Giáo trình Kinh tế vĩ mô cung cấp kiến thức cơ bản về Khái quát về kinh tế vĩ mô; Đo lường sản lượng và mức giá chung của nền kinh tế; Xác định sản lượng cân bằng; Chính sách tài khóa và chính sách ngoại thương; Tiền tệ, ngân hàng và chính sách tiền tệ; Hỗn hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Mô hình tổng cung – tổng cầu theo giá; Lạm phát và thất nghiệp; Phân tích kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở.
KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ
Kinh tế học
1.1.1 Khái niệm Ở bất kỳ thời nào thì nguồn lực sản xuất của mỗi quốc gia như: nguồn tài nguyên thiên nhiên (bao gồm đất đai, khoáng sản, rừng, sông, biển ), nguồn lao động (bao gồm: số lượng người lao động, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm người lao động), nguồn vốn (bao gồm số lượng máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu ), trình độ kỹ thuật sản xuất luôn luôn khán hiếm so với nhu cầu vô hạn của con người; nghĩa là với nguồn lực sản xuất hiện có, không thể sản xuất đủ mọi thứ mà con người mong muốn
Mặc dù các nguồn lực sản xuất đều khan hiếm, nhưng có nhiều cách phân bổ,nhiều cách sử dụng nguồn lực khác nhau Mỗi cách sử dụng nguồn lực sẽ tạo ra những khối lượng hàng hóa và dịch vụ khác nhau, đem lại những thỏa mãn khác nhau cho con người chúng ta
Vấn đề đặt ra là trong nhiều cách sử dụng nguồn lực, phải lựa chọn cách sử dụng nguồn lực nào là hợp lý nhất, hiệu quả nhất, nghĩa là sản xuất được nhiều hàng hóa và dịch vụ nhất, thỏa mãn cao nhất nhu cầu cho xã hội Và làm thế nào để nguồn lực sản xuất của mỗi quốc gia ngày càng gia tăng, để ngày càng nâng cao khả năng sản xuất được nhiều hàng hóa hơn, để ngày càng nâng cao mức sống của mọi công dân? Đây là những vấn đề mà môn Kinh tế học sẽ nghiên cứu và giải quyết
Kinh tế học là môn khoa học xã hội, nghiên cứu việc lựa chọn cách sử dụng hợp lý các nguồn lực khan hiếm để sản xuất ra những hàng hóa dịch vụ, nhằm thỏa mãn cao nhất nhu cầu cho mọi thành viên trong xã hội
1.1.2 Kinh tế học vi mô và kinh tế vĩ mô
Dựa vào hành vi kinh tế, các Nhà Kinh tế phân kinh tế học theo hai mức độ phân tích khác nhau: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Kinh tế vi mô nghiên cứu nền kinh tế ở giác độ chi tiết, riêng lẻ Nó nghiên cứu cách thức mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp ra quyết định và tác động lẫn nhau trong một thị trường sản phẩm hay dịch vụ nào đó, để lý giải sự hình thành và vận động của giá cả sản phẩm trong mỗi dạng thị trường
Những nhà nghiên cứu vi mô có thể nghiên cứu ảnh hưởng của việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà cửa đến giá đấ, giá nhà ở, đến việc xây dựng nhà ở thành phố, ảnh hưởng của cạnh tranh quốc tế đến ngành sản xuất hàng may mắc xuất khẩu
Ví dụ: Khi phân tích về thị trường vải, nhà kinh tế học vi mô sẽ quan tâm đến những vấn đề như: những yếu tố nào chi phối các quyết định của những người tiêu dùng vải? Nhu cầu về vải của mỗi cá nhân và của cả thị trường được hình thành như thế nào và biến động ra sao? Người sản xuất vải sẽ lựa chọn các quyết định như thế nào khi đối diện với các vấn đề như: số lượng công nhân cần thuê? lượng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cần đầu tư, mua sắm? sản lượng vải nên sản xuất? Khi những người tiêu dùng và người sản xuất vải tham gia và tương tác với nhau trên thị trường thì sản lượng và giá cả vải sẽ hình thành và biến động như thế nào?
Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở giác độ tổng thể, toàn bộ thông qua các biến số kinh tế như: Tổng sản phẩm quốc gia, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ th6a1t nghiệp, cán cân thương mại trên cơ sở đó đề ra các chính sách kinh tế nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Những nhà nghiên cứu vĩ mô có thể nghiên cứu ảnh hưởng của việc vay mượn của chính phủ, sự thay đổi tỷ lệ thất nghiệp qua thời gian, hoặc những chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân
Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô là hai bộ phận cấu thành quan trọng của môn kinh tế học, có mối quan hệ hữu cơ với nhau Mối quan hệ này cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý kinh tế, cần thiết phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế trên cả hai phương diện vi mô và vĩ mô Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề vi mô như tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp mà không có sự điều tiết của chính phủ, thì không thể có một nền kinh tế thực sự phát triển ổn định, bình đẳng và công bằng
1.1.3 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học thực chứng là việc sử dụng các lý thuyết và mô hình để mô tả, giải thích và dự báo các hiện tượng kinh tế đã, đang và sẽ xảy ra như thế nào Nó mang tính khách quan và khoa học
Kinh tế học thực chứng đưa ra những nhận định như “Áp dụng hạn ngạch đối với dầu lửa trong năm 2016 dẫn đến tăng giá nội địa và giảm sút những nguồn tài nguyên thiên nhiên nhanh hơn” Những nhận định như vậy chỉ đơn giản là miêu tả tác động của chương trình, mà không có đánh giá xem những mục tiêu dự định có đạt được hay không Không có sự đánh giá gì về việc những hậu quả đó là mong muốn hay không
Kinh tế học chuẩn tắc đưa ra những chỉ dẫn, những quan điểm cá nhân về cách giải quyết các vấn đề kinh tế Nó bao hàm sự đánh giá, cho biết nên như thế nào, mang tính chủ quan
Kinh tế học chuẩn tắc đưa ra những nhận định như, “Nếu chính phủ muốn hạn chế nhập khẩu dầu lửa một cách ít tốn kém nhất đối với chính phủ và người tiêu dùng, thì dùng biện pháp đánh thuế nhập dầu tốt hơn biện pháp cấp hạn ngạch” Nói cách khác, trong kinh tế học chuẩn tắc, các nhà kinh tế so sánh mức độ đáp ứng mục tiêu mong muốn của các chương trình khác nhau của chính phủ, và xác định xem những chương trình nào đáp ứng mục tiêu tốt nhất Điểm chủ yếu có thể phân biệt kinh tế học chuẩn tắc hay thực chứng là cách chúng ta phán đoán tính xác thực của chúng
Mục tiêu và công cụ điều tiết vĩ mô
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh giá theo 3 dấu hiệu chủ yếu: ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội
- Sự ổn định kinh tế đòi hỏi giải quyết tốt những vấn đề cấp bách như: lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong ngắn hạn
- Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn, có liên quan đến tăng trưởng kinh tế
- Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng thì các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau đây:
+ Đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng
+ Tốc độ tăng truưởn cao và vững chắc
+ Tạo được nhiều việc làm tốt
+ Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp (duy trì ở mức thất nghiệp tự nhiên)
- Mục tiêu ổn định giá cả: Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do
- Mục tiêu kinh tế đối ngoại:
+ Ổn định tỷ giá hối đoái
+ Cân bằng cán cân thanh toán
Phân phối công bằng: Một số nước coi mục tiêu phân phối công bằng là một mục tiêu quan trọng
1.2.2 Công cụ Để đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau, mỗi chính sách có những công cụ riêng biệt Sau đây là 1 số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu thường được sử dụng trong lịch sử và hiện tại
Chính sách tài khóa nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính phủ để hướng nền kinh tế vào một mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách này có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế:
- Chi tiêu của chính phủ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô chi tiêu công cộng, do đó có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lượng
- Thuế làm giảm các khoản thu nhập, do đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân, từ đó tác động đến tổng cầu và sản lượng Thuế còn tác động đến đầu tư và sản lượng về mặt dài hạn
Trong ngắn hạn, chính sách tài khóa có tác động đến sản lượng thực tế và lạm phát, phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế Trong dài hạn, chính sách tài khóa có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài
Chính sách tiền tệ chủ yếu tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách này có 2 công cụ chủ yếu là lượng cung tiền và lãi suất
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các công cụ nhằm tác động đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát
1.2.2.4 Chính sách kinh tế đối ngoại
Chính sách này nhằm ổn định tỷ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được Chính sách này bao gồm các biện pháp giữ cho thị trường hối đoái cân bằng, các quy định về hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch và cả những biện pháp tài chính tiền tệ tác động vào hoạt động xuất khẩu.
Các vấn đề của kinh tế vĩ mô
Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, và sự mất giá trị của một loại tiền tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác
Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô
Các nhà kinh tế đo lạm phát bằng tỷ lệ lạm phát (%) Tỷ lệ lạm phát được đo bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của chỉ số giá cả (thường là chỉ số CPI) Chỉ số giá cả là tỷ lệ so sánh giữa số tiền phải trả để mua một giỏ hàng hóa trong một năm hoặc một thời kỳ và số tiền phải trả để mua giỏ hàng hóa đó vào năm gốc hoặc thời kỳ gốc
Trong thời kỳ nền kinh tế có lạm phát, tiền tệ bị mất giá Giá trị của tiền tệ giảm dần như theo cùng một tỷ lệ với tỷ lệ lạm phát (tỷ lệ lạm phát cao thì tiền mất giá nhanh, tỷ lệ lạm phát thấp thì tiền mất giá chậm hơn) Lạm phát có tác động làm thay đổi tỷ giá hối đoái Nước nào có tỷ lệ lạm phát cao thì đồng tiền nước đó sẽ bị giảm giá so với đồng tiền nước khác
Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả"
Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội
Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng thất nghiệp không bị coi là vấn đề nghiêm trọng
Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái (khủng hoảng), phục hồi và hưng thịnh (phát triển) Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh
Hình 1.1 Chu kỳ kinh tế
1.3.3.1 Các pha của chu kỳ kinh tế
- Suy thoái: GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái
- Phục hồi: GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế
- Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ) Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
+ Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến, dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút
+ Cầu lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao
+ Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái
+ Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khóan thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái
Khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại
1.3.3.2 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế Chính vì vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn
Tổng cung và tổng cầu
1.4.1 Sản lượng tiềm năng và định luật Okun
Sản lượng tiềm năng (Yp) là sản lượng mà nền kinh tế đạt được tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un) và tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải mà nền kinh tế có thể chấp nhận được
Sản lượng tiềm năng có thể được hiểu khi một nền kinh tế có thể vận dụng tất cả nguồn lực của mình như lực lượng lao động, thiết bị, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và những nguồn lực khác được sử dụng đầy đủ; hoặc GDP (GNP) của nền kinh tế có thể đạt được khi áp dụng đúng nguồn lực của mình Một nền kinh tế sản xuất tại sản lượng tiềm năng có thể được gọi là nền kinh tế có việc làm đầy đủ
Sản lượng tiềm năng không phải là sản lượng tối đa Theo thời gian, khả năng sản xuất của nền kinh tế luôn có khuynh hướng tăng lên, nên Yp cũng có khuynh hướng tăng
Trong thực tế, sản lượng thực (Y) luôn biến động xoay quanh Yp nên tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát cũng biến động, tạo ra chu kỳ kinh doanh
1.4.1.2 Định luật Okun Định luật Okun ra đời nhằm khảo sát sự biến động của chu kì kinh tế, sự giao động của mức sản lượng thực tế quanh sản lượng tiềm năng và mối quan hệ giữa chúng, trên cơ sở đó, dự báo mức tỉ lệ thất nghiệp kì vọng trong sự ràng buộc với hai biến số nêu trên Có hai cách trình bày:
Theo cách trình bày của Samuelson và Nordhaus: Định luật này cho rằng: Khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tự nhiên 2% thì thất nghiệp thực tế tăng thêm 1%
Ví dụ: mức thất nghiệp năm 2004 là 6%, từ 2004 tới 2006 sản lượng thực tế tăng hơn sản lượng tự nhiên 2%, do vậy tỉ lệ thất nghiệp giảm đi 1% từ 6% xuống còn 5%
Yt: sản lượng thực tế (GDP thực)
Yp: sản lượng tiềm năng (GDP tiềm năng)
Ut: tỉ lệ thất nghiệp thực tế
Un: tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên y: tỉ lệ gia tăng GDP thực tế p: tỉ lệ gia tăng GDP tiềm năng
Theo cách trình bày của Fischer và Dornbusch:
Khi tốc độ tăng của Yt tăng nhanh hơn tốc độ tăng của Yp 2,5% thì U giảm bớt 1% so với thời kỳ trước đó
- p: tốc độ tăng của Yp
Ý nghĩa và ứng dụng của định luật Okun: Định luật Okun là một công cụ khảo sát quan trọng trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sản lượng và tỉ lệ thất nghiệp nói riêng và trong kinh tế học vĩ mô nói chung, nó là một công cụ quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách dự báo mức tỉ lệ thất nghiệp kỳ vọng tương ứng với mức sản lượng mục tiêu Hay ngược lại, với mức sản lượng mục tiêu được tính toán trước thì ứng với đó là một tỉ lệ thất nghiệp được kỳ vọng là bao nhiêu
Từ đó làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách và chính phủ đề ra các quyết định chính xác trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô, tạo thế chủ động trong công tác dự báo kinh tế cũng như thiết kế một hệ thống an sinh xã hội phù hợp đảm bảo giải quyết hài hòa những hệ lụy mà tình trạng thất nghiệp, lạm phát có thể gây ra, ngăn chặn mọi ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội
Tổng cung trong nền kinh tế là tổng khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà các doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng cung ứng ra thị trường tại mỗi mức giá chung trong một thời kỳ nhất định
1.4.2.2 Đường tổng cung Đường tổng cung biểu diễn mối quan hệ giữa tổng mức cung tương ứng với mức giá của nền kinh tế với các nguồn lực và giá cả các yếu tố đầu vào nhất định Không giống như đường tổng cầu, đường tổng cung biểu thị mối quan hệ về cơ bản phụ thuộc vào thời gian nghiên cứu: Trong dài hạn, đường tổng cung thẳng đứng còn trong ngắn hạn thì đường tổng cung dốc lên
- Sự gia tăng mức giá chung có xu hướng làm tăng lượng cung hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế và ngược lại Nguyên nhân gây ra mối quan hệ đồng biến trên là do hiệu ứng lợi nhuận: Khi giá cả giảm xuống, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng giảm nên họ sẽ giảm tốc độ sản xuất Ngược lại, giá cả tăng nhà sản xuất tăng lợi nhuận (các yếu tố khác không đổi) do đó họ mong muốn sản xuất và bán được nhiều hơn
- Ban đầu đường tổng cung ít dốc (tương đối nằm ngang) nhưng khi tổng sản lượng sản xuất vượt qua điểm sản lượng tiềm năng thì đường tổng cung sẽ dốc cao hơn Nguyên nhân là do hiệu ứng chi phí: Khi giá tăng, các doanh nghiệp sẵn sàng thuê mướn thêm lao động để sản xuất nhiều hàng hóa hơn Tuy nhiên càng tăng lao động thì năng suất biên của lao động càng giảm, đặc biệt khi đạt đến sản lượng tiềm năng và nguồn lực ngày càng khan hiếm sẽ làm chi phí tăng cao trong khi sản lượng tăng ít dần dẫn đến đường tổng cung càng dốc lên
Trong dài hạn: Sản lượng hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn lực sản xuất mà không phụ thuộc vào mức giá nên đường tổng cung thẳng đứng Nói cách khác, trong dài hạn các yếu tố sản xuất quyết định tổng lượng cung hàng hóa và dịch vụ, tổng lượng cung vẫn không đổi ở tất cả các mức giá chung
Hình 1.2 Đường tổng cung (AS)
1.4.2.3 Sự dịch chuyển của đường tổng cung
Khi các yếu tố khác giá (có tác động đến tổng cung) thay đổi sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển Tổng cung tăng đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang phải, tổng cung giảm thì đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang trái Đường tổng cung có thể dịch chuyển do tác động của các biến số sau:
- Lao động: Sự gia tăng lực lượng lao động làm đường tổng cung dịch chuyển sang phải và ngược lại
- Tư bản: Sự gia tăng khối lượng tư bản hiện vật hoặc vốn nhân lực làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải và ngược lại
