1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Buổi Thảo Luận Thứ Nhất - Nghĩa Vụ.docx

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Công Việc Không Có Ủy Quyền Theo BLDS 2015
Tác giả Nhóm Thảo Luận
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Hợp Đồng Và Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 396,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN HỌC HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG Thành viên nhóm thảo luận 1 Nguyễn Thị Thanh Nga 2153801015155 2 Đỗ Nguyễn Khánh Ngân 2153801015157 3 Lê Thị Thu Ngân 2153801015159 4 Nguyễn Min[.]

Trang 1

MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI

HỢP ĐỒNG Thành viên nhóm thảo luận:

1 Nguyễn Thị Thanh Nga - 2153801015155

2 Đỗ Nguyễn Khánh Ngân - 2153801015157

3 Lê Thị Thu Ngân - 2153801015159

4 Nguyễn Minh Nghĩa - 2153801015170

5 Nguyễn Liễu Quỳnh Như - 2153801015199

6 Nguyễn Thị Ngọc Quyền - 2153801015212

7 Bùi Đặng Minh Tâm - 2153801015218

Trang 2

1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Theo Điều 574 BLDS 2015 quy định“Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”

2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Trên cơ sở Điều 275 BLDS 2015 quy định thì thực hiện công việc không có ủy quyền là một căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ

Ngoài ra theo quy định từ Điều 575 đến Điều 578 cũng có thể thấy thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nhiều nghĩa vụ:

- Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền

- Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện

- Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện

- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền".

Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 là đã bỏ đi từ “ hoàn toàn” khi nói về lợi ích của người có công việc BLDS 2015 bỏ đi từ này bởi lẽ trên thực tế thực hiện công việc không có ủy quyền không hoàn toàn là vì lợi ích của người có công việc mà còn là vì lợi ích của người thực hiện công việc không có ủy quyền

4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy

quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có uỷ quyền”:

Căn cứ theo Điều 275 BLDS 2015:

- Thứ nhất, người thực hiện công việc không có nghĩa vụ phải thực hiện công

việc Nghĩa là không có bất kỳ căn cứ pháp luật nào xác định người thực hiện

công việc phải có nghĩa vụ thực hiện không việc đó

Trang 3

- Thứ hai, người thực hiện công việc phải có chủ ý, tự nguyện khi thực hiện công

việc và vì lợi ích của người có công việc Như vậy, nếu một người thực hiện

công việc nhưng chỉ là ngẫu nhiên, không có chủ ý, tự nguyện (bị ép buộc hay nhầm lẫn) mà làm lợi cho người có công việc thì không được coi là thực hiện công việc không có uỷ quyền

- Thứ ba, người có công việc không biết hoặc biết mà không phản đối Người

thực hiện công việc không được người có công việc yêu cầu hay không bị phản đối, “nếu bị người có công việc phản đối, thì hành vi thực hiện công việc có thể trở thành hành vi trái pháp luật Nếu quá trình thực hiện trái với ý muốn của người có công việc và gây thiệt hại, thì sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng.” - Lê Minh Hùng, Sách tình huống Pháp luật hợp

đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017, Vấn đề 1

5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS

2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Nhà thầu C không thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ

sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có uỷ quyền vì:

- Nhà thầu C tuy có làm công việc thuộc trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư A nhưng không xuất phát từ sự “đơn phương tự nguyện”, mà xuất phát từ hợp đồng được ký kết giữa nhà thầu C với ban quản lý dự án B Nhà thầu C là người thực hiện nghĩa vụ được nêu trong hợp đồng nên không đủ điều kiện để được coi là người “thực hiện công việc không có uỷ quyền” (Điều 574 BLDS 2015)

- Khi thực hiện công việc, nhà thầu C không vì lợi ích của chủ đầu tư A mà là vì phải thực hiện hợp đồng được ký với B Vì vậy điều này cũng không thoả mãn điều kiện “thực hiện công việc không có uỷ quyền” (Điều 574 BLDS 2015)

- Nếu xác định mối quan hệ thực hiện công việc không có uỷ quyền thì phải xác

Trang 4

- Trong trường hợp nêu trên, nhà thầu C có thể áp dụng quy định theo khoản 2, 3 Điều 142 BLDS 2015 để yêu cầu B thực hiện nghĩa vụ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp nhà thầu C biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch

Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền)

Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT

Nguyên đơn: Cụ Ngô Quang Bảng, sinh năm 1932; địa chỉ: Số nhà 42, phố Trần Hưng Đạo, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Anh Thắng, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 4, khu 3 Nguyễn Thái Học, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 05/5/2014)

Bị đơn: Bà Mai Hương (tên gọi khác: Mai Thị Hương), sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà 43, khu 42B (nay là tổ 31B), phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị Sáu, sinh năm 1971; địa chỉ: Số nhà 52, khu 2, phố Trần Hưng Đạo, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

