1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN

122 628 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Kinh Tế Học
Trường học Trường Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Giáo Trình
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,3 MB
File đính kèm GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC Nội dung Bài này nhằm giới thiệu tổng quan về kinh tế học và hai bộ phận của nó là kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô Chương này giới thiệu vấn đề khan hiếm – một thực tế kinh tế của mọi xã hội và cách giải quyết vấn đề đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau Ngoài ra, chương này còn đưa ra các quy luật tác động đến việc ra quyết định lựa chọn của các thành viên kinh tế Mục tiêu  Giúp học viên nắm rõ về các khái niệm kinh tế học, kinh tế học vĩ mô, kinh tế.

Trang 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC Nội dung

Bài này nhằm giới thiệu tổng quan về kinh tế học và hai bộ phận của nó là kinh tế học vi mô

và kinh tế học vĩ mô Chương này giới thiệu vấn đề khan hiếm – một thực tế kinh tế của mọi xã hội và cách giải quyết vấn đề đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau Ngoài ra, chương này còn đưa ra các quy luật tác động đến việc ra quyết định lựa chọn của các thành viên kinh tế

Mục tiêu

 Giúp học viên nắm rõ về các khái niệm kinh tế học, kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi

mô, nền kinh tế, các thành viên kinh tế và các cơ chế kinh tế phối hợp

 Giúp học viên hiểu rõ bản chất mô hình kinh tế và ứng dụng của mô hình kinh tế

 Giúp học viên hiểu được một số quy luật trong lý thuyết lựa chọn: quy luật khan hiếm, chi phí cơ hội tăng dần và lợi suất giảm dần

 Hiểu rõ ba vấn đề kinh tế cơ bản, các cơ chế giải quyết ba vấn đề cơ bản

 Giúp học viên hiểu rõ nguyên tắc lựa chọn kinh tế theo phương pháp tối ưu-phân tích cận biên

Tình huống dẫn nhập

1.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về kinh tế học

Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự phát triển vô cùng mạnh mẽ trong suốt thế kỷ qua Giá trị của cải và sự phong phú của hàng hoá và dịch vụ đã tăng lên rất nhiều Có nhiều quốc gia trở nên rất giầu có, trong khi còn nhiều quốc gia khác lại rất nghèo Nhưng một thực

tế kinh tế luôn tồn tại ở mọi nơi và mọi lúc đó là sự khan hiếm Sự khan hiếm là việc xã hội

với các nguồn lực hữu hạn không thể thoả mãn tất cả mọi nhu cầu ngày càng tăng của con người Tất cả mọi nền kinh tế đều tìm cách sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm một cách

có hiệu quả nhất để thỏa mãn nhu cầu của con người Kinh tế học giúp chúng ta hiểu về cách giải quyết vấn đề khan hiếm đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau

Kinh tế học là môn khoa học giúp cho con người hiểu cách thức vận hành của nền kinh

tế nói chung và cách thức ứng xử của từng thành viên tham gia vào nền kinh tế nói riêng

Trang 2

Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục tiêu cạnh

tranh Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản là: i) sản xuất cái gì?, ii) sản xuất như thế nào?, iii) sản xuất cho ai?

Nền kinh tế bao gồm các bộ phận hợp thành và sự tương tác giữa chúng với nhau Nền kinh tế có hai bộ phận cơ bản là: i) người ra quyết định và ii) cơ chế phối hợp:

Người ra quyết định: là bất cứ ai hoặc tổ chức nào ra các quyết định lựa chọn, gồm có

hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ

Hộ gia đình là một đơn vị ra quyết định Tùy thuộc vào thị trường mà các hộ gia đình

đóng các vai khác nhau Trong thị trường sản phẩm, hộ gia đình là người tiêu dùng, quyết định mua hàng hóa và dịch vụ nào và mua với số lượng bao nhiêu Trong thị trường các yếu

tố, hộ gia đình là người chủ của các nguồn lực Họ quyết định cung cấp bao nhiêu các nguồn

lực đó cho các doanh nghiệp Có ba nguồn lực cơ bản là lao động, vốn và đất đai Đất đai

được hiểu là diện tích đất và các tài nguyên thiên nhiên như quặng kim loại, dầu mỏ, khí thiên

nhiên, than, nước và không khí Lao động là thời gian và công sức làm việc mà con người bỏ

ra để sản xuất hàng hóa và dịch vụ Lao động có thể bao gồm lao động thể chất (như các công nhân đào mỏ than) hoặc lao động trí óc (như những chuyên gia phân tích kinh tế) Chất lượng lao động phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng mà người lao động có được từ giáo dục, đào tạo

hoặc kinh nghiệm làm việc Vốn là các công cụ, máy móc thiết bị, nhà xưởng và những yếu tố

khác do con người tạo ra được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ

Doanh nghiệp là tổ chức mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất và kết hợp các yếu tố đó để

sản xuất và bán các loại hàng hoá và dịch vụ

Chính phủ tham gia vào nền kinh tế với tư cách là nhà cung cấp các hàng hoá dịch vụ và

điều tiết phân phối lại thu nhập Thông thường các chính phủ cung cấp hệ thống pháp luật, hạ tầng cơ sở, quốc phòng , giới hạn sự lựa chọn của người tiêu dùng, và điều tiết sản xuất và phân phối lại thu nhập

Cơ chế phối hợp là cơ chế phối hợp sự lựa chọn của các thành viên kinh tế với nhau

Có ba loại cơ chế kinh tế cơ bản là: i) cơ chế mệnh lệnh, ii) cơ chế thị trường, iii) cơ chế hỗn hợp

Cơ chế mệnh lệnh (kế hoạch hoá tập trung): Trong một nền kinh tế được quản lý theo cơ

chế này, các vấn đề kinh tế cơ bản đều được giải quyết tập trung Nhà nước xác định toàn bộ

kế hoạch sản xuất, tiêu thụ cho các doanh nghiệp, quyết định cả việc tiêu dùng của mọi thành viên kinh tế

Trang 3

Cơ chế thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề kinh tế cơ bản phải được

giải quyết thông qua mối quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường Cơ chế thị trường có

ưu điểm nổi bật trong việc đáp ứng các nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của người tiêu dùng Các doanh nghiệp chủ động điều tra nhu cầu của thị trường, nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng và tổ chức sản xuất nhằm đạt được lợi nhuận tối đa Cơ chế thị trường khuyến khích cạnh tranh, đổi mới công nghệ kỹ thuật và sử dụng các nguồn tài nguyên của xã hội một cách có hiệu quả nhất Tuy nhiên cơ chế này cũng có một số nhược điểm cơ bản như phân phối thu nhập không công bằng, việc chạy theo lợi nhuận thuần tuý có thể làm ô nhiễm môi trường, không cung cấp đủ hàng hoá công cộng

Cơ chế hỗn hợp: Trong nền kinh tế thị trường, ở một số lĩnh vực thị trường không đem

lại hiệu quả tối ưu đối với xã hội, Chính phủ cần trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản Chính phủ thường cung cấp các hàng hoá công cộng, khắc phục các thất bại của thị trường, điều tiết phân phối thu nhập thông qua việc đánh thuế thu nhập để đảm bảo công bằng cho xã hội,

Mô hình dòng luân chuyển Một nền kinh tế đơn giản được mô tả bằng hình 1-1 dưới

đây.Trong mô hình kinh tế này, các thành viên kinh tế tương tác với nhau trên hai thị trường

là thị trường sản phẩm và thị trường yếu tố sản xuất Tham gia vào thị trường sản phẩm, các

hộ gia đình chi tiêu thu nhập của mình để đổi lấy hàng hoá hoặc dịch vụ cần thiết còn các doanh nghiệp bán sản phẩm của mình và nhận lại doanh thu Tham gia vào thị trường yếu tố sản xuất, các hộ gia đình đóng vai trò là người cung cấp các nguồn lực như lao động, đất đai

và vốn cho các doanh nghiệp để đổi lấy thu nhập mà các doanh nghiệp trả cho việc sử dụng các nguồn lực đó còn doanh nghiệp tham gia vào thị trường yếu tố để mua hoặc thuê các yếu

tố sản xuất cần thiết cho hoạt động của mình Chính phủ tham gia vào hai thị trường này để cung cấp các hàng hoá mà thị trường không sản xuất một cách hiệu quả nhưng lại rất cần thiết đối với đời sống xã hội ví dụ như các hàng hóa công cộng, an ninh quốc phòng Ngoài ra chính phủ còn điều tiết thu nhập thông qua thuế và các chương trình trợ cấp

Trang 4

Hình 1-1 Mô hình dòng luân chuyển 1.1.2 Các bộ phận của kinh tế học

Kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô nghiên cứu hành vi và cách thức ra quyết định của các thành viên kinh tế (hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ) Ví dụ như người tiêu dùng sẽ sử dụng thu nhập hữu hạn của mình như thế nào? Tại sao người họ lại thích hàng hóa này hơn hàng hoá khác Hoặc doanh nghiệp sẽ sản xuất bao nhiêu sản phẩm để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận? Nếu giá đầu vào tăng lên, doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Chính phủ sẽ phân bổ ngân sách hữu hạn của mình cho các mục tiêu như giáo dục, y tế như thế nào?

Kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học vĩ mô là bộ phận kinh tế học nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng thể của nền kinh tế như các vấn đề tăng trưởng, lạm phát, việc làm và thất nghiệp, cán cân thương mại, Kinh tế học vĩ mô tìm cách giải đáp các câu hỏi quan trọng như các yếu tố nào quyết định và ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô trên, các biến số thay đổi theo thời gian như thế nào

và các chính sách vĩ mô tác động thế nào đến các biến số

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, hai bộ phận này có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau

Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

Kinh tế học là một môn khoa học xã hội và giống như tất cả các môn khoa học khác,

các nhà kinh tế học phải phân biệt hai câu hỏi: Là cái gì? và Nên như thế nào?

