000 sp) S
D E
Dư thừa P (1.000 đ)
Q (1.000 sp)
0 3 21 35
30 10
S
D E
P (1.000
Thiếu hụt
QD = f (P) = aP + b QS = f (P) = cP + d
35 tăng lên, lượng cung sẽ giảm xuống và nhà sản xuất sẽ giảm giá đến mức giá cân bằng của thị trường P=30.
Hình 2.10. Thị trường trong trạng thái dư thừa
Nếu giá ban đầu thấp hơn giá cân bằng, chẳng hạn ở mức giá P=10 thì diễn ra quá trình ngược lại. Ở mức giá này nhà sản xuất chỉ sản xuất ở mức sản lượng Qs=3 trong khi đó người tiêu dùng ở mức sản lượng QD= 35, nên nhiều người tiêu dùng sẽ không mua được lượng hàng hóa mà họ muốn mua ở mức giá này và thị trường sẽ xảy ra hiện tượng thiếu hụt hàng hóa. Trình trạng này gây sức ép tăng giá lên bởi vì mỗi người tiêu dùng đều cố gắng trả giá cao hơn người khác để mua được hàng hóa hiện có và những người sản xuất phản ứng lại bằng cách tăng giá và tăng sản lượng. Kết quả là giá sẽ tăng lên đến giá cân bằng của thị trường P=30, lượng cung tăng lên đến 21, lượng cầu giảm về 21.
Hình 2.11. Thị trường trong trạng thái thiếu hụt c) Dựa vào phương trình hàm số cung và hàm số cầu
Nghiệm của phương trình đường cung và đường cầu là điểm cân bằng thị trường
0 14 21 30
40 30
Q (1.000 sp) S
D E
Dư thừa P (1.000 đ)
Q (1.000 sp)
0 3 21 35
30 10
S
D E
P (1.000
Thiếu hụt
QD = f (P) = aP + b QS = f (P) = cP + d
59 c) Dựa vào phương trình hàm số cung và hàm số cầu
Nghiệm của phương trình đường cung và đường cầu là điểm cân bằng thị trường