TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN T S Đặng Nguyễn Phương Uyên LỚP QT46B1 NHÓM 4 – BUỔI 5 Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 4 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THỨ NĂM: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA
KẾ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 5
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 4 năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THỨ NĂM: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA
KẾ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 5
1 Bùi Võ Thảo Nguyên 2153801015174
2 Nguyễn Trương Quang Nhật 2153801015182
3 Nguyễn Viết Tùng 2153801015227
4 Lê Thị Thu Ngân 2153801015159 Nhóm trưởng
5 Trần Thị Duyên Như 2153801015200
6 Nguyễn Đại Phước 2153801015203
Trang 3NỘI DUNG THẢO LUẬN
I. VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ
A. TÓM TẮT:
• Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Nguyên đơn là ông Trần Văn Hoà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp
về thừa kế tài sản với bị đơn là anh Trần Hoài Nam và chị Trần Thanh Hương Tài sản ông Hoà và bà Mai (vợ ông Hoà) gồm 01 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và một lán bán hàng xây dựng năm 2006 trên diện tích đất 169,5 m (trong
đó 84 mỉ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn 85,5 mỉ còn lại thì chưa nhưng hộ ông Hoà đã sử dụng ổn định, ranh giới các hộ xung quanh đều rõ ràng và không có tranh chấp, không thuộc diện phái quy hoạch di dời) Anh Nam, chị Hương yêu cầu xác định diện tích đất 85,5 m’ là tài sản chung của gia đình nhưng Hội đồng xét xử không chấp thuận Đối với diện tích đất tăng 85,5 mỉ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét thấy đây vẫn là tài sản của ông Hoả, bà Mai, chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Tài sản được hình thành trong thời gian hôn nhân nên được chia đôi cho ông Hoà, bà Mai Do trước khi chết bà Mai không để lại di chúc nên di sản của bà Mai chia cho mỗi người được hưởng 1/3 di sản thừa kế của bà Mai Diện tích đất 38,4 mỉ và 47,1 m’ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Hoà và anh Nam sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước sẽ liên
hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận
• Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối việc chuyển nhượng đó
Số tiền nhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế Bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Cụ thể năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông
Trang 4Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối
gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng.” Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng
B. CÂU HỎI THẢO LUẬN:
1. Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?
Theo điều 612 BLDS 2015, di sản bao gồm "tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác"
Theo Khoản 1 Điều 615 BLDS 2015 thì “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác"
Vì căn cứ trên nên di sản không bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố
2. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”
Trong thực tế có những trường hợp di sản thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới
ví dụ là giả sử việc trước khi chết, người để lại thừa kế có thực hiện một giao dịch dân sự mua bán đất, bên mua đặt cọc trước một khoản tiền hứa sau 6 tháng sẽ trao
đủ tiền và nhận đất, tức là tại thời điểm mở thừa kế phần đất ấy vẫn là tài sản của người chết và là di sản thừa kế, đúng hạn 6 tháng người mua trao đủ tiền và nhận đất thì đất lại bị thay thế bởi khoản tiền mua đất (sau thời điểm mở thừa kế) thì khoản tiền đó vẫm được xem là tài sản để lại cho người thừa kế vì nó phát sinh
Trang 5trên nền tảng của di sản mà người chết đã thực hiện giao dịch trước khi chết để lại.
Vì vậy xem tài sản mới thay thế cho di sản thừa kế cũng là di sản thì hoàn toàn hợp lý
Việc xem tài sản mới là di sản thừa kế sẽ tạo nên sự đảm bảo về quyền lợi cho người thừa kế
3. Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Đối với quyền sử dụng đất của người quá cổ không cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được coi là di sản, theo hai trường hợp:
Trường hợp 1: Quyền sử dụng đất không có giấy chứng nhận nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, ) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế thì “trong trường hợp đương sự có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất
và quyền sử dụng đất đó Trong thực tế, dường như Tòa án không yêu cầu phải có
“văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và vẫn xác định quyền sử dụng đất là di sản cùng với tài sản trên đất (không chỉ tài sản trên đất mới là di sản)
Trường hợp 2: Quyền sử dụng đất không có giấy chứng nhận nhưng không có nhà
ở, vật kiến trúc khác trên đất: Theo đó mục 1.2 phần II của Nghị quyết số 02/2004/QĐ-HĐTP ngày 10 – 8- 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 1-7-2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế” Như vậy, đối với trường hợp người quá cố không có giấy chứng nhận, quyền sử dụng đất là di sản hay không còn phụ thuộc vào việc người quá cố có một loại giấy tờ quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 hay không Nếu người quá cố có một trong những giấy
tờ quy định tại các khoản 1,2 và 5 của Luật Đất đai 2003 (được nhắc lại tại Điều
100 Luật Đất đai 2013) như giấy tờ mua bán hay trích lục địa bộ của chính quyền
cũ, quyền sử dụng đất là di sản và, từ đó, một tác giả đã nhấn mạnh rằng “hầu hết quyền sử dụng đất do người chết để lại đã trở thành di sản thừa kế” Ngược lại,
Trang 6nếu người quá cố không có một trong những giấy tờ quy định tại các khoản 1,2 và
5 Điều 50 của Luật Đất đai 2003, quyền sử dụng đất không được coi là di sản
4. Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?
