Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không?. Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được không được đòi trâu từ ông Dòn... Suy ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THỨ TƯ: BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 4
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 3 năm 2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BÀI THẢO LUẬN THỨ TƯ: BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 4
Trang 3NỘI DUNG THẢO LUẬN
I. VẤN ĐỀ 1: ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
A. TÓM TẮT
• Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Ngày 30/5/2006/ DS - GĐT ngày 30/5/2006 Tòa dân sự tòa án nhân dân tối cao tỉnh Lào Cai về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản Nguyên đơn là Ông Triệu Tiến Tài, bị đơn là anh Hà Văn Thơ trả lại trị giá 2 mẹ con con trâu cho gia đình ông Tài Theo lời khái của ông Tài, chiều ngày 18/3/2004, ông Thơ dắt 1 con trâu mẹ và con nghé con đi qua nhà ông và bị ông phát hiện ra là trâu nghé nhà mình Nhưng ông Thơ khẳng định đó là trâu nghé nhà mình và đã mổ thịt nghé con, đồng thời bán trâu mẹ cho ông Dòn Bị đơn là ông Thơ lại cho rằng tháng 6/2002, ông đã mua con trâu, phát hiện trâu chửa đẻ rồi lạc mất, khi ông tìm được và dắt về đi ngang qua nhà ông Tài thì bị nhận là ăn cắp trâu nhà ông Tài Sau bán trâu mẹ cho ông Thi, rồi ông Thi đổi cho ông Dòn Tại bản án sơ thẩm, Tòa tuyên ông Thơ phải bồi thường cho ông Tài số tiền của 2 côn trâu, nghé Ngày 01/09/2004, ông Thơ kháng cáo, tại Tòa án phúc thẩm đã bác bỏ yêu cầu của ông Tài về việc đòi ông Thơ phải trả con trâu cái vì hiện tại con trâu đang thuộc về ông Dòn Ông Tài kháng án, vì vậy tại phiên tòa giám đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án phúc thẩm, giao lại hồ sơ để xét xử phúc thẩm lại theo quy định pháp luật
B. CÂU HỎI THẢO LUẬN:
1. Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
Trâu là động sản Vì theo Điều 107 BLDS 2015 quy định:
“1 Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Trâu không thuộc những đối tượng được cho là bất động sản theo quy định trên, nên theo Khoàn 1 trâu là động sản
2. Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
Trâu không là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu Vì theo Điều 107 BLDS 2015, trâu là động sản cũng như theo Khoản 1, 2 Điều 106 BLDS 2015:
“1 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản
Trang 42 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác”
3. Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?
Đoạn của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài là:
“Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của 1 các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20) Anh Bảo (BL22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ
cơ sở xác định con trâu cải màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật”
4. Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?
Khoản 1 Điều 179 BLDS 2015 quy định chiếm hữu "Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản” Như vậy ông Dòn là người chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh trên
5. Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?
Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật, căn cứ Điều 165 BLDS 2015 quy định:
"1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định
Trang 52 Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật."
Như vậy việc chiếm hữu của ông Dòn không rơi vào trường hợp nào của Điều nêu trên cho nên việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật
6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Điều 165 BLDS 2015 quy định:
"1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định
2 Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật”
Điều 180 BLDS 2015 quy định: "Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu."
Như vậy chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật quy định tại Điều 165 BLDS 2015, nhưng người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật
7. Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không?
Vì sao?
Theo Điều 180 BLDS 2015 "Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu." Căn cứ theo quy định trên thì ông Dòn được xem là người chiếm hữu ngay tình vì ông Dòn có căn cứ cho rằng con trâu là của ông thông qua giao dịch dân sự trao đổi với ông Thi
8. Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?
Trang 6Căn cứ vào sự trao đổi ngang giá có lợi ích giữa các bên thì để xác định hợp đồng nào là hợp đồng là có đền bù và hợp đồng nào là không có đền bù
Hợp đồng đền bù là hợp đồng mà giữa các bên trong giao dịch dó phải có lợi ích qua lại với nhau
VD: Hợp đồng mua bán tài sản bên A giao tài sản cho bên B và bên B có nghĩa vụ trả tiền cho bên A
Hợp đồng không đền bù là hợp đồng mà một bên được bên kia chuyển giao tài sản nhưng lại không phải chuyển giao lại bất kì thứ gì trong kiện đòi tài sản theo quy định tài Điều 167 BLDS 2015 về kiện đòi tài sản “Không phải là đăng kí của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì đối với hợp đồng không
có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thực tế đang chiếm hữu Còn đối với hợp đồng có đền bù thì tài sản của chủ sở hữu phải bị lấy cắp, lấy mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu nhưng không phải ý chí của chủ sở hữu thì chủ
sở hữu mới được đòi lại tài sản của mình.”
9. Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?
Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù Vì việc trao đổi hai con trâu của ông Dòn là việc trao đổi tài sản thì hai bên cũng đã nhận lại cho nhau một lợi ích vật chất thì hợp đồng người ta trao đổi tài sản như vậy cũng được xác định là một hợp đồng có đền bù hay còn gọi là giao dịch có đền bù
10. Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?
Trâu có tranh chấp là bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài Vì theo lời khai của ông Tài thì đến tháng 2/2004, con trâu đẻ được 1 con trâu nghé hàng tháng ông vẫn lên xem nhưng đến chiều ngày 18/3 thì ông Hà Văn Thơ dắt một con trâu mẹ và một con nghé khoảng 3 tháng tuổi qua nhà ông và ông nhận ra đây là trâu và nghé của ông nhưng ông Thơ thì cho rằng đây là trâu của ông Thơ mua Sau khi phát hiện thì ông Dòn thấy rằng ông Thơ đang chiếm hữu con trâu của ông
11. Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được không được đòi trâu từ ông Dòn
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là:
“Toà án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé là của ông Tài là đúng, nhưng chỉ buộc ông Thơ phải trả cho ông Tài giá trị con nghé mà ông Thơ mổ thịt là 900.000đ và bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ trả con trâu mẹ vì cho rằng ông Dòn là người đang chiếm giữ con trâu nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn là sai”
Trang 7Ông Tài chỉ yêu cầu trả lại giá trị
12. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Theo em hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao sẽ giúp cho việc giải quyết dễ dàng hơn Vì đúng theo quy định của pháp luật thì con trâu bị mất là nằm ngoài ý chí chủ quan của ông Tài Dù ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình và không thông qua hợp đồng có đền bù vẫn phải trả lại trâu cho ông Tài Tuy nhiên nếu xử như vậy thì sẽ phát sinh nhiều hệ lụy như ông Dòn khởi kiện ông Thi trả lại con trâu cho mình, ông Thi khỏi kiện ông Tài phải trả lại số tiền mà mình đã bỏ ra để mua trâu Cho nên Tòa án đã quyết định xử theo yêu cầu của nguyên đơn là yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại cả trâu mẹ lẫn trâu nghé Chỉ đứng
ra bồi thường về tài sản là chỉ đứng ra nhằm bảo vệ quyền sở hữu của người có quyền Tuy nhiên, nếu áp dụn rập khuôn sẽ dẫn đến tình trạng rườm rà nhiều bước Cho nên dựa vào tình hình thực tế tranh chấp cùng với kinh nghiệm của hội đồng xét xử thì đưa ra một quyết định đúng đắn và hợp lý như trên
13. Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?