Tiền (Thu nhập)

Tiền (Chi phí)

Trang 5

Trả lời cho câu hỏi “Là cái gì” được gọi là kinh tế học thực chứng – nghiên cứu thế

giới thực tế và tìm cách lý giải một cách khoa học các hiện tương quan sát được Kinh tế học thực chứng tìm cách xác định các nguồn lực trong nền kinh tế thực tế được phân bổ như thế nào

Kinh tế học chuẩn tắc thì lại liên quan đến câu hỏi: Nên như thế nào? Kinh tế học chuẩn

tắc có yếu tố đánh giá chủ quan của các nhà kinh tế - phát biểu về cách các nguồn lực của nền kinh tế cần phải được phân bổ như thế nào

Để hiểu được sự phân biệt giữa kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc, chúng

ta xem xét tình huống về thị trường bất động sản “Chính sách thắt chặt của Chính phủ theo Nghị quyết 11 vào tháng 2 năm 2011 khiến thị trường bất động sản suy giảm do tín dụng phi sản xuất bị hạn chế mạnh” là một tuyên bố thực chứng “Cần phải điều chỉnh tín dụng cho từng phân khúc bất động sản để để tránh đổ vỡ thị trường này trong giai đoạn hiện nay” lại là một tuyên bố chuẩn tắc

1.2 CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN

1.2.1 Những vấn đề kinh tế cơ bản

Vì tài nguyên là khan hiếm nên mọi nền kinh tế đều phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai Ba vấn đề kinh tế cơ bản được hiểu như sau:

Sản xuất cái gì?

Vì nhu cầu của các thành viên trong xã hội là vô hạn mà khả năng đáp ứng các nhu cầu

đó là hữu hạn, nên không có xã hội nào có thể sản xuất được moijt hứ mà các thành viên trong

xã hội mong muốn Bởi vậy mỗi xã hội đều phải cân nhắc, lựa chọn để thỏa mãn một trong số các nhu cầu khác nhau rồi sau đó quyết đính sản xuất hàng hóa và dịch vụ nào với số lượng bao nhiêu Chẳng hạn, một xã hội cần quyết định sản xuất bao nhiêu tấn lượng thực, bao nhiêu bộ quần áo

Sản xuất như thế nào?

Sau khi đã quyết định sản xuất những hàng hóa và dịch vụ nào, mỗi xã hội phải lựa chọn các yếu tố sản xuất và phương pháp sử dụng các yếu tố sản xuất đã lựa chọn Thông thường các hàng hóa và dịch vụ có thể được sản xuất ra bằng nhiều cách, tùy vào mục đích cụ thể và trong giới hạn khả năng cho phép, người sản xuất quyết định sẽ sản xuất theo cách nào

Trang 6

Sản xuất cho ai?

Vấn đề cuối cùng mà mỗi nền kinh tế phải xem xét đó là sản xuất cho ai, nghĩ là phân phối số lượng hữu hạn các hàng hóa và dịch vụ đã được sản xuất ra cho những người mong muốn nhận được chúng

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC

Kinh tế học cũng là một môn khoa học nên phương pháp nghiên cứu cũng giống như các môn khoa học tự nhiên khác Tuy nhiên vì kinh tế học nghiên cứu hành vi của con người nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học cũng có nhiều điểm khác biệt

Quy trình nghiên cứu kinh tế học thường được tiến hành theo các bước:

 Quan sát và đo lường

 Xây dựng mô hình

 Kiểm định mô hình

1.3.1 Quan sát và đo lường

Các nhà kinh tế học thường phải quan sát, thu thập số liệu và đo lường các biến số kinh

tế để phục vụ cho quá trình phân tích Một số biến số mà các nhà kinh tế phải đo lường như giá hàng hóa, số lượng hàng hóa tiêu thụ, chỉ số giá chung, thuế và chi tiêu chính phủ, sản lượng và thu nhập của nền kinh tế, giá trị hàng hóa dịch vụ giao dịch với các nước khác

1.3.2 Xây dựng mô hình

Xác định vấn đề nghiên cứu

Đây chính là bước phải xác định các câu hỏi nghiên cứu Ví dụ tại sao giá xăng dầu và giá lương thực thế giới tăng cao đột biến trong quý 1 năm 2011? Tác động của gói kích thích kinh tế năm 2009 đến ổn định kinh tế vĩ mô? Nếu chính phủ trợ giá nông sản thì người nông dân có được lợi hay không? Tại sao chính phủ lại kiểm soát giá xăng dầu, kiểm soát lãi suất

Trang 7

Hình 1-2 Trình tự phương pháp nghiên cứu kinh tế học

Xây dựng các mối quan hệ dựa trên các giả định đơn giản hóa so với thực tế

Mô hình kinh tế chính là một cách thức mô tả thực tế đã được đơn giản hoá để hiểu và

dự đoán được mối quan hệ của các biến số Cách thức mô tả xây dựng các mối quan hệ giữa các biến số có thể biểu đạt bằng lời, bảng số liệu, đồ thị hay các phương trình toán học

Thực tế các hoạt động kinh tế thì rất phức tạp với những mối quan hệ tương tác giữa các thành viên kinh tế, giữa các biến số kinh tế mà các nhà kinh tế không thể bao quát Vì vậy, mô hình kinh tế đơn giản hóa thực tế bằng cách mô tả một vài khía cạnh quan trọng nhất, loại bỏ những chi tiết không quan trọng, không cần thiết cho mục đích nghiên cứu

Xác lập các giả thuyết kinh tế để giải thích vấn đề nghiên cứu

Mục tiêu của mô hình kinh tế là dự báo hoặc tiên đoán kết quả khi các biến số thay đổi

Vì vậy, khi xây dựng mô hình, cần thiết lập các giả thuyết kinh tế Các giả thuyết kinh tế mô

tả mối quan hệ giữa các biến số mà sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân khiến một (hoặc) các biến số khác thay đổi theo

1.3.3 Kiểm định mô hình

Các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu và phân tích để kiểm chứng lại giả thuyết Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết thì giả thuyết được công nhận còn nếu ngược lại, giả thuyết sẽ bị bác bỏ Trong trường hợp nếu các phép thử được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần đều cho kết quả thực nghiệm đúng như giả thuyết thì giả thuyết kinh tế được coi là

lý thuyết kinh tế Một vài giả thuyết và lý thuyết kinh tế được công nhận một cách rộng rãi thì được gọi là qui luật kinh tế

Quan sát và đo lường

Xây dựng mô hình

- Xác định vấn đề nghiên cứu

- Xây dựng các mối quan hệ dựa trên những giả định đơn giản hoá so với thực tế

- Xác lập các giả thuyết kinh tế

để giải thích vấn đề nghiên cứu

Kiểm định mô hình

- Thu thập số liệu

- Phân tích số liệu

- Kiểm định

Trang 8

Tuy nhiên đưa ra kết luận cuối cùng cần rất thận trọng Thứ nhất là vấn đề liên quan đến giả định các yếu tố khác không thay đổi Đây là một trong những khó khăn lớn trong phân tích kinh

tế, đòi hỏi những kỹ thuật thống kê phức tạp Thứ hai là vấn đề liên quan đến quan hệ nhân quả Một lỗi thường gặp là kết luận sai lầm về quan hệ nhân quả: sự thay đổi của một biến này là nguyên nhân thay đổi của biến kia chỉ bởi vì chúng có xu hướng xảy ra đồng thời Các phương pháp thống kê phức tạp cũng cần được sử dụng để xác định xem liệu sự thay đổi của một biến có thực sự là nguyên nhân gây ra sự thay đổi quan sát được ở biến khác hay không Trong cả hai trường hợp, bên cạnh nguyên nhân khó có thể có những thực nghiệm hoàn hảo như trong phòng thí nghiệm như các môn khoa học khác, những phương pháp thống kê không phải lúc nào cũng

đủ sức thuyết phục các nhà kinh tế học tin vào mối quan hệ nhân quả thực sự

1.4 LÝ THUYẾT LỰA CHỌN KINH TẾ

Phần này sẽ giới thiệu một số lý thuyết lựa chọn và quy luật kinh tế cơ bản tác động đến quá trình lựa chọn trong nền kinh tế như là một đối tượng của môn kinh tế học

1.4.1 Quy luật chi phí cơ hội tăng dần

Chi phí cơ hội là cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi đưa ra một sự lựa chọn về kinh tế Khái

niệm này cũng có thể được phát biểu là những hàng hoá và dịch vụ cần thiết nhất bị bỏ qua để thu được những hàng hoá và dịch vụ khác Ví dụ: một người có một lượng tiền mặt là 1 tỷ đồng và cất giữ ở trong két tại nhà Nếu anh ta gửi lượng tiền đó vào ngân hàng với lãi suất có

kỳ hạn 1 tháng là 1,30% thì sau một tháng anh ta có được một khoản lãi là 13 triệu đồng Như vậy, chi phí cơ hội của việc giữ tiền (1 tỷ đồng) là tiền lãi (13 triệu đồng) bị bỏ qua Đây là số tiền lãi có thể thu được nếu gửi tiền vào ngân hàng Một ví dụ khác về chi phí cơ hội của lao động là thời gian nghỉ ngơi bị mất đi Nếu bạn quyết định đi làm thêm vào thứ bảy và Chủ nhật, bạn có thể kiếm được một lượng thu nhập nào đó, ví dụ là 500 ngàn đồng để chi tiêu Tuy nhiên, thời gian của thứ bảy và Chủ nhật đó lại không được sử dụng để nghỉ ngơi Thời gian nghỉ ngơi bị mất đi chính là chi phí cơ hội của việc làm thêm cuối tuần của bạn Hoặc khi người nông dân quyết định trồng hoa trên mảnh vườn của mình thay cho cây ăn quả hiện có, thì chi phí cơ hội của việc trồng hoa là lượng hoa quả bị mất đi