- Cụ Nguyễn Thị Tần, sinh năm 1935; địa chỉ: Số nhà 42, phố Trần Hưng Đạo, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2014 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là : cụ Ngô Quang Bảng trình bày:

Năm 1991, cụ chuyển nhượng căn nhà cấp bốn hai gian cùng toàn bộ thửa đất trên cho

vợ chồng bà Mai Hương và ông Hoàng Văn Thịnh với giá 5.000.000 đồng Bà Hương

Trang 5

đã trả cho cụ 4.000.000 đồng, còn nợ 1.000.000 đồng tương đương 1/5 giá trị thửa đất chưa thanh toán Năm 1996, bà Hương chuyển nhượng lại toàn bộ nhà, đất trên cho vợ chồng ông Hoàng Văn Chinh, bà Phạm Thị Sáu nhưng vẫn không trả tiền cho cụ Cụ

đã nhiều lần đòi bà Hương trả số tiền còn thiếu, nhưng bà Hương không trả nến cụ khởi kiện yêu cầu bà Hương phải trả cho cụ số tiền còn thiếu tương đương 1/5 giá trị nhà, đất với số tiền là 1.697.760.000 đồng (theo định giá tài sản của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) Nếu bà Hương không thanh toán bằng tiền thì yêu cầu bà Hương phải trả lại 1/5 diện tích đất mà bà Hương chưa thanh toán, tương đương với 188,6m” trong tổng diện tích : 1.010m” tại thửa đất đã chuyển nhượng nêu trên

Bị đơn bà Mai Hương trình bày: Thống nhất với lời trình bày của cụ Bảng về việc chuyển nhượng nhà, đất và số tiền đã thanh toán là 4.000.000 đồng, còn nợ cụ Bảng

số tiền nhận chuyển nhượng nhà, đất là 1.000.000 đồng Năm 1996, bà chuyển

nhượng lại nhà, đất trên cho vợ chồng ông Hoàng Văn Chinh, bà Phạm Thị Sáu và có gặp cụ Bảng để trả 1.000.000 đồng, nhưng cụ Bảng không nhận Bà xác định bà chỉ

nợ cụ Bảng 1.000.000 đồng nên đồng ý trả cho cụ Bảng số tiền này và tiền lãi theo

mức lãi suất cơ bản của Nhà nước, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ Bảng

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2015/DS-ST ngày 08/6/2015, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh quyết định:Buộc bà Mai Hương phải trả cho cụ Ngô Quang Bảng tổng số tiền 2.710.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 1.000.000 đồng, tiền lãi 1.710.000 đồng

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 38/2015/DS-PT ngày 22/9/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định:Không chấp nhận kháng cáo của cụ Ngô Quang Bảng; giữ nguyên bản án sơ thẩm

Buộc bà Mai Hương phải trả cho cụ Ngô Quang Bảng tổng số tiền 2.710.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 1.000.000 đồng, tiền lãi 1.710.000 đồng

Trang 6

Tại Quyết định số 65/2017/KN-DS ngày 15/11/2017, Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 38/2015/DS-PT ngày 22/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2015/DS-ST ngày 08/6/2015 của Tòa

án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm

1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Mục 1 Chương I trong Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như sau:

“1 Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:

a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996

và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền

đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó

b) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền

đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian

Trang 7

chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

2 Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử tòa án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên

3 Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp tòa án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định

4 Đối với các khoản vay có lãi (kể cả loại có kỳ hạn và loại không có kỳ hạn) ở ngoài tổ chức Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó cũng đã được bảo đảm thông qua việc chịu lãi của bên vay tài sản, cho nên trong mọi trường hợp tòa án đều không phải quy đổi số tiền đó ra gạo, mà chỉ buộc người vay phải trả số tiền nợ gốc chưa trả cùng với số tiền lãi chưa trả

5 Trong trường hợp đối tượng hợp đồng vay tài sản là vàng, thì lãi suất chỉ được chấp nhận khi Ngân hàng Nhà nước có quy định và cách tính lãi suất không phân biệt như các trường hợp đã nêu tại khoản 4 trên đây, mà chỉ tính bằng mức lãi suất

do Ngân hàng Nhà nước quy định”

Ta thấy ở Khoản 1 có đề cập việc tính lại giá trị khoản tiền được thực hiện thông qua trung gian là “gạo” Nghĩa là khoản tiền đó sẽ được quy đổi ra gạo theo giá gạo loại trung bình tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, sau đó tính số lượng gạo đó thành tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm

Riêng Khoản 2, 3, 4, 5 việc tính toán lại khoản tiền phải thanh toán được quy định bằng mức tiền cụ thể hoặc được đảm bảo bằng mức lãi suất Ngân hàng nên không phải thanh toán qua trung gian như Khoản 1

