1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập nhóm luật dân sự buổi 6 ĐH Luật TP.HCM

19 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Về Di Chúc Mẫn: Những Quy Định Chung Về Luật Dân Sự, Tài Sản và Thừa Kế
Người hướng dẫn T.S Đặng Nguyễn Phương Uyờn
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật dân sự
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 330,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THỨ SÁU QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN T S Đặng Nguyễn Phương Uyên LỚP QT46B1 NHÓM 4 – BUỔI 6 Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 4 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THỨ SÁU QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN THỨ SÁU: QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI

SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên

LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 6

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 4 năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN THỨ SÁU: QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI

SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên

LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 6

1 Bùi Võ Thảo Nguyên 2153801015174

2 Nguyễn Trương Quang Nhật 2153801015182

3 Nguyễn Viết Tùng 2153801015227

4 Lê Thị Thu Ngân 2153801015159 Nhóm trưởng

5 Trần Thị Duyên Như 2153801015200

6 Nguyễn Đại Phước 2153801015203

Trang 3

NỘI DUNG THẢO LUẬN I.VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC

A TÓM TẮT

Bản án số 83/2009/DSPT ngày 28/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên

Nguyên đơn: ông Nguyễn Thành Hiếu

Bị đơn: bà Đặng Thị Trọng

Ông Nguyễn Thành Hiếu khởi kiện bà Đặng Thị Trọng về việc tranh chấp di sản thừa kế do ông Nguyễn Này để lại Cụ thể, ông Nguyễn Này có lập di chúc viết tay cho ông Hiếu được toàn quyền thừa kế sử dụng lô đất số AG

67735, diện tích 225m2, thuộc tờ bản đồ số 08, thửa số 83 do UBND huyện Sông Hinh cấp ngày 2/5/2007, đứng tên ông Này, bà Trọng Ông Hiếu có đề nghị tòa giải quyết theo di chúc, nhận ½ lô đất để có chỗ tiếp tục hành nghề

Bà Trọng không đồng ý, yêu cầu chia di sản theo pháp luật Tại bản án sơ thẩm, tòa án tuyên bố bà Trọng được nhận toàn bộ di sản và phải thối lại phần chênh lệch cho ông Hiếu Ông Hiếu có kháng cáo nhưng tòa phúc thẩm bác đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn Quang

Bị đơn: Bà Hoàng Thị Ngâm

Cụ Đỗ Thị Hựu (mẹ ông Quang) kết hôn với cụ Đỗ Văn Hằng và có 2 người con chung là ông Đỗ Văn Hồng (ông Hồng hi sinh nằm 1986, có vợ là bà Hoàng Thị Ngâm và có 1 con chung) và bà Đỗ Thị Lựu Năm 1950, cụ Hằng chết không có di chúc Đến 1954, cụ Hựu sống chung với Lương Văn Sách

và có con là ông Quang Ngoài ra, cụ Hựu còn có 1 người con chung với cụ

Dị Ngày 05-02-2005, cụ Hựu chết, toàn bộ đất hiện tại do bà Ngâm quản lý,

sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo di chúc của bà Hựu Nay ông Quang khởi kiện yêu cầu huỷ di chúc do không hợp pháp và yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ Hựu theo pháp luật Xét thấy, đất tranh chấp là tài sản của tổ tiên cụ Đỗ Văn Hằng để lại cho vợ chồng cụ Hằng

và cụ Đỗ Thị Hựu Sau khi cụ Hựu chết, bà Ngâm đã không làm đúng theo di chúc cụ Hựu mà tự ý kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Bên cạnh đó, ông Đỗ cho rằng, đất nêu trên là tài sản của dòng họ

Đỗ là không đúng do dòng họ Đỗ không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất này Di chúc của cụ Hựu không đúng theo quy định về di chúc hợp pháp của người không biết chữ theo khoản 3 Điều 652 BLDS 2005 nên di chúc là

Trang 4

không có căn cứ Toà quyết định huỷ bỏ bản án dân sự phúc thẩm và xét xử lại

B CÂU HỎI THẢO LUẬN:

1 Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

Di chúc phải do người để lại di sản tự mình viết bằng chữ viết tay và tự mình

ký tên điểm chỉ vào tờ di chúc Người lập di chúc không được đánh máy vi tính hoặc bằng các cách thức tương tự Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa sửa chữa thì người lập di chúc hoặc người làm chứng ký tên vào bên cạnh chỗ tẩy xóa

Theo Điều 633 BLDS 2105: “Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này” Các trường hợp nếu không phải

do chính người để lại dai sản viết di chúc thì sẽ không được công nhận ngoại trừ Điều 634: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải

ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”

2 Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Căn cứ Điều 632 BLDS 2015 thì “Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” Theo đó thì cha, anh, em của ông Này không được làm chứng Vì cha của ông Này thuộc hàng thừa kế thứ nhất, còn anh, em của ông Này thuộc hàng thừa kế thứ hai Pháp luật không nói rõ người thừa kế thứ mấy thì không được làm chứng mà chỉ quy định người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Do đó có thể hiểu rằng tất cả những người thừa kế của ông Này đều không được làm chứng Như vậy những người đã làm chứng di chúc của ông Này đều không hợp pháp

3 Di chúc của ông Này có là di chúc do ông Này tự viết tay không? Vì sao?

Di chúc của ông Này là do chính ông Này tự viết tay Vì trong phần xét thấy

có ghi: “Xét thấy giấy thừa kế do ông Nguyễn Này viết không được chính

Trang 5

quyền địa phương công chứng, chứng thực nhưng được lập trong lúc ông Này còn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép và có nhiều người làm chứng nên được coi là di chúc hợp pháp”

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông Này tự viết tay.

Trong bản án trên, hướng giải quyết của Tòa án là công nhận di chúc của ông Này là hợp pháp Căn cứ vào các quy định của BLDS 2015, Điều 630:

“Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép” Điều 633: “Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc” Điều 634: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc” Có thể thấy di chúc của ông Này đã thỏa mãn các quy định trên nên việc Tòa án công nhận di chúc của ông Này là có căn

cứ và thuyết phục

5 Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào?

Di chúc của cụ Hựu đã được lập như sau: Ngày 25/11/1998, di chúc là do cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, ông Vũ và cụ Đỗ Thị Quý (là mẹ của ông Vũ) ký tên, làm chứng, sau đó ngày 04/01/1999 bà Lựu mang di chúc đến cho ông Hoàng Văn Thưởng (là Trưởng thôn) và Ủy ban nhân dân

xã Mai Lâm xác nhận

6 Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời?

Cụ Hựu không biết chữ

Trong Quyết định 874 và trong phần xét thấy của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có đoạn: “Ông Quang xác định cụ Hựu là người không biết chữ” Tòa

án xét thấy cụ Hựu không biết chữ Từ đó giải quyết bản di chúc của cụ Hựu

là không hợp pháp, cụ thể: Theo qui định tại khoản 3 Điều 630 BLDS 2015 thì “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng thành lập văn bản và có công chứng hoặc chứng thực” Trong trường hợp này di chúc của cụ Hựu có hai người làm chứng, có xác nhận của ông Thưởng và xác nhận của UBND xã Mai Lâm Tuy nhiên ông Thưởng không chứng kiến cụ Hựu lập di chúc, việc UBND xác nhận là

do bà Lựu mang di chúc đến xác nhận và UBND chỉ xác nhận chữ ký của ông Thưởng chứ không xác nhận nội dung trong di chúc Mặt khác qua xác

Trang 6

định dấu vân tay của cụ Hựu tại bản di chúc thì: “dấu vân tay mờ không thể hiện rõ các đặc điểm riêng nên không đủ yếu tố giám định Do đó chưa đủ căn cứ xác định di chúc trên thể hiện đúng ý chí của cụ Hựu Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm công nhận di chúc của cụ Hựu hợp pháp là chưa đủ căn cứ”

7 Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật?

Đối với người để lại di sản không thể tự mình viết di chúc do bị mù chữ thì pháp luật quy định người này phải lập di chúc bằng văn bản, theo thủ tục công chứng phải lập, công chứng chứng thực di chúc phải có người làm chứng, quy định tại BLDS 2005: “Điều 652 Di chúc hợp pháp di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực” và BLDS 2005: “Điều 658 Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoăc UBND

Xã, Phường, Thị Trấn”

- Việc lập di chúc tại cơ quan công chức hoặc UBND Xã, Phường, Thị Trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

“1) Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặcngười có thẩm quyền chứng thực của UBND Xã, Phường, Thị trấn Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc đã được ghi chúng chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chức viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND Xã, Phường, Thị trấn ký vào bản di chúc 2) Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND Xã, Phường, Thị Trấn, chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”

8 Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?

Các điều kiện đã được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu là: di chúc đã được lập thành văn bản và có ít nhất 2 người làm chứng Cụ thể, di chúc do

cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, sau đó đưa cho ông Vũ và cụ

Đỗ Thị Quý ký tên làm chứng

9 Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?

