- Điều kiện về năng lực chủ thể BLDS 2005 chỉ yêu cầu chủ thể tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự còn BLDS 2015 yêu cầu thêm là phải phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập..
Trang 1THẢO LUẬN LUẬT DÂN SỰ
Đề bài: Giao dịch dân sự
Lớp: 129-HS46A2 - nhóm thảo luận 2
Trang 2DỊCH DÂN SỰLớp: 129-HS46A2 - Nhóm thảo luận số 2
Giảng viên hướng dẫn:
Thầy Nguyễn Tấn Hoàng Hải - Thạc sĩ Luật, giảng viên môn Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP HCM
Cô Đặng Lê Phương Uyên - Thạc sĩ Luật, giảng viên môn Luật Dân sự,
Trường Đại học Luật TP HCM
Sinh viên thực hiện:
Trang 4Câu 1.1 So sánh BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên. 2
Câu 1.2 Đoạn nào của bán án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam? 3
Câu 1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà
Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu? 4
Câu 1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu? 4
VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC 6
Câu 2.1 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và
từ thời điểm nào ông Hội bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? 7
Câu 2.2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự? 7
Câu 2.3 Theo Toà án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có bị vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào? 7
Câu 2.4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Toà án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà
anh/chị biết. 8
Câu 2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp
lý khi đưa ra hướng xử lý. 8
Câu 2.6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch
đó có bị vô hiệu hay không? Vì sao? 9
VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH DÂN SỰ BỊ LỪA DỐI 10
Câu 3.1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015. 11
Trang 5tiền lệ anh/chị biết. 12
Câu 3.4: Hướng giải quyết trên còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?
Câu 3.7: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao? 15
Câu 3.8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210? 15
VẤN ĐỀ 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 17
Câu 4.1:Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 18
Câu 4.2: Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao? 18
Câu 4.3: Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện như thế nào? 19
Câu 4.4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu? 20
Câu 4.5: Hướng xử lý của hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào? 20
Câu 4.6: Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu? 21
Câu 4.7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong Quyết định trên 22
Trang 6anh Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu không? Vì sao? 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 24
Trang 8VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ
Việt Nam 2018, Chương VI;
- Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự
Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia 2007, tr 347 đến 450;
- Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án,Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh 2020 (xuất bản lần thứ 8), Bản án số 48-51;
- Tài liệu liên quan khác (nếu có)
Tóm tắt bản án: Bản án số: 32/2018/DS-ST.
Nguyên đơn ông T và bà H khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Đ phải giao trả toàn bộ tàisản cho nguyên đơn tổng giá trị khoảng 500.000.000 đồng Phía nguyên đơn có muaphần đất của bị đơn 2 lần vào ngày 31 tháng 5 năm 2004 và ngày 2 tháng 6 2004,đồng thời bị đơn chỉ đứng tên giúp đến khi nào nguyên đơn về Việt Nam sẽ trả nhà
và đất Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận định giấy cho nền thổ cư ngày 31 tháng 5năm 2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 2 tháng 6 năm 2004 và giấy cam
Trang 9kết ngày 16 tháng 3 2011 không tuân thủ theo quy định của pháp luật, nguyên đơnkhông thuộc trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sử dụngđất Từ những nhận định trên, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn
vô hiệu các loại giấy tờ nêu trên do vi phạm điều cấm, buộc bị đơn hoàn trả chonguyên đơn là 350.000.000 đồng
c) Và cho biết:
Câu 1.1 So sánh BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
- Điều kiện về năng lực chủ thể BLDS 2005 chỉ yêu cầu chủ thể tham gia giao dịch
có năng lực hành vi dân sự còn BLDS 2015 yêu cầu thêm là phải phù hợp với giao dịch dân
sự được xác lập Việc bổ sung này hợp lý vì không phải tất cả các giao dịch dân sự đều cómục đích và nội dung giống nhau, việc yêu cầu các mức độ và năng lực hành vi dân sự của cánhân sẽ phụ thuộc vào từng loại giao dịch cụ thể