Như vậy khi đưa ra bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào, chúng ta cũng phải cân nhắc so sánh các phương án với nhau để xem phương án lựa chọn nào là tốt nhất Đó chính là việc tính toán chi phí cơ hội của sự lựa chọn Tất nhiên, cần nhấn mạnh rằng việc tính toán chi phí cơ hội không phải là đơn giản vì sự lựa chọn phải được cân nhắc rất kỹ trên nhiều phương diện khác nhau Và sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào quy luật chi phí cơ hội tăng dần

Trang 9

Quy luật chi phí cơ hội tăng dần phát biểu rằng để thu thêm được một số lượng hàng

hoá bằng nhau, xã hội ngày càng phải hy sinh ngày càng nhiều hàng hoá khác Tại sao chi phí

cơ hội lại tăng lên? Câu trả lời tương đối đơn giản Không phải tất cả các nguồn lực đều giống nhau, một số nguồn lực phù hợp với sản xuất hàng hóa này hơn so với việc sản xuất hàng hóa kia.Ví dụ răng giả định nên kinh tế có 2 ngành là trồng ngô và dệt vải, một số lao động và máy móc thiết bị phù hợp với việc dệt vải trong khi một số lao động và máy móc khác lại phù hợp hơn cho việc sản xuất ngô Vì thế khi nền kinh tế mở rộng sản lượng dệt vải thì phải sử dụng những tài nguyên không phù hợp lắm với việc sản xuất vải Lúc đầu, tăng số lượng mét vải không khó khăn lắm, chẳng hạn chuyển giảm diệt tích trồng ngô để chuyển sang trồng bông dệt vải Nhưng khi tiếp tục tăng sản lượng vải thì phải sử dụng cả những tài nguyên kém phù hợp hơn Chẳng hạn chuyển nhà máy chế biến ngô sang nhà máy chế biến sợi bông, việc chuyển đổi trang thiết bị sản xuất này đòi hỏi phải hi sinh sản lượng ngô ngày càng lớn hơn

Quy luật chi phí cơ hội tăng dần thường được minh hoạ qua đường giới hạn năng lực sản xuất (PPF) - mô tả các mức sản lượng tối đa có thể sản xuất được với các nguồn lực hiện

có trong điều kiện công nghệ nhất định Hãy xem xét quy luật này thông qua một ví dụ cụ thể sau đây: Giả sử một nền kinh tế giản đơn có 2 ngành sản xuất là trồng ngô và dệt vải Giả định rằng các nguồn lực được sử dụng một cách tối ưu Các khả năng có thể đạt được của nền kinh tế đó được cho ở Bảng 1-1 dưới đây:

Bảng 1-1 Các khả năng sản xuất của một nền kinh tế

Các khả năng Sản lượng ngô (tấn) Sản lượng vải (nghìn mét)

Trang 10

Hình 1-3 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Các điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất như điểm A, B, C, D, E minh họa khả năng sản xuất cao nhất của một nền kinh tế Nền kinh tế không thể sản xuất nhiều hơn các mức đó được Các điểm này được coi là đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật hay sản xuất Các điểm nằm bên ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất như điểm K là những điểm không khả thi, nền kinh tế không thể đạt được Còn các điểm nằm trong đường giới hạn khả năng sản xuất như điểm H cho thấy việc sản xuất chưa hiệu quả - chưa tận dụng hết nguồn lực cũng như công nghệ hiện có

Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa chi phí cơ hội như thế nào? Quan sát 2 điểm A và B ta thấy như sau: để thu được 4 nghìn mét vải, nền kinh tế bây giờ chỉ có thể sản xuất tối đa là 20 tấn ngô, có nghĩa là giảm bớt đi 5 tấn (bằng 25 tấn – 20 tấn) Chúng ta coi 5 tấn ngô mất đi này là chi phí cơ hội của việc sản xuất 4 nghìn mét vải đầu tiên Tương tự như vậy, ta có thể tính toán chi phí cơ hội của việc sản xuất vải của nền kinh tế này thông qua Bảng 1-2 sau đây:

Trang 11

Bảng 1-2 Chi phí cơ hội của việc sản xuất vải

Chi phí cơ hội của 1 nghìn mét vải (tấn

ngô)

4 nghìn mét vải đầu tiên đòi hỏi phải bỏ qua 5 tấn ngô 5/4

3 nghìn mét vải tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 5 tấn ngô 5/3

2 nghìn mét vải tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 6 tấn ngô 3

1 nghìn mét vải cuối cùng đòi hỏi phải bỏ qua 9 tấn

ngô

9

Có thể nhận thấy rằng để thu thêm được cùng một số lượng vải (1 nghìn mét) số lượng ngô bị mất ngày càng tăng Điều này minh họa quy luật chi phí cơ hội tăng dần

1.4.3 Phân tích cận biên - phương pháp lựa chọn tối ưu

Phân tích cận biên cấu thành cách tiếp cận phân tích của chúng ta đối với vấn đề lựa chọn Phương pháp này cho phép chúng ta hiểu được bản chất tối ưu của các quyết định kinh tế Khi đưa ra các quyết định kinh tế, các thành viên kinh tế theo đuổi các mục tiêu kinh tế khác nhau

Cụ thể người tiêu dùng muốn tìm cách để tối đa hoá lợi ích, doanh nghiệp muốn tối đa hoá lợi nhuận còn chính phủ muốn tối đa hoá phúc lợi công cộng Dù các mục tiêu có khác nhau song các thành viên kinh tế đều có chung một giới hạn đó là ràng buộc về ngân sách

Phép phân tích cận biên sẽ giúp chúng ta hiểu được cách thức lựa chọn của các thành viên kinh tế Bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào cũng liên quan đến hai vấn đề cơ bản là: chi phí

và lợi ích của sự lựa chọn Cả hai biến số này đều thay đổi khi các thành viên kinh tế đưa ra các sự lựa chọn với quy mô khác nhau Mọi thành viên kinh tế đều mong muốn tối đa hoá lợi ích ròng (hiệu số giữa lợi ích và chi phí)

Lợi ích ròng = Tổng lợi ích – Tổng chi phí

Giả sử hàm tổng lợi ích là TB = f(Q), hàm tổng chi phí là TC = g(Q) Điều đó có nghĩa

là tổng lợi ích thu được cũng như tổng chi phí bỏ ra cho một sự lựa chọn phụ thuộc vào qui

mô của sự lựa chọn đó (Q) Khi đó lợi ích ròng là NB = TB - TC = f(Q) - g(Q)

NB đạt giá trị cực đại khi (NB)’

(Q) = 0, ta có:

(NB)’(Q) = TB’(Q) - TC’(Q) = 0

Trang 12

=> MB - MC = 0

=> MB = MC

Vậy lợi ích ròng đạt giá trị cực đại khi

- Nếu MB > MC thì mở rộng quy mô hoạt động sẽ làm tăng lợi ích ròng;

- Nếu MB = MC quy mô hoạt động là tối ưu;

- Nếu MB < MC thì thu hẹp quy mô hoạt động sẽ làm tăng lợi ích ròng

Như vậy, khi đưa ra các quyết định về sự lựa chọn kinh tế các thành viên kinh tế luôn phải

so sánh giữa phần tăng thêm về lợi ích và phần tăng thêm về chi phí nhằm mục đích xác định một mức sản lượng tối ưu

MB = MC

Trang 13

TÓM TẮT

Sự khan hiếm các nguồn lực là một đặc trưng vốn có của mọi kinh tế Sự khan hiếm là việc xã hội với các nguồn lực hữu hạn không thể thoả mãn tất cả mọi nhu cầu vô hạn và ngày càng tăng của con người Kinh tế học giúp chúng ta hiểu về cách giải quyết vấn đề khan hiếm

đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau

Kinh tế học là môn khoa học giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng thành viên tham gia vào nền kinh tế nói riêng Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục đích sử dụng khác nhau Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Các bộ phận hợp thành nền kinh tế là người ra quyết định bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ Các thành viên này tương tác với nhau theo các

cơ chế phối hợp khác nhau Mỗi thành viên có những mục tiêu và hạn chế của mình

Kinh tế học bao gồm hai bộ phận cơ bản là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô Kinh

tế học vi mô nghiên cứu hành vi của các thành viên kinh tế Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng thể của nền kinh tế như các tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, các cân thương mại,

Kinh tế học thực chứng trả lời câu hỏi “Là cái gì” – tìm cách lý giải một cách khoa học

các hiện tượng quan sát được, xác định các nguồn lực trong nền kinh tế thực tế được phân bổ

như thế nào Kinh tế học chuẩn tắc trả lời câu hỏi “Nên như thế nào” - đánh giá chủ quan của

các nhà kinh tế - phát biểu về cách các nguồn lực của nền kinh tế cần phải được phân bổ như thế nào

Phương pháp nghiên cứu kinh tế học bao gồm: i) quan sát và đo lường (số liệu theo thời gian và số liệu chéo, chỉ số, biến danh nghĩa và biến thực tế, sự thay đổi của các biến số), ii) xây dựng mô hình (xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng các mối quan hệ dựa trên những giả định đơn giản hoá so với thực tế, xác lập các giả thuyết kinh tế để giải thích vấn đề nghiên

cứu), iii) kiểm định mô hình

Chi phí cơ hội được hiểu là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện một sự lựa

chọn về kinh tế Chi phí cơ hội tuân theo quy luật chi phí cơ hội tăng dần

Đường giới hạn năng lực sản xuất (PPF) được hiểu là đường mô tả tất cả các kết hợp hàng hoá tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất với ràng buộc về các nguồn lực sản xuất và công nghệ hiện có Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện sự khan hiếm của các nguồn lực và quy luật chi phí cơ hội tăng dần