Trong trường hợp này, di chúc của cụ Hựu có 02 người làm chứng là ông Vũ

và cụ Quý, có xác nhận của ông Thưởng (là Trưởng thôn) và xác nhận của

Trang 7

Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm Tuy nhiên, ông Thưởng không chứng kiến cụ Hựu lập di chúc, việc Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận là do bà Lựu mang di chúc đến xác nhận (sau khi cụ Hựu lập di chúc hơn 01 tháng) và Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm chỉ xác nhận chữ ký của ông Thưởng chứ không xác nhận nội dung di chúc Mặt khác, qua giám định dấu vân tay của cụ Hựu tại bản di chúc thì Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận: “dấu vân tay mờ không thể hiện rõ các đặc điểm riêng nên không đủ yếu tố giám định Do đó, chưa đủ căn cứ xác định di chúc nêu trên thể hiện đúng ý chí của cụ Hựu” Theo khoản 3 Điều 630 BLDS 2015 quy định về hình thức, thủ tục lập di chúc của người bị hạn chế về thể chất thì cụ Hựu trong bản án này

bị hạn chế về thể chất, di chúc của cụ Hựu không được tự tay cụ Hựu mang

đi công chứng hoặc chứng thực (mà do con cụ Hựu mang đi), trên di chúc cũng không xác định được dấu vân tay có phải là của cụ Hựu hay không, vì vậy không đủ căn cứ để khẳng định di chúc trên là của cụ Hựu và thể hiện trung thực ý chí của cụ Hựu trước khi chết

10 Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao?

 Di chúc của cụ Hựu chưa hoàn toàn thỏa mãn điều kiện về hình thức Bởi

vì, cụ Hựu không biết chữ nên việc lập di chúc phải do người khác viết

hộ Theo khoản 3 Điều 630 BLDS 2015 có quy định: “Di chúc của người hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”

 Phần xét thấy trong Quyết định số 874/2011/DS-GĐT có nêu như sau:

“Trong trường hợp này, di chúc của cụ Hựu có 2 người làm chứng là ông

Vũ và cụ Quý, có xác nhận của ông Thưởng (là trưởng thôn) và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Mai Lâm Tuy nhiên ông Thưởng không chứng kiến cụ Hựu lập di chúc, việc Uỷ ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận là

do bà Lựu mang di chúc đến xác nhận (sau khi cụ Hựu lập di chúc hơn 1 tháng) và Uỷ ban nhân dân xã Mai Lâm chỉ xác nhận chữ kí của ông Thưởng chứ không xác nhận nội dung của di chúc Mặt khác, qua giám định dấu vân tay của cụ Hựu tại bản di chúc thì Viện khoa học hình sự Tổng hợp cảnh sát kết luận dấu vân tay mờ không thể hiện rõ các đặc điểm riêng nên không đủ yếu tố giám định” Thêm vào đó, người lập di chúc là cụ Hựu và người mang di chúc đi công chứng là bà Lựu Do vậy, không có đủ yếu tố xác định di chúc này thể hiện ý chí của cụ Hựu

Trang 8

11 Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ

Trong BLDS 2005 có những quy định liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ như Khoản 3 Điều 652: “Di chúc của người bị hạn chế

về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực” Và Điều 658 tại mục 2 của BLDS 2005: “Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

2 Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”

Trong BLDS 2015 có những quy định liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ như khoản 3 Điều 630 BLDS 2015: “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực” Và tại khoản 2 Điều 636 BLDS 2015: “Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”

=> Những quy định nghiêm ngặt về hình thức như thế này xuất phát từ cơ sở pháp lý và cơ sở kỹ thuật của nó Nhằm bảo vệ tối đa ý chí đích thực của người để lại di sản và cũng đề phòng việc người khác lợi dụng những khiếm khuyết của người để lại di sản để giả mạo di chúc, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

II VẤN ĐỀ 2: TÀI SẢN ĐƯỢC ĐỊNH ĐOẠT THEO DI CHÚC

A TÓM TẮT

Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013 của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao

Căn nhà số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận (diện tích 680,6m2; giá trị tiền xây dựng 433.587.700đ) là tài sản chung của cụ Hương và cụ Quý Sau khi cụ Hương chết, di chúc cụ để lại chia đều toàn