- Về chủ đề này, điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 xác định điều kiện để giaodịch có hiệu lực là “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” Nội dung này đãđược thay đổi, ngày nay, điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 xác định chủ thể giao dịchphải có năng lực chủ thể bao gồm cả 2 yếu tố là “năng lực pháp luật dân sự” và “năng lựchành vi dân sự", cụ thể là: “chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phùhợp với giao dịch dân sự được xác lập” Việc bổ sung này là hợp lý vì giao dịch dân sự rấtkhác nhau và năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào giao dịch cụ thể Việc thayđổi này chỉ mang tính kĩ thuật lập pháp, “chủ thể” có thể bao quát được các đối tượng thamgia
- So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã thay từ “người tham gia giao dịch” bằng “chủthể” Sự thay đổi này chỉ mang tính kỹ thuật, không kéo theo thay đổi về nội dung, để có sựtương tích với những nội dung khác của BLDS 2015
- Bổ sung thêm tính tự nguyện của các chủ thể tại điểm b, khoản 1, Điều 117 Bộ luậtDân sự 2015 đã được đưa lên trước “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không viphạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” → Điều này cho thấy rằng các nhà làmluật đã đề cao vai trò của sự tự nguyện, ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự lên trướcmục đích và nội dung giao dịch
Trang 10- Theo điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005, một trong những điều kiện để giaodịch có hiệu lực là “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật” còn tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 lại quy định rằng: “Mục đích và nội dungcủa giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” → Có sựthay đổi từ “điều cấm của pháp luật" thành “điều cấm của luật" Có ý kiến cho rằng, cách xâydựng quy định lập lờ (của BLDS 2005) này sẽ dẫn tới cách hiểu là “bất kỳ quy định nào”trong pháp luật Việt Nam (Luật cũng như văn bản dưới Luật, Thông tư, Nghị định) Nên nêu
rõ đó là quy định trong “Luật” do Quốc hội ban hành” Cuối cùng, Dự thảo trình Quốc hộithông qua vào năm 2015 đã theo hướng vừa nêu và nội dung này đã được ghi nhận trong
BLDS 2015 Về mặt pháp lí, chỉ trao cho một cơ quan duy nhất có quyền hạn chế quyền dân
sự của cá nhân, pháp nhân là Quốc hội (qui định về luật) Trên thực tế, khi giới hạn từ pháp luật thành luật thì sẽ hạn chế, dễ dàng rà soát điều cấm trong văn bản pháp luật => Khi giới hạn chỉ còn ở văn bản luật sẽ giới hạn phạm vi và dễ dàng Lúc này hình thức của GDDS chỉ cần tuân theo điều kiện của luật, còn với văn bản dưới luật có quy định về hình thức của GDDS thì chỉ mang tính chứng cứ, không mang tính căn cứ có hiệu lực của GDDS.
Quan trọng nhất là ở BLDS 2005 người có năng lực hành vi nhưng không có năng lực pháp luật, đối với người nước ngoài không có khả năng mua nhà ở ở VN nhưng
có năng lực pháp luật phù hợp mà chỉ có năng lực hành vi => Không có căn cứ tuyên vô hiêu BLDS năm 2015 đã khắc phục vấn đề này bằng việc quy định cả năng lực hành vi (không cần đầy đủ mà phù hợp với GDDS) và năng lực pháp luật.
Câu 1.2 Đoạn nào của bán án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền
sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Đoạn của bán án số: 32/2018/DS-ST cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữunhà ở tại Việt Nam là:
“Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốctịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật Nhà ở năm
2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Namkhi thỏa mãn các điều kiện sau: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tưlâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá,
Trang 11nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sựnghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đốitượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại ViệtNam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã vềViệt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ởriêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụngđất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy chonền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kếtngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủquy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theoĐiều 131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu,hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.”
Câu 1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với
bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
- Đoạn của bản án số: 32/2018/DS-ST cho thấy giao dịch của ông T và bà H với
bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu là:
‘‘do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đấttrồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị
vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hìnhthức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 của Bộ luậtdân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhaunhững gì đã nhận.’’
** Tại phần Quyết định, Tòa án tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi của nguyên đơn
- Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày02/6/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm củapháp luật
Trang 12- Buộc bà L K Đ hoàn trả cho ông J Ph (Ph J T) và bà A Th Ph (L Th H) số tiền 350.000.000 đồng.”