Phương pháp phân tích cận biên chỉ ra rằng các thành viên kinh tế sẽ lựa chọn tại mức

mà lợi ích cận biên bằng với chi phí cận biên (MB = MC) để tối đa hóa lợi ích ròng

Trang 14

CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT CUNG – CẦU

Mục tiêu:

 Giúp học viên nắm được khái niệm cầu, cầu cá nhân, cầu thị trường Hiểu được các nhân tố ảnh hưởng tới cầu Phân biệt sự vận động dọc đường cầu với sự dịch chuyển của đường cầu

 Giúp học viên nắm được khái niệm cung, cung cá nhân, cung thị trường Hiểu được các nhân tố ảnh hưởng tớ cầu Phân biệt sự vận động dọc đường cung và sự dịch chuyển của đường cung

 Giúp học viên hiểu được khái niệm cân bằng thị trường cũng như cơ chế xác lập trạng thái cân bằng của thị trường

 Giúp học viên nắm vững khái niệm dư thừa và thiếu hụt

 Giúp học viên có thể sử dụng mô hình cung cầu để phân tích các trường hợp trạng thái cân bằng thay đổi

 Giúp học viên nắm chắc những tác động của chính sách chính phủ lên trạng thái cân bằng

Tình huống dẫn nhập

2.1 CẦU

2.1.1 Khái niệm

Cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng

mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, ceteris paribus1

Như vậy cầu bao gồm hai yếu tố hợp thành đó là ý muốn mua và khả năng mua Nếu bạn rất muốn mua một chiếc máy tính xách tay SonyVaio đời mới rất đẹp và sang trọng

1 Ceteris paribus – Tiếng La Tinh có nghĩa là các điều kiện khác không đổi

Trang 15

nhưng vì giá nó rất cao và bạn không có đủ tiền thì cầu của bạn đối với máy tính xách tay đó bằng không Tương tự, nếu bạn có rất nhiều tiền nhưng bạn không muốn mua chiếc máy tính Acer cũ thì cầu của bạn cũng không tồn tại Như vậy cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ chỉ tồn tại khi người tiêu dùng vừa mong muốn mua hàng hoá đó và sẵn sàng chi trả tiền cho hàng hoá đó

Lượng cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và sẵn sàng

mua tại một mức giá nhất định,ceteris paribus

Lượng cầu đối với một hàng hoá nào đó có thể lớn hơn lượng hàng hoá thực tế bán ra

Ví dụ, để thu hút khách hàng, mỗi tháng cửa hàng đĩa hát CD bán khuyến mại một lần vào ngày đầu tháng 20 đĩa ca nhạc với giá 10.000 đồng 1 chiếc Tại mức giá thấp đó, người tiêu dùng muốn và sẵn sàng mua 30 chiếc CD, nhưng vì cửa hàng chỉ bán 20 chiếc đĩa hát nên người tiêu dùng chỉ mua được 20 chiếc CD Vậy lượng cầu là 30 – là lượng người tiêu dùng muốn mua nhưng lượng thực tế bán ra chỉ là 20 chiếc

Như vậy có thể thấy là cầu biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá,trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi

Hình 2.1 minh hoạ đường cầu ước lượng đối với thịt lợn tại Canada (Moschini và Meilke, 1992) Trên đồ thị 2.1 trục tung biểu diễn giá tính bằng đôla/kg còn trục hoành biểu diễn sản lượng đo bằng nghìn tấn/năm Trong trường hợp này thì đường cầu là một đường thẳng tuyến tính còn nhìn chung đường cầu là đường nghiêng xuống về phía bên phải

Hình 2.1 Đường cầu (D 1 ) đối với thịt lợn của Canada

P $/kg

Q ngh×n tÊn/n¨m

D 1

Trang 16

Tại mức giá là 14.30 đôla/kg hoặc cao hơn thì lượng cầu sẽ bằng không Còn 286 nghìn tấn cho biết lượng thịt lợn mà người tiêu dùng muốn nếu giá bằng không Tại mức giá là 3,30đôla/kg thì lượng cầu sẽ là 220 nghìn tấn một năm

Như vậy, một điều đặc biệt quan trọng cần ghi nhớ ở đây là đồ thị đường cầu chỉ minh hoạ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá Các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu như thu nhập, thị hiếu, giá của hàng hoá liên quan như giá thịt bò, thịt gà được coi như không đổi bằng giả định ceteris paribus

Bảng 2.1 Biểu cầu đối với thị lợn Canada:

Mức giá (đôla/kg)

Lượng cầu(nghìn tấn)

2.1.3 Cầu cá nhân và cầu thị trường

Nếu chúng ta biết được đường cầu của các cá nhân tiêu dùng riêng biệt thì làm cách nào

để xác định tổng cầu của họ? Cầu thị trường là cầu của tất cả những người mua Tổng lượng cầu tại một mức giá đã cho bằng tổng lượng cầu của tất cả người tiêu dùng tại mức giá đó

Trang 17

Lưu ý rằng việc cộng các lượng cầu lại với nhau chỉ có nghĩa khi cả hai người tiêu dùng cùng gặp một mức giá

Ví dụ: Giả sử trên thị trường kem có 2 người mua là anh A và anh B với biểu cầu được cho như sau:

P (nghìn đồng)

qA (chiếc)

qB (chiếc) QD = qA + qB

QD là lượng cầu thị trường

qA, qB là lần lượt là lượng cầu của A và B

Như vậy lượng cầu của thị trường tại mỗi mức giá bằng tổng lượng cầu của tất cả người mua trên thị trường tại cùng mức giá đó Trên đồ thị, đường cầu thị trường là tổng theo chiều ngang của tất cả các đường cầu cá nhân

Hình 2.2 Tổng các đường cầu cá nhân 2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu

2.1.4.1 Thu nhập

Thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định mua gì và bao nhiêu đối với người tiêu dùng vì thu nhập quyết định khả năng mua của người tiêu dùng

Đối với đa số hàng hoá và dịch vụ, khi thu nhập tăng lên thì cầu đối với chúng tăng lên

và ngược lại Các hàng hoá đó được gọi là các hàng hoá bình thường Ví dụ các hàng hoá như lương thực, thực phẩm, Đi du lịch, mua bảo hiểm là hàng hoá bình thường

Trang 18

Đối với một số hàng hoá và dịch vụ, khi thu nhập tăng lên người tiêu dùng mua ít đi Các hàng hoá đó có tên gọi là hàng hoá cấp thấp Ví dụ trong thời bao cấp chúng ta thường phải ăn độn gạo và ngô hoặc khoai Ngày nay khi thu nhập (mức sống) cao lên việc tiêu dùng ngô, khoai giảm xuống

Xét ví dụ cầu về thịt lơn Giả sử rằng thịt lợn là một loại hàng hóa bình thường, hình 2.3

sẽ minh họa rằng khi thu nhập tăng lên, thì lượng cầu thịt lợn đều tăng lên tại mọi mức giá Trước đây khi giá là 3.3$/kg thì thị trường mua 220 nghìn tấn một năm do thu nhập tăng nên tại mức giá đó thị trường mua 232 tấn một năm Toàn bộ mối quan hệ giữa giá và lượng thay đổi- cầu thay đổi Đường cầu thay đổi vị trí chuyển từ D1 sang D2 – ta gọi đó là sự dịch

chuyển của đường cầu

P

$/kg

Q ngh×n tÊn/n¨m

Trang 19

2.1.4.3 Giá của hàng hoá liên quan

Khi mua sắm hàng hóa người tiêu dùng còn rất quan tâm đến giá của các hàng hóa liên quan Vậy các hàng hóa liên quan là gì? Mỗi hàng hoá có hai loại hàng hoá liên quan là hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung

Hàng hoá thay thế là những hàng hoá có thể dùng thay cho hàng hoá đang xem xét

hoặc có cùng giá trị sử dụng hay thoả mãn cùng nhu cầu ví dụ như chè và cà phê, rau muống

và rau cải, nước chanh và nước cam

Ta thấy thịt lợn và thịt bò là hai hàng hóa thay thế Tại mức giá thịt lợn đã cho nếu giá thịt bò lại tăng lên từ 4$/kg lên 4.60$/kg thì một số người tiêu dùng sẽ thay thế thịt bò bằng thịt lợn Cụ thể, trước đây khi giá thịt bò là 4$/kg thì thị trường tiêu thụ 220 tấn thịt lợn mỗi năm, sau khi giá thịt bò tăng lên 4.60$/kg, lượng cầu đối với thịt bò sẽ tăng lên 232 tấn/năm Tại tất cả mọi mức giá, lượng cầu thịt lợn đều tăng lên Trên đồ thị hình 2.4 đường cầu mới là đường D2 Đường D2 cho biết tại mọi mức giá thì người tiêu dùng đều mua nhiều thịt lợn hơn so với đường cầu D1

Hình 2.4 Cầu đối với thịt lợn khi giá thịt bò tăng

Hàng hoá bổ sung là các hàng hoá được sử dụng cùng nhau ví dụ như chè Lipton và

chanh, xăng và xe máy Khi giá chè Lipton giảm xuống người tiêu dùng sẽ mua nhiều chè hơn và do vậy sẽ cầu nhiều chanh hơn – cầu với chanh tăng lên và ngược lại khi giá chè tăng lên, cầu với chanh sẽ giảm xuống Hình 2.5 minh họa sự thay đổi của cầu đối với chanh khi giá chè Lipton giảm Đường cầu đối với chanh dịch chuyển về phía bên phải – từ D1 sang D2 - cầu chanh tăng