Trang 8

2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ vào Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản thì:

+ Thời điểm phát sinh nghĩa vụ dân sự giữa ông Quới và bà Cô là trước ngày 1/7/1996 (cụ thể là ngày 15/11/1973)

+ Giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137 đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp HCM là 18.000 đ/kg Như vậy giá gạo từ năm

1973 so với nay đã tăng trên 20%

Áp dụng theo Điểm a Khoản 1 Điều 1 Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997, việc tính lại số tiền như sau:

+ Quy đổi tiền thế chân 50.000đ mà ông Quới nhận ra gạo theo giá gạo trung bình được niêm yết vào năm 1973 (137 đ/kg): 50.000/137 = 365 (kg)

+ Giá gạo hiện tại là 18.000 đ/kg theo Sở Tài chính TP.HCM, theo đó ta tính số tiền thực tế ông Quới trả cho bà Cô là: 365*18.000 = 6.570.000đ Vậy số tiền thực tế ông Quới phải trả cho bà Cô là 6.570.000 đồng

3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không?

Vì sao?

Thông tư 01/TTLT không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT

Thông tư trên đã liệt kê nhiều đối tượng là những nghĩa vụ thanh toán tiền có thể được tính lại trong trường hợp trượt giá như các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, ngoài ra thông tư này cũng điều chỉnh nghĩa vụ về tài sản là hiện vật Tuy nhiên, “[…] danh sách này chỉ đưa ra một số nghĩa vụ trả tiền, một số nghĩa vụ trả tiền khác có thể bị

ảnh hưởng về trượt giá nhưng lại không được quy định” (Đỗ Văn Đại (2017), tlđd

Trang 9

(1), tr.349) Tiền thanh toán trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản trong

Quyết định số 15/2018/DS-GĐT cũng thuộc trường hợp trên

Do đó, thay vì áp dụng cách điều chỉnh trong việc thanh toán tiền đối với hợp đồng chuyển nhượng bất động sản trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT (quy đổi về giá gạo trung bình của địa phương hoặc trả bằng số tiền mặt do Tòa án xác định, cộng thêm việc trả lãi nếu bên thực hiện nghĩa vụ có lỗi), Tòa án sẽ đi theo hướng xác định lại nội dung nghĩa vụ thanh toán của bị đơn thông qua giá trị của tài sản được giao dịch tại thị trường địa phương

4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là 339.552.000đ Vì theo nhận định của Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội, bà Hường mới thanh toán cho cụ Bảng được 4.000.000đ trong tổng số 5.000.000đ giá trị chuyển nhượng nhà, đất; còn nợ 1.000.000đ tiền nhận chuyển nhượng đất Bà Hường mới thanh toán 4/5 giá trị chuyển nhượng đất cho cụ Bảng, số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất Do đó, bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng hướng dẫn tại điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Nếu bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền chuyển nhượng đất; bên chuyển nhượng đã giao toàn bộ diện tích đất, thì Toà án công nhận hợp đồng chuyển

nhượng đất đó Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng mới trả một phần tiền chuyển nhượng đất, bên chuyển nhượng mới giao một phần diện tích đất, thì có thể công nhận phần hợp đồng đó căn cứ vào diện tích đất đã nhận Nếu công nhận phần hợp đồng trong trường hợp bên chuyển nhượng giao diện tích đất có giá trị lớn hơn

Trang 10

số tiền mà họ đã nhận, thì Toà án buộc bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng phần chênh lệch giữa số tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã trả so với diện tích đất thực tế mà họ đã nhận tại thời điểm giao kết hợp đồng theo giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm Đồng thời buộc các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà bên nhận chuyển nhượng đã nhận Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng đã giao số tiền lớn hơn giá trị diện tích đất đã nhận mà Toà án chỉ công nhận phần hợp đồng tương ứng với diện tích đất mà họ đã nhận thì bên chuyển nhượng phải thanh toán khoản tiền đã nhận vượt quá giá trị diện tích đất đã giao tính theo giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm.” Tại thời điểm xét xử là 8/6/2015, theo định giá tài sản của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh thì giá trị nhà đất là 1.697.760.000đ, Bà Hường mới thanh toán 4/5 giá trị chuyển nhượng nhà, đất còn 1/5 chưa thanh toán nên tại thời điểm đó bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền là 339.552.000đ

5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?

Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ

Tiền lệ Bản án số 17/2018/DS-PT ngày 11/04/2018 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T; cư trú tại: thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; cùng cư trú tại: thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N (tên gọi khác

Nguyễn Thị Hải N); cư trú tại: thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định

Ngày đăng: 14/03/2023, 14:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w