Trang 9

bộ căn nhà cho 5 người gồm ông Đức, ông Nghĩa, bà Hiếu, ông Dũng, chị Kiều (vợ ông Trí) Cụ Quý kiện ông Dũng và ông Lộc đòi chia ½ tài sản chung và ⅔ suất thừa kế theo pháp luật Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của

cụ Quý và chia cho cụ sở hữu 359,1m2 và 228.837.950đ tiền xây dựng nhà Tòa cũng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (ông Nghĩa, bà Hiếu, ông Đức, ông Dũng, bà Kiều), chia mỗi người được hưởng 64,3m2 và 40.949.950đ Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Lộc khiếu nại bản án sơ thẩm vì cho rằng Tòa không tuyên xử buộc ông phải giao nhà cho ai Tòa giám đốc thẩm xét thấy quyết định chia cho tài sản trên của tòa sơ thẩm là có căn cứ Nhưng việc tòa sơ thẩm không quyết định việc ông Lộc phải giao trả phần nhà đất mà ông Lộc đang sử dụng cho cụ Quý là chưa giải quyết triệt để vụ

án, dẫn đến bản án có hiệu lực pháp luật mà không thể thi hành được Đồng thời, tòa sơ thẩm có thiếu sót khi không xem xét công sức gìn giữ di sản của ông Lộc Tòa giám đốc thẩm đã ra quyết định hủy bản án sơ thẩm, giao

hồ sơ cho TAND TP HCM xét xử sơ thẩm lại

Quyết định số 58/2018/DS-GĐT ngày 27-9-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Nguyên đơn: ông Trần Văn Y

Bị đơn: Phòng công chứng M tỉnh Vĩnh Phúc

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Văn D1

Nội dung:

Cụ D và cụ C chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn Sau đó,

cụ D chung sống với cụ H, sinh ra ông D1

Ngày 16/12/2009, cụ C lập di chúc để lại một phần tài sản là bất động sản tại thửa đất số 38 cho ông D1

Ngày 15/01/2011, cụ D lập di chúc tại phòng công chứng M để lại phần tài sản của mình tại thửa đất trên cho ông D1 Khi Nhà nước thu hồi, ông D1 được đứng tên và nhận tiền bồi thường

Sau khi cụ D và cụ C chết, ngày 26/01/2011, phòng công chứng M có văn bản công bố di chúc của cụ C và cụ D đối với di sản của hai cụ là thửa đất

số 38

Năm 2013, ông Y khởi kiện cho rằng thửa đất số 38 ông đã mua của cụ C

từ năm 1987 Đến năm 1998, hai bên lập giấy bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất Việc phòng công chứng M công chứng di chúc của cụ

D, văn bản công bố di chúc của hai cụ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình ông, nên ống khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên

Trang 10

Theo quyết định giám đốc thẩm, thửa đất trên là tài sản chung của cụ C và

cụ D Tuy nhiên, các tài liệu do ông Y xuất trình thể hiện chỉ có cụ C chuyển nhượng cho ông Y mà chưa có ý kiến của cụ D Trường hợp chỉ cụ

C tự ý định đoạt tài sản chung của hai cụ mà không có sự đồng ý của cụ D thì cần xem xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng Quá trình giải quyết vụ án, tòa sơ thẩm, phúc thẩm tuyên bố các văn bản công chứng vô hiệu là chứa đủ căn cứ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông D1

Vì vậy, quyết định giám đốc thẩm của TAND Cấp cao tại Hà Nội đã hủy hai bản án sơ và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Vĩnh Yên xét

xử lại theo quy định

Ngoài ra, di sản của cụ D, cụ C để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số

38 đã bị thu hồi theo quyết định số 1208 năm 2010 của UBND TP Vĩnh Yên Dù vậy, giá trị quyền sử dụng đất của người có đất bị thu hồi vẫn được pháp luật bảo đảm theo quy định của Luật Đất đai Do đó, hai cụ có quyền lập di chúc định đoạt tài sản trên cho ông D1

B CÂU HỎI THẢO LUẬN:

1 Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời?

Cụ Hương đã định đoạt toàn bộ căn nhà và đất số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận

Đoạn của Quyết định số 359 cho thấy cụ Hương đã định đoạt toàn bộ căn nhà là:

“Ngày 06/04/2009 cụ Nguyễn Văn Hương chết, để lại di chúc có nội dung chia toàn bộ căn nhà và đất số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận cho 5 người con là: Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Dũng Quảng Thị Kiều (vợ Nguyễn Hữu Trí), di chúc đã được công chứng tại Phòng công chứng số 4 thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/01/2009”

2 Đoạn nào của Quyết định số 359 cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương?

Đoạn của Quyết định số 359 cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương là:

“Tuy nhiên về nội dung thì di chúc chỉ có giá trị một phần bởi nhà đất trên

là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương và cụ Quý Việc cụ Hương lập di chúc toàn bộ nhà đất cho 5 người con trong khi không có sự đồng ý của cụ Quý là không đúng”

Ngày đăng: 08/06/2022, 20:47

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w