P

$/kg

Q ngh×n tÊn/n¨m

Trang 20

Hình 2.5 Cầu đối với chanh khi giá chè Lipton giảm 2.1.4.4 Số lượng người tiêu dùng

Số lượng người tiêu dùng hay quy mô thị trường là một trong những nhân tố quan trọng xác định lượng tiêu dùng tiềm năng Thị trường càng nhiều người tiêu dùng thì cầu tiềm năng sẽ càng lớn Ví dụ, nếu chúng ta so sánh thị trường gạo của Trung Quốc với Việt Nam

Rõ ràng với hơn 1,35 tỷ dân Trung Quốc sẽ cầu nhiều gạo hơn Việt Nam với chỉ hơn 85 triệu dân Trên hình 2.6 đường cầu D1 là đường cầu đối với gạo của Việt Nam và đường cầu D2 là đường cầu của Trung Quốc

Trang 21

bạn kỳ vọng rằng giá hàng hóa bạn định mua sẽ giảm mạnh trong thời gian tới, tất nhiên bạn

sẽ cân nhắc việc dừng mua tại thời điểm hiện tại – có nghĩa là cầu giảm Hoặc nếu bạn kỳ vọng rằng thu nhập của bạn sẽ tăng cao trong thời gian tới (do ký được hợp đồng, do được thăng tiến ) bạn có thể tiêu dùng nhiều hơn trong hiện tại – cầu của bạn tăng Thực tiễn thời gian qua khi chính phủ dự định cho nhập khẩu xe ô tô cũ cho thấy là rất nhiều người tiêu dùng

kỳ vọng và “chờ đợi” để mua ô tô với giá rẻ và cầu đối với ô tô sản xuất trong nước tạm thời giảm xuống

Kết luận: Sự thay đổi của giá bản thân hàng hóa gây ra sự vân động dọc đường cầu Sự

thay đổi của bất cứ yếu tố nào khác giá của hàng hoá đó sẽ gây ra sự dịch chuyển của đường cầu Khi đường cầu dịch chuyển sang bên phải, chúng ta gọi là cầu tăng và khi cầu dịch sang bên trái, chúng ta gọi là cầu giảm

2.1.5 Hàm cầu

Cầu đối với hàng hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu đối với hàng hoá và các yếu tố ảnh hưởng dưới dạng hàm số tổng quát sau:

Qdx=f(Px,Py,Pz,I,N ) (2.1)

Trong đó

- Qdx lượng cầu đối với hàng hoá X,

- Px giá của hàng hoá X,

- Py giá của hàng hoá Y,

- Pz giá của hàng hoá Z,

- I thu nhập của người tiêu dùng,

- N số lượng người tiêu dùng

2.2 CUNG

Hiểu được người tiêu dùng muốn mua bao nhiêu hàng hoá là một điều rất quan trọng nhưng vẫn chưa đủ để biết được giá và sản lượng hàng hoá đó trên thị trường là bao nhiêu Để trả lời được vấn đề đó, chúng ta còn cần phải hiểu người sản xuất hay các hãng muốn bán bao nhiêu hàng hoá Hành vi của các hãng được giải thích qua khái niệm kinh tế là cung

2.2.1 Khái niệm

Cung là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người sản xuất muốn bán và có khả năng

bán ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, ceteris paribus

Trang 22

Cũng giống như trong khái niệm cầu, cung bao gồm cả hai yếu tố đó là sự muốn bán và khả năng bán của nhà sản xuất Ý muốn bán thường gắn với lợi nhuận có thể thu được còn

khả năng bán lại phụ thuộc vào năng lực sản xuất của hãng

Lượng cung là số lượng hàng hoá mà hãng muốn bán và có thể bán tại một mức giá đã

cho với các yếu tố khác không đổi, ceteris paribus

Chúng ta có thể thấy là cung biểu diễn mối quan hệ giữa giá và lượng cung, ceteris paribus Khi chúng ta biểu diễn mối quan hệ này trên đồ thị, chúng ta sẽ có đường cung Hình 2.7 minh hoạ đường cung S1 đối với thịt lợn ở Canada Đường cung này là một đường thẳng nhưng các đường cung khác có thể có hình dạng khác Cũng như đối với đường cầu, trục tung biểu diễn giá còn trục hoành biểu diễn sản lượng Như vậy đường cung giúp chúng ta trả lời câu hỏi các hãng sẽ bán bao nhiêu hàng hoá ở các mức giá khác nhau

Hình 2.7 Đường cung thịt lợn S 1 tại Canada 2.2.2 Tác động của giá tới lượng cung

Chúng ta minh hoạ tác động của giá tới lượng cung trên đồ thị đường cung hình 2.7 Như đã trình bày ở trên, đường cung thịt lợn tại Canada là một đường thẳng dốc lên trên Khi giá thịt lợn tăng lên, các hãng cung cấp nhiều thịt lợn hơn Nếu giá là 3,30$/kg lượng cung trên thị trường là 220 nghìn tấn Nếu giá tăng lên 5,30$/kg lượng cung sẽ tăng lên 300 nghìn

tấn Sự thay đổi của giá thịt lợn gây ra sự vận động dọc theo đường cung

Mặc dù luật cầu đòi hỏi rằng đường cầu dốc xuống, song luật cung không đòi hỏi đường cung phải có một hình dạng nhất định Đường cung thị trường có thể là đường dốc lên, thẳng đứng, nằm ngang hay dốc xuống2 Trong ngắn hạn, hầu hết đường cung dốc lên như đường

2 Chúng ta sẽ nghiên cứu các đường cung dài hạn trong phần cấu trúc thị trường

Q ngh×n tÊn/n¨m

Trang 23

cung thịt lợn trong ví dụ của chúng ta Đối với các đường cung này, khi giá cao hơn các hãng muốn bán nhiều hơn, ceteris paribus

2.2.3 Cung cá nhân và cung thị trường

Đường cung thị trường cho biết tổng số hàng hoá được cung bởi tất cả các hãng tại các mức giá khác nhau Tương tự như phần xác định đường cầu của thị trường, đường cung thị trường là tổng số của tất cả các đường cung cá nhân Trong phần này chúng ta sẽ minh hoạ sự tổng hợp đường cung bằng đồ thị

Giả sử có hai hãng cung cấp hàng hoá với hai đường cung tương ứng là Sd và Sf Đường tổng cung St là tổng theo chiều ngang của hai đường Sd và Sf Để tính lượng tổng cung, chúng

ta cộng lượng cung cá nhân theo mỗi mức giá Ví dụ, tại mức giá P1 lượng tổng cung bằng Qd1 + Qf1 Tại mức giá P2, lượng tổng cung sẽ là Qd2+Qf2 Hình 2.8 minh họa rất rõ cách xác định đường tổng cung

Hình 2.8 Tổng cộng các đường cung 2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới cung

2.2.4.1 Công nghệ sản xuất

Công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng hàng hoá được sản xuất ra Công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng năng suất và do đó nhiều hàng hoá hơn được sản xuất ra Hãy xem xét một ví dụ cụ thể về sản xuất rượu theo phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại Để sản xuất rượu theo công nghệ truyền thống, ta thấy giai đoạn lên men rất dài vì phụ thuộc vào nhân tố khách quan như nhiệt độ môi trường, do đó hạn chế số lượng rượu sản xuất

ra chưa kể là chất lượng không ổn định Theo phương pháp hiện đại sử dụng công nghệ vi sinh tiên tiến, một môi trường thuận lợi nhất được tạo ra đối với quá trình lên men đảm bảo không chỉ tính ổn định về chất lượng mà còn tăng sản lượng trong thời gian ngắn hơn Chúng

Trang 24

ta minh họa điều này qua hình 2.9 Với công nghệ hiện đại, đường cung sẽ là S2 so với S1 công nghệ truyền thống, thủ công

2.2.4.3 Giá của các yếu tố đầu vào

Giá yếu tố đầu vào tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và do đó ảnh hưởng đến lượng hàng hoá mà các hãng muốn bán Nếu như giá của các yếu tố đầu vào giảm, chi phí sản xuất sẽ giảm, lợi nhuận sẽ lớn và do đó hãng sẽ muốn cung nhiều hàng hóa hơn Khi giá đầu vào tăng lên, chi phí sản xuất tăng, khả năng thu lợi nhuận giảm do đó hãng cung ít sản phẩm hơn Trong ví dụ của chúng ta về thị trường thịt lợn của Canada khi giá của thức ăn cho lợn tăng lên từ 1,50$/kg đến 1,75$/kg thì đường cung sẽ dịch chuyển sang bên trái từ S1 đến S2 như minh hoạ trên hình 2.10

Trang 25

Hình 2.10 Cung giảm khi giá đầu vào tăng 2.2.4.4 Chính sách thuế

Nhà nước sử dụng thuế như công cụ điều tiết sản xuất Đối với các hãng thì thuế là chi phí do vậy khi chính phủ giảm thuế, miễn thuế hoặc trợ cấp có thể khuyến khích sản xuất làm tăng cung Ngược lại, nếu chính phủ đánh thuế sẽ hạn chế sản xuất và làm giảm cung Hình 2.11 minh họa tác động của thuế làm dịch chuyển đường cung về bên trái từ S1 đến S2

Hình 2.11 Thuế làm dịch chuyển cung về bên trái 2.2.4.5 Các kỳ vọng

Cũng giống như người tiêu dùng, các nhà sản xuất cũng đưa ra quyết định cung cấp của mình dựa vào các kỳ vọng Ví dụ, nếu các nhà sản xuất kỳ vọng thời gian tới giá hàng hóa sẽ giảm vì chính phủ sẽ mở cửa thị trường đối với các nhà sản xuất nước ngoài – các nhà sản xuất có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, họ phải cố gắng sản xuất để tăng cung hiện tại