Câu 1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?
● Theo em, Tòa tuyên bố giao dịch dân sự trên vô hiệu là hoàn toàn hợp lý, thuyết phục và đúng với pháp luật vì:
- Theo Điều 116 BLDS 2015 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành
vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự Từ quy định tại điều luật này có thể xác định: kết quả của việc xác lập giao dịch dân
sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệpháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý (hành vi pháp lý đơn phương hoặc
đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lý Tuỳ từng giao dịch cụthể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự
- Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định,cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, vớinhững mục đích và động cơ nhất định Do vậy, giao dịch dân sự vô hiệu khi không có mộttrong các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015, cụ thể:
+ Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
+ Thứ hai: Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;+ Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
+ Thứ tư: Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định
+ Thứ năm: Các trường hợp khác do Bộ luật này quy định
- Trong khi đó, tại khoản 2 Điều 17 BLDS 2015 quy định về nội dung năng lực dân sự của cá nhân như sau:
1 Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản
2 Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản
Trang 133 Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
- Mà theo Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Tại phần Nhận định của Tòa án, mục 2 cho biết “ ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003
và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền
sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người ViệtNam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam ”
- Tòa dựa trên cơ sở là do vi phạm điều cấm của pháp luật là người nước ngoài khoogn được sở hữu đất Nhưng thực tế thì pháp luật đất đai, pháp luật nhà ở chỉ quy định những trường hợp người nước ngoài được sở hữu nhà ở việt nam => Tòa căn cứ vào điều này thì không hợp lí Nếu chứng minh GDDS này vô hiệu do không đáp ứng điều kiện hình thức về năng lực chủ thể, cụ thể là năng lực pháp luật dân sự đối với người nước ngoài
Trang 14VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ
NĂNG NHẬN THỨC
a) Nghiên cứu:
- Điều 22, 117, 122, 125 và 128 BLDS 2015 (Điều 22, 122, 127, 130 và 133 BLDS 2005);
- Quy định liên quan khác (nếu có);
- Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa án Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao
b) Đọc:
- Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Trương Tín, Giáo trình Những quy định chung
về Luật dân sự của ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức -Hội Luật gia Việt Nam
ở lập ngày 8/2/2010 giữa vợ chồng ông Hội và vợ chồng ông Hùng Tại phiên tòa giámđốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận khángnghị Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và phúc thẩm giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thànhphố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật
Trang 15Câu 2.1 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và
từ thời điểm nào ông Hội bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Từ năm 2007 ông Hội bị tai biến không nhận thức được là thời điểm ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức
Đến ngày 07/05/2010, ông Hội bị Toà án tuyên mất năng lực hành vi dân sự
Câu 2.2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Giao dịch bán nhà và đất được xác lập bằng hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/02/2010, đến ngày 7/5/2010 ông Hội mới bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự nên giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị Toà án tuyên
Cơ sở pháp lý : Điều 117, Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015
Nhận thấy ông Hội trong lúc thực hiện giao dịch không có khả năng nhận thức, dongười vợ là bà Hương dùng tay của ông điểm chỉ vào bản hợp đồng, không phải do ôngHội tự nguyện Căn cứ vào điều 117 và điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sựkhông có sự hoàn toàn tự nguyện sẽ bị huỷ bỏ Do đó ngay từ đầu, giao dịch của ôngHội đã không đủ điều kiện để trở thành một giao dịch dân sự có hiệu lực
Vi phạm điều 130 BLDS 2015
Trang 16không và Toà án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.
