CHƯƠNG 4: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NHÀ SẢN XUẤT
4.2 LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ
4.2.2. Phân tích chi phí ngắn hạn
4.2.2.5 Phân tích chi phí trong dài hạn
Dài hạn là thời gian đủ dài để doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các yếu tố sản xuất, doanh nghiệp có thể thiết lập bất kỳ qui mô sản xuất nào mà họ thích..
a/ Tổng chi phí dài hạn (LTC – Long Term Cost)
Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả yếu tố đầu vào của mình. Do vậy, trong dài hạn, doanh nghiệp có thể lựa chọn các kết hợp của các yếu tố sản xuất có chi phí thấp nhất. Đường tổng chi phí dài hạn (LTC) mô tả chi phí tối thiểu cho việc sản xuất ra mỗi mức sản lượng, khi doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh tất cả các đầu vào của mình một cách tối ưu. Bởi vì doanh nghiệp có thể đóng cửa hoàn toàn trong dài hạn nên LTC ở mức sản lượng bằng không là 0. Như vậy, không có chi phí cố định trong dài hạn và tất cả các chi phí đều là chi phí biến đổi.
Từ đường mở rộng sản xuất đã xây dựng ở phần trên ta có thể xác định được đường tổng chi phí dài hạn như hình 4.11.
186
Hình 4.11. Đường mở rộng sản xuất và đường chi phí dài hạn b/ Chi phí biên và chi phí trung bình dài hạn.
Tương tự như trong ngắn hạn, ta cũng có các khái niệm về chi phí trung bình, và chi phí biên trong dài hạn. Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể đóng cửa nhà máy nên tổng chi phí ở sản lượng bằng không là 0. Đường LAC (Long Average Cost) cũng có dạng chữ U giống SAC (Short Average Cost) nhưng chi phí ở mỗi mức sản lượng thấp hơn. Doanh nghiệp có thể chọn qui mô sản xuất có chi phí trung bình thấp nhất của các đường SAC.
Hình 4.12 mô tả sự hình thành của đường LAC từ các đường SAC.
Do trong dài hạn doanh nghiệp có thể lựa chọn qui mô sản xuất có chi phí thấp nhất ở mỗi mức sản lượng nên đường LAC là tập hợp các điểm thấp nhất của các đường SAC. Đường LAC thoải hơn các đường SAC và cũng có dạng hình chữ U.
Hình 4.12. Đường chi phí trung bình dài hạn
187 Vì tại mỗi mức sản lượng, LTC luôn nhỏ hơn hoặc bằng STC nên LAC hay LTC/q cũng luôn nhỏ hơn hoặc bằng SAC hay STC/q. Để có thể mô tả các đường chi phí trung bình ngắn hạn và dài hạn trên một đồ thị, ta nhớ rằng, mỗi đường chi phí trung bình ngắn hạn (SAC) thể hiện các mức chi phí trung bình khác nhau tương ứng với các mức sản lượng khác nhau, trong điều kiện doanh nghiệp bị gắn cố định với một số yếu tố đầu vào không điều chỉnh được. Còn đường chi phí trung bình dài hạn (LAC) mô tả các mức chi phi bình quân tương ứng với các mức sản lượng, trong điều kiện doanh nghiệp có thể lựa chọn tự do các yếu tố đầu vào để tìm kiếm các kết hợp đầu vào tốt nhất cho mục đích tối thiểu hóa chi phí. Khi sản lượng cần sản xuất còn nhỏ, (ví dụ, q = q1), người ta chỉcó thể đầu tư xây dựng những nhà máy với quy mô kỹ thuật (nhà xưởng, hệ thống máy móc hay dây chuyền sản xuất) tương đối nhỏ. Khi quy mô kỹ thuật này là cố định, ta có thể vẽ được một đường chi phí trung bình ngắn hạn SAC1 thể hiện các mức chi phí bình quân khác nhau tại các mức sản lượng khác nhau. Nếu tại sản lượng q1, quy mô kỹ thuật trên với các kết hợp đầu vào khác là thích hợp nhất để tối thiểu hóa chi phí, nó sẽ được doanh nghiệp lựa chọn trong cả phương án dài hạn. Nói cách khác, tại sản lượng q1, chi phí trung bình dài hạn bằng chi phí bình quân ngắn hạn (bằng SAC1 tại mức sản lượng q1). Điều đó thể hiện ở điểm A như một điểm vừa nằm trên đường SAC1, vừa nằm trên đường LAC. Ở mức sản lượng cao hơn q2, nếu việc mở rộng quy mô kỹ thuật cho phép doanh nghiệp có được sự lựa chọn tối ưu hơn thì quy mô kỹ thuật ban đầu không phải là quy mô thích hợp cho dài hạn.
Doanh nghiệp sẽ lựa quy mô kỹ thuật mới để sản xuất sản lượng q2 sao cho tổng chi phí và chi phí trung bình là thấp nhất. Rõ ràng, tại sản lượng q2, cũng như các mức sản lượng khác, SAC1 sẽ cao hơn LAC. Lập luận tương tự, nếu coi SAC2 là đường chi phí trung bình ngắn hạn ứng với quy mô kỹ thuật mới nói trên, thì tại sản lượng q2, chi phí bình quân dài hạn LAC lại bằng chi phí trung bình ngắn hạn SAC2 (trên đồ thị điều này thể hiện ở điểm B), mặc dù tại các mức sản lượng khác, SAC2 sẽ có giá trị cao hơn so với LAC. Như thế, tại mỗi mức sản lượng, LAC nhỏ hơn hoặc bằng SAC và đường LAC được xem như một đường bao bọc phía dưới các đường SAC.
188
Đường chi phí biên dài hạn (LMC – Long Marginal Cost) cũng mô tả tổng chi phí thay đổi khi doanh nghiệp sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm. Đường LMC không phải là đường tập hợp các điểm của các đường ngắn hạn. Tương tự trong ngắn hạn khi LMC nhỏ hơn LAC, LAC sẽ giảm xuống, khi LMC lớn hơn LAC thì LAC tăng lên. Khi LAC đạt cực tiểu khi LMC bằng với LAC. Đồ thị hình 4.13.