Như vậy khi phân tích tác động của một yếu tố nào đó đến lượng cung, chúng ta phải phân biệt sự vận động dọc theo đường cung và sự dịch chuyển của đường cung Sự thay đổi

Q ngh×n tÊn/n¨m

Trang 26

giá của một hàng hóa gây ra sự vận động dọc theo đường cung đối với hàng hóa đó, còn sự thay đổi của bất cứ yếu tố nào ngoài giá của hàng hoá đó như công nghệ, giá yếu tố đầu vào, chi phí, chính sách thuế sẽ gây ra sự dịch chuyển của đường cung

2.2.5 Hàm cung

Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cung và yếu tố khác dưới dạng tổng quát sau:

Qsx = f(Px, Py, Pz, Nsx, ) (2.2) Trong đó

- Qsx là lượng cung hàng hoá X;

Cân bằng thị trường là một trạng thái tại đó không có sức ép làm thay đổi giá và sản lượng Hay nói cách khác đó là trạng thái lượng cung bằng lượng cầu tại một mức giá nhất định

Đường cầu cho biết lượng hàng hoá mà người tiêu dùng muốn mua tại các mức giá khác nhau và đường cung cho biết số lượng hàng hoá mà các hãng muốn bán tại các mức giá khác nhau Khi tất cả mọi người tham gia vào thị trường có thể mua hoặc bán một lượng bất kỳ mà

họ mong muốn, chúng ta nói rằng thị trường trong trạng thái cân bằng: đó là trạng thái mà cả người mua và người bán đều không thích thay đổi hành vi của họ Mức giá mà người mua muốn mua và người bán muốn bán theo ý của họ được gọi là mức giá cân bằng Sản lượng được mua và bán tại mức giá cân bằng gọi là lượng cân bằng

2.3.2 Sự hình thành trạng thái cân bằng

Trang 27

Thị trường có khả năng tự điều chỉnh để đạt được trạng thái cân bằng Nếu giá khác với mức giá cân bằng thì người tiêu dùng và hãng sẽ có động cơ để thay đổi hành vi của họ để đưa giá quay trở lại trạng thái cân bằng Có thể minh hoạ điều này ở hình 2.12 về sự điều chỉnh của thị trường thịt lợn ở Canada

Khi giá là 2.65$/kg, các hãng chỉ muốn bán 194 nghìn tấn mỗi năm trong khi người tiêu dùng lại muốn mua 233 nghìn tấn Tại mức giá này lượng cầu lớn hơn lượng cung, trên thị trường có hiện tượng dư cầu hay còn gọi là hiện tượng thiếu hụt hàng hóa, lượng thiếu hụt là

39 nghìn tấn (233-194) mỗi năm Một số người tiêu dùng may mắn sẽ mua được thịt lợn với giá 2,65$/kg Nhưng nhiều người tiêu dùng khác không thể tìm được người bán với giá đó Một vài người trong số họ có thể sẵn sàng trả mức giá cao hơn là 2.65$/kg Những người bán nhận ra những người tiêu dùng này và họ có thể sẽ nâng giá lên Những hành động như vậy của người mua và người bán sẽ làm cho giá thị trường tăng lên Khi giá thị trường tăng lên theo luật cầu thì lượng cầu giảm đi trong khi lượng cung lại tăng lên Sức ép tăng giá này sẽ tiếp tục cho tới khi không còn tình trạng thiếu hụt- tức là lượng cung bằng lượng cầu ở mức giá 3.3 $/kg

Hình 2.12 Điều chỉnh của thị trường

Ngược lại, khi giá là 3,95$/kg thì người bán sẽ muốn bán 246 nghìn tấn mỗi năm nhưng người mua chỉ muốn mua 207 nghìn tấn như minh hoạ trên hình 2.12 Lúc này tại mức giá 3.95 $, lượng cung lại lớn hơn lượng cầu, tồn tại dư cung hay còn gọi là dư thừa hàng hoá Trong trường hợp này không phải là tất cả các hãng đều bán được lượng hàng như hãng mong muốn, các hãng sẽ giảm giá bán để thu hút thêm khách hàng, khi giá giảm, lợi nhuận của hãng giảm xuống, hãng sẽ muốn cung ít hàng hóa hơn và do đó lượng cung giảm Trong khi đó, theo luật cầu, khi giá hàng hóa giảm, người tiêu dùng muốn mua nhiều hàng hóa hơn, lượng

3.95

194 207 220 233 246

Trang 28

Q ngh×n tÊn/n¨m

2.3.3 Xác định trạng thái cân bằng

2.3.3.1 Xác định trạng thái cân bằng theo đồ thị

Để xác định trạng thái cân bằng của thị trường bằng đồ thị cung cầu, chúng ta quay trở lại ví dụ về thị trường thịt lợn tại Canada Hình 2.13 minh hoạ các đường cung và cầu thịt lợn tại Canada Các đường này cắt nhau tại điểm E, đó là trạng thái cân bằng thị trường với giá cân bằng là 3.30$/kg và lượng cân bằng là 220 nghìn tấn/năm

Hình 2.13 Cân bằng thị trường 2.3.3.2 Xác định cân bằng thị trường bằng toán học

Chúng ta cũng có thể xác định cân bằng thị trường bằng công cụ toán học nhờ việc sử dụng các phương trình cung cầu Nhớ lại phương trình cầu đối với thịt lợn cho biết mối quan

hệ giữa lượng cầu QD và giá P là QD =286 - 20P

Phương trình biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cung QSvà giá P là QS = 88 + 40P Chúng ta sẽ tìm được giá Pe tại đó Qs=Qd=Qe Dễ dàng giải phương trình và thu được giá cân bằng Pe=3.30$/kg và lượng cân bằng Qe=220 nghìn tấn/năm

Trang 29

2.3.4 Thay đổi trạng thái cân bằng

Cân bằng thị trường không phải là một trạng thái vĩnh cửu mà nó có thể thay đổi khi các yếu tố của cung và cầu thay đổi Các yếu tố đó thay đổi sẽ làm dịch chuyển đường cung và đường cầu Kết quả là các trạng thái cân bằng mới được thiết lập Chúng ta quay trở lại ví dụ

về thị trường thịt lợn tại Canada và xem xét các tình huống cụ thể sau đây:

2.3.4.1 Tác động của sự dịch chuyển của cầu

Giả sử giá thịt bò tăng lên 60 cent/kg lúc đó người tiêu dùng sẽ tiêu dùng nhiều thịt lợn hơn vì thịt lợn là hàng hoá thay thế cho thịt bò Kết quả là đường cầu đối với thịt lợn dịch chuyển từ D1 đến D2 như minh hoạ trên hình 2.14

Hình 2.14 Tác động của sự dịch chuyển của đường cầu

Tại mức giá cân bằng ban đầu của thịt lợn là 3.30$/kg, bây giờ người tiêu dùng muốn mua 232 nghìn tấn thịt lợn mỗi năm Tuy nhiên tại mức giá này,vì đường cung không đổi nên các hãng sản xuất vẫn chỉ muốn bán 220 nghìn tấn Kết quả là lượng cầu dư ra 12 nghìn tấn mỗi năm Sự thiếu hụt hàng hóa tao ra sức ép tăng giá Giá tăng lên cho đến khi không còn tình trạng thiếu hụt, thị trường đạt được mức cân bằng mới là 3,50$/kg Tại mức giá đó các hãng muốn bán 228 nghìn tấn và người tiêu dùng muốn mua 228 nghìn tấn Kết quả khi cung không đổi, của sự tăng cầu làm giá và sản lượng cân bằng đều tăng

2.3.4.2 Tác động của sự dịch chuyển của đường cung

Bây giờ giả sử giá của thức ăn cho lợn lại tăng lên 25cent/kg Việc chăn nuôi lợn trở lên đắt hơn vì giá của thức ăn (đầu vào) đã tăng lên Tại mọi mức giá, các hãng bây giờ đều

3.50 0

232

tÊn/n¨m

Trang 30

muốn cung ít hơn so với trước kia khi giá thức ăn chưa tăng Kết quả là đường cung thịt lợn dịch chuyển lên trên từ S1 đến S2 như minh hoạ trên hình 2.15

Tại mức giá cân bằng ban đầu của thịt lợn là 3,30$/kg người tiêu dùng vẫn muốn mua 220 nghìn tấn mỗi năm, nhưng các hãng chỉ muốn cung một lượng là 205 nghìn tấn Như vậy, lượng cầu dư sẽ là 15 nghìn tấn Sự thiếu hụt hàng hóa tạo sức ép tăng giá Giá tăng đến khi không còn thiếu hụt, thị trường đạt đến trạng thái cân bằng mới là 3,55$/kg và sản lượng cân bằng sẽ là 215 nghìn tấn Tóm lại,khi cầu không đổi và cung giảm thì làm giá cân bằng tăng là lượng cân bằng giảm

Hình 2.15 Tác động của sự dịch chuyển đường cung 2.3.4.3 Tác động của sự dịch chuyển của cả đường cầu và đường cung

Chúng ta vừa xem xét tác động của sự dịch chuyển của đường cầu và đường cung riêng biệt Tuy nhiên, cả hai đường đó đều có thể thay đổi vì các nhân tố ảnh hưởng đến cung và cầu luôn luôn biến đổi Tuy nhiên, việc xác định lượng cân bằng trở nên khó khăn hơn khi sự thay đổi của giá cân bằng và lượng cân bằng còn phụ thuộc vào mức độ tăng(giảm) của cầu và cung