Câu hỏi củng cố
1 Tổng cầu là gì? Vì sao đường tổng cầu lại dốc xuống?
2 Giải thích sự khác nhau về hình dáng của đường tổng cung trong ngắn và dài hạn
3 Nêu lên tác động của mỗi sự kiện dưới đây đến vị trí của đường tổng cầu và tổng cung trên đồ thị (4) a Giá dầu trên thế giới tăng mạnh b Giảm đáng kể chi tiêu cho quốc phòng c Vụ mùa bội thu
4 Hãy đánh dấu (X) vào những ô tại đó có những yếu tố ảnh hưởng tới đường cung, cầu (khi nghiên cứu yếu tố nào đó giả định các yếu tố khác không đổi) (8)
Các yếu tố ảnh hưởng
Di chuyển trên đường AD
Giá hàng thay thế thay đổi Áp dụng công nghệ sản xuất
Các yếu tố ảnh hưởng
Di chuyển trên đường AD
Hàng hóa này trở thành mốt
Giá đầu vào của sản xuất thay đổi
HÃY LỰA CHỌN CÂU TRẢ LỜI ĐÚNG VÀ GIẢI THÍCH
1 Đường cầu hàng hóa X cho biết (10) : a Số tiền chi mua hàng hóa X sẽ thay đổi như thế nào khi giá của nó thay đổi b Bao nhiêu hàng hóa X sẽ được người mua tại mức giá cân bằng c Số lượng hàng hóa X được cung cấp trong từng thời kỳ theo mỗi mức giá, khi các nhân tố tác động đến lượng bán được giữ không đổi d Một số lượng hàng hóa X được mọi người mua trong từng thời kỳ, theo mỗi mức giá, khi các nhân tố tác động đến cầu được coi như không đổi
2 Nếu đường cầu dịch chuyển sang trái, thì một cách giải thích hợp lý nhất đối với sự dịch chuyển đó là: (11) a Về một lý do nào đó làm lượng cung hàng hóa X giảm xuống b Thị hiếu người tiêu dùng thay đổi theo hướng họ thích hàng hóa này hơn và họ muốn mua nhiều hơn đối với mọi mức giá c Mức giá hàng hóa X tăng lên làm cho mọi người quyết định mua ít hàng hóa này hơn d Vì một lý do nào khác không phải lý do nêu trên
3 Đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải khi (12e) a Giá cả các yếu tố sản xuất giảm b Mặt bằng giá cả chung có xu hướng giảm xuống c Khả năng sản xuất được mở rộng d Chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân tăng Đọc thêm: Giảm phát: tốt hay xấu
Người tiêu dùng thích giảm phát nhưng người sản xuất lại chẳng ưa gì
Giảm phát tốt xảy ra khi môi trường kinh doanh cởi mở hơn, các mức giá bị các nhà độc quyền đẩy lên cao nay phải giảm dưới áp lực cạnh tranh Một tình huống tốt khác là trong thị trường tự do, những người sản xuất với năng suất cao hơn sẽ vươn lên, giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống, giá hàng giảm làm người tiêu dùng mua nhiều hơn, và kết quả là giá thành mỗi đơn vị sản phẩm càng giảm
Giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và thải bớt nhân công Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn Kết quả là giảm phát trở nên trầm trọng
Dạng giảm phát tồi tệ hơn khi các doanh nghiệp kém hiệu quả được trợ giá để tiếp tục hoạt động Để cạnh tranh với các doanh nghiệp này, các công ty khỏe mạnh phải hạ giá bán và chẳng mấy chốc cũng trở nên ốm yếu
Giảm phát là tồi tệ nhất khi quá nhiều vốn và vốn vay ào ạt đổ vào một cách lạc quan, làm cho cung vượt xa cầu Hàng không bán được nhưng nợ vẫn phải trả, cả các công ty tốt cũng có nguy cơ phá sản
Chỉ số CPI của VN dựa nhiều vào giá lương thực và nông sản Những năm gần đây, giá nông sản trên thế giới giảm do dư cung Nông dân chẳng thể làm gì ngoài việc chờ xem ai sẽ phải chặt bỏ cà phê trước Họ không trách nhau, nhưng chê các chính phủ đã chẳng giúp họ những thông tin và dự báo chính xác.
ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG VÀ MỨC GIÁ CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ 29 2.1 Một số vấn đề cơ bản
Các quan điểm về sản xuất
- Theo trường phái trọng nông (thế kỷ 16, F.Quesnay): Sản xuất là phải tạo ra sản lượng thuần tăng Sản lượng thuần tăng là mức sản lượng tăng thêm trong quá trình sản xuất Như vậy chỉ có sản phẩm của ngành nông nghiệp mới tạo ra sản lượng thuần tăng Sản phẩm của ngành nông nghiệp mới được tính vào trong mức sản xuất
- Theo quan điểm cổ điển (thế kỷ 18, Adam Smith): Sản xuất là phải tạo ra sản phẩm tồn tại dưới dạng vật chất Các ngành sản xuất được chia thành 2 nhóm:
+ Tạo ra sản phẩm hữu hình: Nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng
+ Tạo ra sản phẩm vô hình: Giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp
- Theo K.Marx (thế kỷ 19): Sản xuất là những ngành sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho các ngành sản xuất vật chất Nó bao gồm toàn bộ sản phẩm hữu hình và một bộ phận sản phẩm vô hình phục vụ cho quá trình sản xuất vật chất
Là cơ sở hình thành cách tính sản lượng quốc gia theo hệ thống sản xuất vật chất (MPS-Material Production System) mà các nước XHCN trước đây áp dụng
- Quan điểm hiện nay (đầu thế kỷ 20, Simon Kuznets): Sản xuất là tạo ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho lợi ích của công chúng
Là cơ sở hình thành nên cách tính theo hệ thống tài khoản quốc Gia (SNA - System of National Accounts)
Hệ thống tài khoản quốc gia
Việt Nam trước đây sử dụng MPS Từ 1999, Tổng cục thống kê Việt Nam sử dụng SNA để đo lường sản lượng quốc gia Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng SNA để đo lường sản lượng quốc gia
- GDP : Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
- NDP : Sản phẩm nội địa ròng (Net Domestic Product)
- GNP : Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Product)
- NNP : Sản phẩm quốc gia ròng (Net National Product)
- NI : Thu nhập quốc gia (National Income)
- PI : Thu nhập cá nhân (Personal Income)
- DI: Thu nhập khả dụng (Disposable Income)
- Theo lãnh thổ: GDP, NDP
- Theo quyền sở hữu: GNP, NNP, NI, PI, DI.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
2.2.2 Dòng chu chuyển kinh tế
2.2.2.1 Mô hình chu chuyển kinh tế đơn giản
Hình 2.1 Sơ đồ vòng chu chuyển kinh tế vĩ mô đơn giản
Một nền kinh tế hoàn chỉnh bao gồm hàng triệu đơn vị kinh tế: Các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước Các đơn vị kinh tế này tạo nên một mạng lưới chằng chịt các giao dịch kinh tế trong quá trình tạo ra tổng sản phẩm Để hiểu được nền kinh tế hoạt động như thế nào, các nhà kinh tế sử dụng mô hình đơn giản để lý giải cách thức tổ
Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ Hàng hóa và dịch vụ
Dịch vụ yếu tố sản xuất Thu nhập từ các yếu tố sản xuất
Hộ gia đình chức của nền kinh tế và phương thức tác động qua lại giữa những người tham gia vào nền kinh tế
Hộ gia đình sở hữu các yếu tố sản xuất (lao động,vốn, đất đai ) và cung cấp cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng các yếu tố này để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ bán lại cho hộ gia đình tiêu thụ
Hộ gia đình có thu nhập từ việc cho thuê các yếu tố sản xuất và dùng thu nhập đó chi trả cho các hàng hóa và dịch vụ mua từ doanh nghiệp
- Dòng bên trong là sự luân chuyển các nguồn lực thật, dòng bên ngoài là các giao dịch thanh toán bằng tiền
- Sơ đồ trên gợi lên 2 cách tính khối lượng sản phẩm trong một nền kinh tế: + Theo cung trên, chúng ta tính tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế
+ Theo cung dưới, chúng ta có thể tính tổng mức thu nhập từ các yếu tố sản xuất
Sơ đồ trên là một mô hình đơn giản về nền kinh tế Nó bỏ qua nhiều chi tiết phức tạp như vai trò của chính phủ và thương mại quốc tế Tuy nhiên, từ tính chất đơn giản của nó, chúng ta có thể thấy cách thức gắn kết các bộ phận của nền kinh tế với nhau Đồng thời thông qua mô hình trên chúng ta thấy rằng mọi khoản chi tiêu trong nền kinh tế cuối cùng đều trở thành thu nhập của ai đó, nên chi tiêu và thu nhập luôn bằng nhau Nếu giả định rằng toàn bộ thu nhập của hộ gia đình được đem chi tiêu hết để mua hàng hóa, dịch vụ, rằng doanh nghiệp bán được hết hàng hóa, dịch vụ rồi dùng tiền thu được để tiếp tục sản xuất và lợi nhuận của doanh nghiệp rốt cuộc cũng là một khoản thu nhập của hộ gia đình thì con số thu được từ hai cách tính trên đây phải bằng nhau