Trong thực tiễn xét xử có vụ việc của ông Diện trong Quyết định số 102/2015/DS-GĐTngày 10-04-2015 của Tòa án nhân dân tối cao giống hoàn cảnh của ông Hội Hướng giải quyết của Tòa án: xem xét có hay không sự gian dối khi hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tại thời điểm giao kết hợp đồng ông Diện đã bị tâm thần thì việc chuyển nhượng có hợp pháp hay không và có bị áp dụng thời hiệu về khởi kiện hay không? Đồng thời hủy bán án sơ thần đình chỉ khi giải quyết vụ án
Tóm tắt: Ngày 16/01/1993 ông Diện viết “Giấy nhượng tài sản” để chuyển nhượng choông Sơn bà gian nhà tranh Tại quyết định số 07/2009/QĐST-DS ngày 15/12/2009 Tòa
án nhân dân huyện Từ Liêm tuyên bố ông Diện mất năng lực hành vi dân sự Tại Giấychứng nhận số 744/KHTH ngày 07/08/2007 bệnh viện tâm thần Hà Nội chứng nhậnông Diện bị bệnh tâm thần phân liệt đã được điều trị 7 lần từ ngày 14/03/1983 đến ngày24/10/2003 Tại biên bản giám định pháp y tâm thần số 41/PYTT ngày 25/11/2009,Trung tâm giám định pháp y tâm thần Sở Y Tế Hà Nội ông Diện bị bệnh tâm thần phânliệt thể Paranoid từng giai đoạn với thiếu sót ổn định, khả năng nhận thức và làm chủhành vi bị hạn chế, cần có người giám hộ Do đó, có cơ sở để xác định tại thời điểm lậpgiấy chuyển nhượng tài sản ông Diện đã mất năng lực hành vi dân sự
Câu 2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp
lý khi đưa ra hướng xử lý.
Theo em, việc Tòa án tuyên vô hiệu là thuyết phục về mặt đảm bảo quyền lợi chongười bị yếu thế (ông Hội: người bị mất năng lực hành vi dân sự và bị bà Hương dùngtay của ông ép điểm chỉ)
Trong thực tế người đã không còn làm chủ hành vi nhưng chưa được tòa tuyên bố mấtnăng lực hành vi dân sự Trong khoảng thời gian giữa hai thời điểm đó, người đó xáclập GDDS thì phải giai quyết ntn? Liên quan đến khoản 2 điều 122 BLDS, điều nàykhông cho biết kể từ khi nào thì người đại diện phải thay mặt người bị mất năng lực
Trang 17này chưa bị tòa tuyên thì sẽ dẫn đến tình trạng mất ổn định trong giao lưu dân sự Cókhả năng trong tương lai giao dịch bị tuyên vô hiệu nếu trong thời điểm xác lập ngườinày không có hành vi có thể nhận biết bị khó khan trong làm chủ hành vi Hướng thứhai sẽ khác phục điều này thì sẽ không bảo vệ tốt người yếu thế Thực tiễn xét xử sẽnghiêng về phương án thứ nhất, quan điểm của Tòa là người đại diện phải thay mặt xáclập tại thời điểm người được đại diện không làm chủ được năng lực hành vi chưa đượctòa tuyên bố mất năng lực hành vi.
Trong trường hợp này ông Hội không làm chủ hành vi từ trước khi tòa án tuyên, nêntrao cho ông Hội quyền yêu cầu tòa án tuyên bố ông mất năng lực hành vi là vô nghĩa.Căn cứ pháp lí vào điểm b khoản điều 122 BLDS để giải quyết tình huống này, thờiđiểm ông Hội xác lập giao dịch là ông đã không đầy đủ nhận thức nhưng chưa có căn
cứ của Tòa thfi không xét theo điểm a được mà có thể chứng minh ở khoản b do ôngHội không tự nguyên tham gia vào GDDS này
Tuy nhiên việc Tòa án áp dụng Điều 130 BLDS để xử lý vụ án là chưa chính xác vì cănbản ngay từ đầu giao dịch dân sự đã không đủ điều kiện để có hiệu lực mà ta nên ápdụng Điều 117, Điều 122 BLDS
Ta nên tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu dựa vào Điều 117, điều 122 của BLDSnăm 2015 để đảm bảo về mặt thuyết phục hơn
Câu 2.6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị vô hiệu hay không? Vì sao?
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 141 BLDS 2015, điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 Nếu giao dịch tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không bị vô hiệu
Vì: Giao dịch tặng, cho bất động sản đều mang lợi ích cho ông Hội nên người đại diện
có quyền xác lập, thực hiện Nếu người đại diện đồng ý xác lập giao dịch thì giao dịch
đó vẫn có hiệu lực Căn cứ dựa trên khoản 2 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015
Theo điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 thì việc xác lập giao dịch dân sự chỉ làmphát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất nănglực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạnchế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