Ta xét một trường hợp đó là khi cung giảm và cầu tăng

Trang 31

Hình 2.16 Khi cung giảm và câu tăng

Như nghiên cứu ở phần trước, cầu tăng làm cho giá cân bằng và lượng cân bằng đều tăng, cung giảm làm cho giá cân bằng tăng còn lượng cân bằng sẽ giảm Như vậy trong trường hợp cung giảm, cầu tăng ta chỉ có thể kết luận rằng giá cân bằng sẽ tăng,còn không thể kết luận được về chiều hướng thay đổi của lượng cân bằng Nếu mức độ tăng của cầu lớn hơn mức độ giảm của cung thì lượng cân bằng tăng lên, ngược lại nếu mức độ giảm của cung tăng

Trang 32

lớn hơn mức độ tăng của cầu thì lượng cân bằng giảm và nếu mức độ giảm cung ngang bằng

với mức độ giảm cầu thì lượng cân bằng không thay đổi

2.4 Tác động của sự can thiệp chính phủ

2.4.1 Chính sách làm dịch chuyển đường cung

Các chính sách của chính phủ có thể gây ra sự dịch chuyển của đường cung hoặc đường cầu Ở đây chúng ta sẽ xem xét một trường hợp trong đó chính sách của chính phủ làm dịch chuyển đường cung

Chính sách thuế

Chính phủ có thể làm thay đổi cân bằng của thị trường bằng việc đánh thuế hàng hóa Hình 2.17 sẽ minh họa tác động của thuế đánh vào hàng hóa Nếu thuế bằng t trên 1 đơn vị sản phẩm thì đường cung có thuế St sẽ dịch chuyển lên trên so với đường cung S1 ban đầu một lượng là t Giá cân bằng sẽ tăng lên từ P1 đến P2 và lượng cân bằng sẽ giảm từ Q1 xuống Q2 Các nhà hoạch định chính sách rất quan tâm tới ảnh hưởng của thuế đến người mua và người bán

Hình 2.17 cho chúng ta thấy phần giá hàng hoá tăng lên (P2-P1) sẽ do người tiêu dùng chịu Họ phải trả giá P2 cho mỗi đơn vị hàng hóa họ mua Người sản xuất (người bán) chịu phần còn lại [t – (P2 – P1)] và thực tế họ chỉ nhận được một lượng P3 cho mỗi đơn vị hàng hóa bán ra Có thể nhận thấy sự thay đổi của giá nhiều hay ít khi có thuế và ai là người chịu nhiều thuế hơn phụ thuộc vào hình dạng của đường cung và đường cầu Chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể ở các chương sau

Trang 33

2.4.2 Chính sách làm cho lượng cung và lượng cầu khác nhau

Chính phủ có thể tác động vào thị trường thông qua các chính sách can thiệp trực tiếp vào giá làm cho lượng cung và lượng cầu khác nhau Chúng ta sẽ xem xét các trường hợp đặt giá trần và giá sàn của chính phủ

2.4.2.1 Giá trần

Giá trần là mức giá cao nhất đối với một mặt hàng nào đó do chính phủ ấn định Các

hãng sản xuất không được bán hàng hóa với giá cao hơn mức giá trần đó Như vậy, có thể thấy là mục tiêu của chính phủ khi đặt giá trần là bảo vệ người tiêu dùng Và để mức giá trần phát huy được tác dụng thì nó luôn phải thấp hơn mức giá cân bằng do thị trường xác định Giả sử chính phủ áp dụng giá trần là Pc (hình 2.18) Tại mức giá Pc, lượng cầu( QD ) là Q1 và lượng cung( Qs) là Q2 Ta thấy rằng Q1 > Q2 , thị trường xảy ra hiện tượng thiếu hụt

Hình 2.18 Giá trần 2.4.2.2 Giá sàn

Giá sàn là mức giá thấp nhất đối với một hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó do chính

phủ quy định Ví dụ, khi được mùa giá nông sản thường giảm rất mạnh và người nông dân thậm chí bị lỗ Chính phủ quy định giá sàn – mức giá tối thiểu mà các doanh nghiệp phải mua nông sản cho người nông dân hay như chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động

Như vậy, mục tiêu của giá sàn là bảo vệ người bán Để chính sách này phát huy tác dụng thì giá sàn luôn phải được đặt cao hơn mức giá cân bằng do thị trường tự xác định

Trang 34

Giả sử chính phủ đặt giá sàn là Pf (hình 2.19) Tại mức giá Pf, QD = Q2 , Qs = Q1 Ta thấy rằng Q2 < Q1 hay , QD < Qs , thị trường xảy ra hiện tượng dư thừa

Trang 35

TÓM TẮT

Cầu: Số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, ceteris paribus Cầu phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nữa như thu nhập, thị hiếu, dân số, giá hàng hóa liên quan và kỳ vọng Nếu các điều kiện khác không thay đổi, khi giá hàng hóa tăng lên, lượng cầu đối với hàng hóa giảm xuống Sự thay đổi giá bản thân hàng hóa gây ra sự vận động dọc theo đường cầu Sự thay đổi các nhân tố khác giá làm cho đường cầu dịch chuyển Đường cầu thị trường là tổng của các đường cầu cá nhân theo chiều ngang

Cung: Số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bán

ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, ceteris paribus Cung phụ thuộc vào các yếu tố khác như công nghệ sản xuất, giá yếu tố đầu vào, số lượng người sản xuất, chính sách thuế và các kỳ vọng Nếu các điều kiện khác không thay đổi, giá hàng hóa tăng lên thì lượng cung tăng lên Sự thay đổi giá bản thân hàng hóa gây ra sự vận động dọc theo đường cung Sự thay đổi các nhân tố khác giá làm dịch chuyển đường cung Đường cung thị trường

là tổng các đường cung cá nhân theo chiều ngang

Cân bằng thị trường: Sự tương tác của cung và cầu xác định giá và lượng cân bằng trên thị trường Tại mức giá cao hơn giá cân bằng sẽ xuất hiện dư thừa hàng hóa, giá sẽ có xu hướng giảm xuống Tại mức giá thấp hơn giá cân bằng sẽ xuất hiện thiếu hụt hàng hóa, giá sẽ tăng

Sự thay đổi trạng thái cân bằng: Một sự thay đổi của yếu tố không phải là giá của hàng hóa sẽ làm cho đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển Một trạng thái cân bằng mới sẽ được thiết lập

Sự can thiệp của chính phủ: Chính phủ có thể làm thay đổi trạng thái cân bằng của thị trường bằng cách can thiệp vào thị trường làm thay đổi đường cung hoặc đường cầu Chính phủ đặt giá trần hoặc giá sàn sẽ làm xuất hiện dư thừa hoặc thiếu hụt hàng hóa

Điều kiện áp dụng mô hình cung cầu: Mô hình cung cầu là một công cụ rất mạnh để hiểu biết và giải thích các thay đổi trên thị trường khi các nhân tố thay đổi Tuy nhiên, mô hình này thích hợp với điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo trong đó rất nhiều người mua

và người bán, sản phẩm giống nhau, thị trường có thông tin hoàn hảo và chi phí giao dịch thấp

Trang 36

CHƯƠNG 3 ĐỘ CO GIÃN CỦA CẦU VÀ CUNG

Nội dung

Trong chương này, chúng ta sẽ sử dụng khái niệm “độ co giãn” để đo lường phản ứng của lượng cầu khi giá hàng hóa, giá hàng hóa liên quan và thu nhập thay đổi, của lượng cung khi giá hàng hóa thay đổi, đồng thời phân tích những yếu tố tác động đến độ co giãn của cung và cầu theo giá

Mục tiêu

 Giúp học viên nắm được khái niệm, công thức tính độ co giãn của cầu theo giá Hiểu rõ co giãn điểm và co giãn khoảng

 Phân biệt co giãn và không co giãn

 Hiểu rõ ứng dụng và các yếu tố ảnh hưởng tới độ co giãn của cầu theo giá

 Nắm chắc khái niệm, công thức tính và giá trị của co giãn chéo, co giãn theo thu nhập, co giãn của cung theo giá

Tình huống dẫn nhập

3.1 ĐỘ CO GIÃN CỦA CẦU

Lượng cầu của một hàng hóa phụ thuộc bởi rất nhiều yếu tố Bên cạnh các yếu tố cơ bản được phân tích trong lý thuyết cổ điển về cầu như thu nhập, giá hàng hóa, giá hàng hóa liên quan (bổ sung và thay thế), thị hiếu, kỳ vọng, số lượng người mua; thì trong thực tế còn rất nhiều các yếu tố khác có thể tác động đến lượng cầu

Một khi các yếu tố trên thay đổi thì lượng cầu sẽ có phản ứng, và độ co giãn sẽ là một biến

số được dùng để đo lường mức độ phản ứng đó và từ đó có thể đánh giá được lượng cầu nhạy cảm với các yếu tố trên hay không Một cách đơn giản, có thể hiểu độ co giãn của cầu theo một yếu tố X (yếu tố có thể ảnh hưởng đến lượng cầu) là phần trăm thay đổi của lượng cầu khi yếu tố

X thay đổi 1% Vì vậy, công thức của độ co giãn được viết như sau:

% là % thay đổi của yếu tố X

Trong bài này, chúng ta lựa chọn yếu tố X là giá của hàng hóa, giá của hàng hóa liên quan

và thu nhập, và tương ứng, chúng ta sẽ nghiên cứu độ co giãn của cầu theo giá, độ co giãn chéo theo giá hàng hóa liên quan và độ co giãn của cầu theo thu nhập

Trang 37

3.1.1 Độ co giãn của cầu theo giá

3.1.1.1 Khái niệm và công thức tính

Độ co giãn của cầu theo giá là thước đo phản ứng của lượng cầu hàng hoá khi giá hàng hóa thay đổi, với điều kiện các yếu tố khác giữ nguyên, và được đo bằng phần trăm thay đổi của lượng cầu theo 1% thay đổi của mức giá theo công thức tổng quát sau:

Q

P P Q P

P Q Q

Ở đây có 2 cách tính độ giãn: co giãn khoảng và co giãn điểm:

Co giãn khoảng được sử dụng khi sự thay đổi của giá là lớn Ví dụ, giả sử giá của iPhone

lúc ban đầu là P1 = 11 triệu đồng/1 chiếc, lượng cầu là Q1 = 7000 chiếc Nếu giá Iphone tăng lên P2 = 12 triệu đồng/1 chiếc (các yếu tố khác được giữ nguyên) thì lượng cầu là Q2 = 6000 chiếc

Từ những số liệu này, chúng ta có thể tính được độ co giãn khoảng theo công thức trên Trong đó

∆Q = Q2 – Q1, ∆P = P2 – P1 Giá trị P và Q ở công thức trên sẽ không là giá trị giá và lượng cầu ở thời điểm ban đầu hay sau khi thay đổi giá, mà được tính là giá và lượng cầu trung bình để tránh

có hai giá trị độ co giãn của cầu, phụ thuộc vào liệu giá tăng hay giảm Theo đó, P = (P1+P2)/2; Q

= (Q1+Q2)/2

Giá trị độ co giãn trong ví dụ trên được tính như sau:

1 2

1 2 1 2

1 2

Q Q

P P P P

Q Q

111211

12

70006000

Độ co giãn của cầu

Thay đổi phần trăm của lượng cầu

=

Trang 38

38

dấu âm do lượng cầu thường phản ứng ngược chiều với giá nếu các yếu tố khác giữ nguyên (theo quy luật cầu) Vì vậy, để phân tích mức độ nhạy cảm của lượng cầu hay để so sánh độ phản ứng theo giá giữa các hàng hóa, người ta thường dùng giá trị tuyệt đối của độ co giãn của cầu theo giá

3.1.1.2 Phân loại độ co giãn của đường cầu

Tùy thuộc vào giá trị của độ co giãn, chúng ta có thể đánh giá được mức độ co giãn của đường cầu Hình 3-1 (a) thể hiện một đường cầu thoải, ở đó, phần trăm thay đổi của lượng cầu lớn hơn phần trăm của thay đổi của giá, giá trị tuyệt đối của độ co giãn lớn hơn 1 và cầu hàng hoá được coi là co giãn Hình 3-1 (b) thể hiện một đường cầu dốc, ở đó, thay đổi phần trăm của lượng cầu ít hơn thay đổi phần trăm của giá, giá trị tuyệt đối của độ co giãn nhỏ hơn 1, cầu hàng hoá được coi là không co giãn Hình 3-1 (c) thể hiện một đường cầu với phần trăm thay đổi của lượng cầu cân bằng phầm trăm thay đổi của giá, giá trị tuyệt đối của độ co giãn bằng 1, hàng hoá được coi là có cầu co giãn đơn vị

Ngoài ra, có hai trường hợp đặc biệt của đường cầu Hình 3-1 (d) là đường cầu nằm ngang, lượng cầu phản ứng vô hạn với bất kỳ sự thay đổi nào của giá, giá trị tuyệt đối của độ co giãn là

vô cùng, hàng hoá được coi là có cầu hoàn toàn co giãn

Trường hợp đặc biệt thứ 2 được thể hiện ở Hình 3-1 (e) thể hiện một đường cầu thẳng đứng, ở đó, lượng cầu không thay đổi cho dù giá thay đổi như thế nào, độ co giãn của cầu theo giá bằng 0, cầu hàng hóa được gọi là hoàn toàn không co giãn

 E DP  > 1 Cầu co giãn

E DP  < 1 Cầu không

Trang 39

Hình 3.1 Độ co giãn của cầu theo giá

3.1.1.3 Đặc điểm độ co giãn dọc theo đường cầu tuyến tính

Độ co giãn và độ dốc của đường cầu đều có thể cho biết sự phản ứng của lượng cầu khi giá thay đổi, nhưng đây lại là hai khái niệm khác nhau và có ý nghĩa khác nhau Điều này có thể thấy được bằng cách quan sát độ co giãn dọc theo đường cầu tuyến tính với độ dốc không thay đổi Hình 3-2 minh hoạ một đường cầu tuyến tính với 2 điểm được lựa chọn để tính độ co giãn

là A và B Độ co giãn tại điểm A và B được xác định bằng công thức điểm

Q

P dP

Như vậy có thể khẳng định, dọc theo đường cầu tuyến tính từ trái sang phải, giá trị tuyệt đối của độ co giãn khác nhau và có xu hướng giảm dần từ  về 0, do đó, sẽ có 1 điểm (điểm K)

là co giãn đơn vị Nói một cách khác, cầu co giãn trong đoạn từ K đến M, trong khi không co giãn trong đoạn từ K đến N

Hình 3.2 Co giãn dọc theo đường cầu tuyến tính

3.1.1.4 Doanh thu, chi tiêu và độ co giãn

Một trong những ý nghĩa ứng dụng của độ co giãn là để phân tích tổng doanh thu của doanh nghiệp (cũng có nghĩa là chi tiêu của người mua) thay đổi như thế nào khi giá hàng hóa thay đổi Tổng doanh thu (TR) được tính bằng giá hàng hóa (P) nhân với lượng hàng hóa được tiêu dùng (Q) Vì thế, nếu cầu hàng hóa co giãn, 1 phần trăm giá giảm sẽ tăng lượng bán ra nhiều hơn 1 phần trăm và tích của hai biến số (tổng doanh thu) gia tăng Ngược lại, nếu cầu hàng hóa không co giãn, 1 phần trăm giá giảm sẽ làm tăng lượng bán ra ít hơn 1 phần trăm và tổng doanh

Trang 40

40

thu giảm Nếu cầu hàng hóa co giãn đơn vị, giá giảm 1 phần trăm làm tăng lượng bán đúng bằng

1 phần trăm, khiến tổng doanh thu không đổi

Mối quan hệ giữa tổng doanh thu (tổng chi tiêu của người tiêu dùng) với độ co giãn và giá hàng hóa có thể được thể hiện ở Bảng 3-1

Bảng 3.1 Mối quan hệ giữa doanh thu và độ co giãn của cầu theo giá

Mối quan hệ này cũng có thể được biểu thị qua Hình 3-3 Như đã phân tích ở trên, có hai đoạn trên đường cầu tuyến tính Ở đoạn co giãn của đường cầu, khi giá giảm (vận động từ trái sang phải), tổng doanh thu tăng (thay đổi ngược chiều với giá) Ở đoạn không co giãn của đường cầu, (di chuyển tiếp sang phải), giá giảm tiếp khiến tổng doanh thu giảm (thay đổi cùng chiều với giá) Như vậy, tại điểm co giãn đơn vị, tổng doanh thu đạt mức tối đa Giá thay đổi nhỏ xung quanh điểm này không làm cho tổng doanh thu thay đổi

Giá

Khi cầu không co giãn, giảm giá sẽ làm giảm doanh thu

Co dãn

Lượng

Co dãn đơn vị Không co dãn

(a) Đường Cầu

Tổng doanh thu tối đa

Khi cầu co giãn, giảm giá

sẽ làm tăng doanh thu

Q

TR

Ngày đăng: 08/06/2022, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1 Mô hình dòng luân chuyển 1.1.2. Các bộ phận của kinh tế học - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 1 1 Mô hình dòng luân chuyển 1.1.2. Các bộ phận của kinh tế học (Trang 4)
Hình 1-3. Đường giới hạn khả năng sản xuất - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 1 3. Đường giới hạn khả năng sản xuất (Trang 10)
Bảng 1-2. Chi phí cơ hội của việc sản xuất vải - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Bảng 1 2. Chi phí cơ hội của việc sản xuất vải (Trang 11)
Hình 2.8. Tổng cộng các đường cung  2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới cung - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 2.8. Tổng cộng các đường cung 2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới cung (Trang 23)
Hình 2.9. Cung rượu với hai công nghệ sản xuất  2.2.4.2. Số lượng người sản xuất. - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 2.9. Cung rượu với hai công nghệ sản xuất 2.2.4.2. Số lượng người sản xuất (Trang 24)
Hình 2.10. Cung giảm khi giá đầu vào tăng  2.2.4.4. Chính sách thuế. - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 2.10. Cung giảm khi giá đầu vào tăng 2.2.4.4. Chính sách thuế (Trang 25)
Hình 2.14. Tác động của sự dịch chuyển của đường cầu - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 2.14. Tác động của sự dịch chuyển của đường cầu (Trang 29)
Hình 2.16. Khi cung giảm và câu tăng - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 2.16. Khi cung giảm và câu tăng (Trang 31)
Bảng 4.1. Tổng lợi ích và lợi ích cận biên tiêu dùng hàng hóa (nước cam) - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Bảng 4.1. Tổng lợi ích và lợi ích cận biên tiêu dùng hàng hóa (nước cam) (Trang 50)
Hình 4.2. Tổng lợi ích và lợi ích cận biên - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 4.2. Tổng lợi ích và lợi ích cận biên (Trang 51)
Hình 4.4. Đường cầu và thặng dư tiêu dùng - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 4.4. Đường cầu và thặng dư tiêu dùng (Trang 53)
Bảng 4.2. Tổng lợi ích khi tiêu dùng các hàng hóa - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Bảng 4.2. Tổng lợi ích khi tiêu dùng các hàng hóa (Trang 56)
Hình 4.13b. Rút ra đường cầu hàng hoá X dốc xuống - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 4.13b. Rút ra đường cầu hàng hoá X dốc xuống (Trang 64)
Hình 5.1.   Mối quan hệ giữa sản lượng và năng suất cận biên - GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ  TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Hình 5.1. Mối quan hệ giữa sản lượng và năng suất cận biên (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w