Sơ đồ này gợi ra những ý niệm về tầm quan trọng của hành vi tiêu dùng của hộ gia đình: Chính các hộ gia đình quyết định mức chi tiêu trong nền kinh tế, tác động đến việc mở rộng hay thu hẹp sản xuất chứ không phải doanh nghiệp
2.2.2.2 Mô hình chu chuyển kinh tế vĩ mô trong thực tế
Nền kinh tế trong thực tế phức tạp hơn nhiều so với mô hình đơn giản Các hộ gia đình không chi tiêu hết thu nhập của họ mà phải nộp một phần thuế cũng như tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập Ngoài ra hộ gia đình cũng không mua hết tất cả sản phẩm được sản xuất ra mà còn có chính phủ, doanh nghiệp và người nước ngoài mua Nhưng dù là thành phần nào mua thì các giao dịch đó vẫn có bên mua và bên bán Do đó, khi xét nền kinh tế với tư cách là một tổng thể thì chi tiêu và thu nhập luôn bằng nhau Để nghiên cứu phương pháp tính GDP, chúng ta sử dụng mô hình với đầy đủ bốn chủ thể tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế của một quốc gia: Hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và nước ngoài
Hình 2.2 Sơ đồ vòng chu chuyển kinh tế vĩ mô trong thực tế Đầu tiên, giả sử các doanh nghiệp sản xuất được một lượng GDP Trong đó:
- Doanh nghiệp phải trích khấu hao (De) và nộp thuế gián thu (Ti), phần còn lại phân chia cho các yếu tố sản xuất (dưới dạng tiền lương - W, tiền thuê - R, tiền lãi - i và lợi nhuận - Π) nhưng trước đó phải nộp thuế trực thu (Td: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) cho chính phủ
- Chính phủ chuyển nhượng lại cho hộ gia đình dưới dạng trợ cấp, trả lương hưu (Tr)… và mua hàng hóa, dịch vụ (gọi là chi tiêu của chính phủ - G)
- Hộ gia đình dùng 1 phần thu nhập để tiêu dùng (chi tiêu – C) và 1 phần tiết kiệm (S)
- Doanh nghiệp tiếp tục dùng tiền khấu hao và vay từ tiết kiệm để đầu tư (I)
- Trong 3 khoản C, I, G dùng để mua hàng hóa, dịch vụ thì có một phần dành mua hàng nội địa và một phần dùng để mua hàng nhập khẩu (M) Đồng thời, cũng có một lượng xuất khẩu sang nước ngoài (X)
Từ mô hình thực tế, ta có thể hiểu được bản chất của ba phương pháp tính GDP:
- Theo những gì mà doanh nghiệp sản xuất ra, gọi là phương pháp sản xuất hay phương pháp giá trị gia tăng
- Theo những gì mà các thành phần của nền kinh tế nhận được, gọi là phương pháp thu nhập hay phân phối
- Theo những gì mà các thành phần của nền kinh tế mua, gọi là phương pháp chi tiêu
2.2.3 Các phương pháp tính GDP
2.2.3.1 Giá thị trường và giá yếu tố sản xuất
Giá thị trường phản ánh đúng đắn giá trị tương đối của các loại hàng hóa, và người tiêu dùng sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết định hành vi ứng xử của họ Vì vậy muốn tính toán sản lượng quốc gia, trước hết người ta sử dụng giá thị trường (market price)
Tuy nhiên, giá thị trường bao hàm một phần thuế của chính phủ (thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt gọi chung là thuế gián thu – indirect taxes) và theo các nhà kinh tế thì thuế gián thu nhiều hay ít là do chính phủ tự định Nó không phản ánh chi phí thực của quốc gia để sản xuất sản phẩm
Khi thuế thay đổi thì giá sẽ thay đổi theo, nên cần một chỉ tiêu không bị tác động bởi sự thay đổi các khoản thuế này Đó là những chỉ tiêu được tính theo chi phí các yếu tố sản xuất (factor cost) hay có thể gọi là tính theo giá yếu tố sản xuất, đã loại trừ thuế gián thu
Chỉ tiêu tính theo giá yếu tố SX = chỉ tiêu tính theo giá thị trường – thuế gián thu
2.2.3.2 Các phương pháp xác định GDP danh nghĩa theo giá thị trường
Tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng
Không phải tất cả các giao dịch trên thị trường chính thức đều được tính vào GDP vì việc sản xuất hàng hóa, dịch vụ bao gồm một loạt các công đoạn khác nhau, nếu ta cộng hết các giao dịch đó lại để tính GDP thì cùng một sản phẩm ta sẽ tính trùng lại nhiều lần theo các công đoạn sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ Do đó khi tính GDP theo phương pháp này ta chỉ tính tổng các giá trị tăng thêm của các sản phẩm trong quá trình sản xuất đến sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng cuối cùng của nền kinh tế
GDP = ΣVA i = Tổng giá trị sản lượng – tổng chi phí trung gian
- GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
- VAi: Giá trị gia tăng của sản phẩm i
- Giá trị sản lượng: Giá trị sản phẩm đầu ra của một công đoạn sản xuất
- Chi phí trung gian: Chi phí đầu vào của một công đoạn sản xuất
Các chỉ tiêu khác
2.3.1 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng do công dân một nước sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- GNP danh nghĩa (GNPn): Đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó
- GNP thực tế (GNPr): Đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc
Mối liên hệ giữa GNPn và GNPr là chỉ số giá cả, hay còn gọi là chỉ số lạm phát (D) tính theo GNP:
GNPn và GNPr được dùng cho các mục tiêu phân tích khác nhau Chẳng hạn, khi nghiên cứu mối quan hệ tài chính - ngân hàng người ta dùng GNPn, khi cần nghiên cứu tốc độ tăng trưởng kinh tế người ta dùng GNPr
Mối quan hệ giữa GDP và GNP:
GNP khác với GDP ở vấn đề “lãnh thổ một nước” và “công dân một nước”
- Nếu ta xét GNP của Việt Nam thì có 2 phần tạo ra đó là phần do công dân Việt Nam tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam và phần do công dân Việt Nam tạo ra trên lãnh thổ nước khác (bao gồm tiền công của những người đi lao động nước ngoài, lợi nhuận do đầu tư ở nước ngoài được gọi là thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu hay thu nhập yếu tố chuyển vào trong nước)
- Nếu xét GDP của Việt Nam thì cũng gồm 2 phần tạo ra đó là phần do công dân Việt Nam tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam và phần do công dân nước khác tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm tiền công lao động của người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thu nhập từ sở hữu về vốn được gọi là thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu hay thu nhập yếu tố chuyển ra nước ngoài)
GNP = GDP + thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu – thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu
Hiệu số giữa thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu và thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu được gọi là thu nhập ròng từ nước ngoài (Net Income from Abroad – NIA)
2.3.2 Một số chỉ tiêu khác
2.3.2.1 Sản phẩm quốc nội ròng (Net Domestic Rroduct – NDP)
Sản phẩm quốc nội ròng phản ánh lượng giá trị mới sáng tạo, được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước, không kể đến sản phẩm trung gian và khấu hao
NDP = GDP – D e Đây là lượng sản phẩm chúng ta có thể sử dụng mà không làm giảm dự trữ vốn và khả năng sản xuất năm tới vì khấu hao sẽ được phân bổ vào đầu tư để duy trì sản xuất NDP có thể tính theo hai loại: NDP theo giá thị trường và NDP theo giá sản xuất như sau:
2.3.2.2 Sản phẩm quốc dân ròng (Net National Rroduct – NNP)
Sản phẩm quốc dân ròng phản ánh giá trị mới sáng tạo, được công dân một nước sản xuất ra, không kể đến sản phẩm trung gian và khấu hao
Tương tự NDP, NNP có thể tính theo hai loại: NNP theo giá thị trường và NNP theo giá sản xuất như sau:
2.3.2.3 Thu nhập quốc dân (National Income – NI hay Y)
Thu nhập quốc dân phản ánh mức thu nhập mà công dân một nước tạo ra không kể phần tham gia của chính phủ dưới dạng thuế gián thu Đó là thu nhập từ các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất đai, tài nguyên, khả năng quản lý của tất cả hộ gia đình trong nền kinh tế do vậy thu nhập quốc dân còn phản ánh mức sống của dân cư
NI (Y) = NNP mp – T i = NNP fc
2.3.2.4 Thu nhập cá nhân (Personal Income – PI)
Thu nhập cá nhân phản ánh phần thu nhập thật sự được phân chia cho các cá nhân trong xã hội Lượng thu nhập mà công dân một nước tạo ra (NI) chưa chắc được phân chia hết cho các cá nhân, vì doanh nghiệp còn giữ lại lợi nhuận để tái sản xuất hay lập quỹ và các cá nhân còn được nhận các khoản trợ cấp của chính phủ
PI = NI - giữ lại, nộp + Tr
2.3.2.5 Thu nhập khả dụng (Disposable Income – DI hay YD)
Thu nhập cá nhân chưa phải là lượng thu nhập cuối cùng mà công dân có quyền sử dụng vì sau khi nhận được thu nhập nhiều người còn phải trích nộp các khoản thuế cá nhân Như vậy để tính toán khả năng tiêu dùng và tích lũy của dân cư chúng ta phải dựa vào chỉ tiêu thu nhập có thể sử dụng (DI hay YD)
Hộ gia đình sau khi nhận được thu nhập khả dụng sẽ chi tiêu một phần và dành tiết kiệm một phần như vậy:
Bài tập chương 2/Câu hỏi củng cố
1 Tổng sản phẩm quốc nội là gì? Tổng sản phẩm quốc dân là gì? So sánh sự giống và khác nhau giữa hai khái niệm
2 Anh chị có cho rằng GNP là thước đo hoàn hảo nhất thành tựu và chất lượng của một nền kinh tế hay không? Giải thích
3 Cho biết thế nào là sản lượng tiềm năng?
4 Các kết quả tính GDP bằng các phương pháp khác nhau có cho cùng một kết quả hay không? Tại sao?
5 Sự khác nhau giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế? (3)
6 Giả sử trong nền kinh tế đóng chỉ có 5 doanh nghiệp: Nhà máy thép, doanh nghiệp cao su, doanh nghiệp cơ khí, doanh nghiệp sản xuất bánh xe và doanh nghiệp sản xuất xe đạp Doanh nghiệp sản xuất xe đạp bán xe đạp của mình cho người tiêu dùng cuối cùng với giá trị 8.000 USD Quá trình sản xuất xe đạp doanh nghiệp đã mua bánh xe với giá trị
1000 USD, thép với giá trị 2500 USD và một số máy móc trị giá 1800 USD của doanh nghiệp cơ khí Doanh nghiệp sản xuất bánh xe mua cao su của doanh nghiệp cao su trị giá
600 USD và doanh nghiệp cơ khí mua thép của nhà máy thép trị giá 1000 USD để sản xuất máy móc (6) a Hãy tính GDP của nền kinh tế với giả định trên bằng phương pháp giá trị gia tăng b Hãy xác định GDP theo luồng sản phẩm cuối cùng c Hãy so sánh kết quả tính toán ở câu a và câu b? Hãy lý giải sự giống nhau hoặc khác nhau của kết quả tính toán ở 2 câu trên
7 Cho biết những số liệu dưới đây của hệ thống tài khoản Quốc dân của Việt Nam năm 1990 (theo giá hiện hành) Đơn vị tính: Triệu đồng (7)
- Chi tiêu của Chính phủ về hàng hóa và dịch vụ: 2.205.000
- Tiền lương, tiền công của người lao động: 14.436.000
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp: 5.540.000
- Chi tiêu của các hộ gia đình: 22.150.000
- Khấu hao tài sản cố định: 1.500.000
- Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ: 6.704.000
- Đầu tư mua sắm tài sản cố định mới: 2.817.000
- Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ: 9.567.000
- Các khoản trợ cấp của Chính phủ cho người dân: 5.000
- Thu nhập ròng từ nước ngoài: 9.000
Hãy xác định những chỉ tiêu sau: a GDP, GNP theo phương pháp luồng sản phẩm cuối cùng và phương pháp thu nhập b Nếu kết quả tính toán theo hai phương pháp trên là khác nhau, theo bạn là do những nguyên nhân nào? c Thu nhập Quốc dân (Y) và thu nhập quốc dân có thể sử dụng (Yd)
8 Cho biết những tài khoản quốc dân dưới đây của nền kinh tế giản đơn (đơn vị tính: tỷ đồng Việt Nam) (8)
1 Khấu hao tài sản cố định: 350
3 Lãi suất do công ty trả: 500
4 Tiền thuê tài sản cố định: 50
6 Tổng đầu tư tư nhân: 750
Chỉ ra các cách có thể tính tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP) trên cơ sở số liệu trên
HÃY LỰA CHỌN CÂU TRẢ LỜI ĐÚNG VÀ GIẢI THÍCH
1 Những khoản nào dưới đây được tính vào GDP năm nay: (9e) a Máy in mới được sản xuất năm nay được một công ty xuất bản mua b Máy tính cá nhân được sản xuất năm trước nay được một sinh viên mua c Một chiếc ô tô mới được nhập khẩu từ nước ngoài vào giữa năm d Cả 3 đều đúng
2 Khoản nào sau được coi là đầu tư trong hệ thống tài khoản thu nhập Quốc dân (10e) a Một người thợ gốm mua một chiếc ô tô tải mới để chở hàng b Mua 100 cổ phiếu trên thị trường chứng khóan c Mua một ngôi nhà 100 năm tuổi trong khu di tích lịch sử d Mua một trái phiếu Chính phủ
3 Nếu bạn quan sát sự biến động của GDP thực tế và GDP danh nghĩa, bạn nhận thấy rằng trước năm 1995, GDP thực tế lớn hơn GDP danh nghĩa, nhưng sau năm 1995, GDP danh nghĩa lại lớn hơn GDP thực tế Tại sao lại như vậy? (11e) a Lạm phát đã tăng từ năm 1995 b Lạm phát đã giảm từ năm 1995 c Năm 1995 là năm cơ sở d Năng suất lao động tăng mạnh sau năm 1995
4 Lợi nhuận của hãng Honda tạo ra ở Việt Nam sẽ được tính vào: (12e) a GDP của Việt Nam, GNP của Nhật Bản b GNP của Việt Nam, GDP của Nhật Bản c GDP của Nhật Bản, GDP của Việt Nam d GNP của Nhật Bản, GNP của Việt Nam
5 Muốn tính GNP từ GDP chúng ta cần phải: (13) a Trừ đi thanh toán chuyển khoản của Chính phủ cho các hộ gia đình b Cộng với thuế gián thu ròng c Cộng với xuất khẩu ròng d Cộng với thu nhập ròng của dân cư trong nước kiếm được từ nước ngoài
6 Muốn tính thu nhập quốc dân từ GNP, chúng ta trừ: (14) a Khấu hao b Khấu hao và thuế gián thu c Khấu hao, thuế gián thu và lợi nhuận d Khấu hao, thuế gián thu, lợi nhuận của công ty và đóng bảo hiểm xã hội e.