- Theo pháp luật hiện hành thì có quy định bảo vệ ông Tài đó là Điều 167 BLDS 2015: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ
sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”
- Ở đây theo xét xử của Tòa thì ông Tài là chủ sở hữu hợp pháp, có quyền chiếm hữu đối với con trâu nên có quyền đòi lại con trâu từ ông Dòn Còn ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình, trâu là động sản không đăng ký quyền sở hữu, bên cạnh đó hợp đồng của ông Thi và ông Dòn là hợp đồng trao đổi tài sản đền bù nên sẽ áp dụng được Điều 167 BLDS 2015 về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình
14. Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả giá trị con trâu
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và
Trang 8đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật”
15. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Hướng giải quyết của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao khi yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu cho ông Tài là hợp lý bởi trên thực tế ông Tài vẫn có quyền đòi con trâu từ ông Dòn, nhưng sau đó ông Dòn có thể đòi ông Thi trả lại con trâu cái và ông Thi lại tiếp tục đòi ông Thơ bồi thường thiệt hại Việc này sẽ dẫn đến hàng loạt các tranh chấp phức tạp Vì vậy Tòa án đã giải quyết theo đúng yêu cầu của ông Tài là đòi ông Thơ bồi thường thiệt hại giái trị trâu mẹ và nghé và lợi ích của ông Tài cũng được đảm bảo
II VẤN ĐỀ 2: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
A. TÓM TẮT:
• Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Bà Trần Thị X (nguyên đơn) yêu cầu bà Nguyễn Thị N (bị đơn) trả lại cho bà X toàn bộ nhà đất mà bà N đã tự ý vào ở Bà N đã quản lý, giữ gìn, sử dụng đất, nộp thuế, và chia 1 phần đất cho người thứ 3 Nhưng vì các lẽ: quyền sử dụng đất hợp pháp của bà X nhưng công sức của bà N trong việc quản lý và sử dụng đất, giao dịch của người thứ 3 là đất chuyển nhượng của bà N ngay tình và được pháp luật bảo vệ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người thứ 3 và buộc người thứ 3 trả lại đất cho nguyên đơn, nên Tòa quyết định giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử lại
B. CÂU HỎI THẢO LUẬN:
1. Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Đoạn của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình là:
“[1] Đất tranh chấp thuộc thửa 73, tờ Bán đồ số 27, tại số 46 (số cũ 2/15) đường T, thành phố B, tỉnh B theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho bà Nguyễn Thị X ngày 09/6/1989, trên đất có nhà cấo bốn, do bà Nguyễn Thị N quản lý sử dụng Bà X yêu cầu bà N trả lại toàn bộ nhà đất nêu trên”
[5] Trên cơ sở Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh B có hiệu lực pháp luật, ngày 24/4/2010 bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.240,8m Sau đó, ngày 19/8/2010, bà N chuyển nhượng cho ông M diện tích 323,2m2(đo thực tế 313,6m2), ngày 01/10/2010 ông M đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông M đã
Trang 9xây dựng nhà 4 tầng trên đất Diện tích đất còn lại 917,6m2, ngày 21/10/2011, bà
N tặng cho con gái là chị Nguyễn Vi L Sau đó, chị L chuyển nhượng 173,1m2 (đo thực tế 170,9m2) đất cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T; ông Đ, bà T đã nhận đất sử dụng và được cấp giấy chứng nhận ngày 24/7/2012 Diện tích đất còn lại của chị L đo thực tế là 744m2 Việc chuyển nhượng và tặng cho nêu trên đã hoàn thành trước khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số
410/2012/KN-DS ngày 24/9/2012 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm số 55/2013/DS-GĐT ngày 30/01/2013 của Toà án nhân dân tối cao hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 nêu trên Căn
cứ quy định tại Khoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật dân sự 2005 thì các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M, bà Q, chị L, ông Đ, bà T là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ”
2. Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
- BLDS 2005:
+ Điều 257 Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ ngườichiếm hữu ngay tình
“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”
+ Điều 258 Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản
từ người chiếm hữu ngay tình
“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người nàykhông phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”
- BLDS 2015:
+ Điều 167 Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ ngườichiếm hữu ngay tình“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng
ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”
Trang 10+ Điều 168 Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản
từ người chiếm hữu ngay tình
“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất độngsản
từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này”
3. Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?
Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N với bà X như sau: bà N phải trả bằng giá trị quyền sử dụng diện tích 914m2 đất cho nguyên đơn mới phù hợp chứ không phải trả 914m2 đất mà đã chuyển nhượng cho ông Đ, bà L, bà T Tòa án phải buộc bà N trả cho bà X giá trị đất 1.254.400.000 đồng
4. Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS chưa?
- Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã quy định trong BLDS
2015 Cụ thể áp dụng luật lệ như sau:
+ Điều 167 Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ ngườichiếm hữu ngay tình
“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”
+ Điều 168 Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản
từ người chiếm hữu ngay tình
“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất độngsản
từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều133 của Bộ luật này”
5. Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?
Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao là thuyết phục Vì bà
T đồng ý chuyển nhượng quyền thừa kế nhà đất (đất tranh chấp) cho bà X và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đất tranh chấp có diện tích 1.518,86 m (đo thực tế 1.466,1 m2) thuộc thửa 73, tờ Bản đồ số 27, tại số 46 (số
cũ 2/15) đường T, thành phố B, tỉnh B theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho bà Nguyễn thị X ngày 09/6/1989 Vì vậy buộc bà N phải trả cho bà X giá trị đất 1.254.400.000 đồng là hợp lí
III VẤN ĐỀ 3: LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