Trong Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5 m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản
Đoạn trong Bản án số 08 có câu trả lời là: "Do đó, đây vẫn là tài sản của ông Hòa,
bà Mai, chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự"
5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08
về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo nhóm em, hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn hợp lý
Thứ nhất, theo điểm b tiểu mục 1.3 phần II của Nghị quyết 02/2004/NQ - HĐTP thì trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng
có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác gắn liền với quyền sử dụng đất đó thì nếu có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất Tuy
Ủy ban nhân dân phường Đống Đa chưa có văn bản cho biết rõ là việc sử dụng đất
đó có vị phạm quy hoạch hay không, nhưng theo ông Nguyễn Ngọc Thu đại diện theo pháp luật của UBND phường Đống Đa trình bày: "Hộ ông Hòa đang sử dụng diện tích đất tăng ổn định, không thuộc diện quy hoạch di dời, không tranh chấp", nên có xem xét để giao quyền sử dụng đất do không vi phạm quy hoạch
Thứ hai, như ông Thu đã đề cập thì ông Hòa đã sử dụng diện tích đất tăng ổn định, các hộ liền kề cũng không có tranh chấp về việc hộ ông Hòa sử dụng diện tích đất tăng này nên có thể ngầm hiểu họ cũng công nhận quyền sử dụng đất của ông Có
ý kiến cho rằng: “về bản chất “cái” được coi là di sản có giá trị tài sản là quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ không phải là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy 3 Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, chứng nhận quyền sử dụng đất thực ra chỉ là một hình thức
Trang 7pháp lý, Nhà nước công nhận một ai đó có quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ nó không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất Do đó, nếu có chứng cứ chứng minh người quá cố là người sử dụng hợp pháp đích thực quyền sử dụng đất thì nên coi đó là di sản” Vì đã có chứng cứ chứng minh ông Hòa là người sử dụng đất hợp pháp, do đó, Tòa án đã coi diện tích đất tăng 85,5 m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản nếu các đương sự thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
6. Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
Ông N mất 1984 nên thời điểm mở thừa kế là 1984 khi đó tài sản là mảnh đất có diện tích 398m2 Mảnh đất là tài sản chung giữa vợ chồng ông N và bà G nên chia đôi là 199m2
7. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K
có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Phần diện tích đất 131m2 đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản để chia, vì bà G đã chuyển nhượng đất cho ông K và ông K cũng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Việc chuyển nhượng trên các con của bà G đều biết nhưng không ai có ý kiến phản đối và số tiền có được bà G dùng để chăm lo đời sống cho các con nên phần diện tích đất trên đã được các thừa kế chấp nhận bán đi, do đó không còn nằm trong khối di sản để chia
8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Theo hướng giải quyết trong án lệ trên là thừa nhận quyền sở hữu của ông K đối với phần diện tích đất được chuyển nhượng Hướng giải quyết trên là thuyết phục
và đảm bảo được quyền lợi cho ông K Phần diện tích đất trên do bà G chuyển nhượng cho ông K và các con bà biết nhưng không có ý kiến phản đối nên đồng nghĩa hợp đồng giao dịch giữa ông K và bà G là hợp pháp và có hiệu lực Như vậy việc không đưa phần diện tích đất đã chuyển nhượng vào khối di sản để chia là hoàn toàn hợp lý
Căn cứ theo Điều 223 BLDS 2015 về việc xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng như sau: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó.”
Trang 89. Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
- Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con màdùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó không được coi là di sản để chia Bởi vì:
+ Xét tài sản chung của vợ chồng bà G và ông N là 398m2 đất, sau khi ông Nmất, không để lại di chúc thì tài sản chung này sẽ được chia đôi là 196m2 đấttheo quy định tại Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Bà G, các con chung của 2 vợ chồng đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 nên đều được chia thừa kế như nhau
+ Nếu bà G tự ý bán 131m2 đất cho ông K, không có sự đồng ý của các convà dùng tiền đó cho cá nhân mình chứ không vì lợi ích của các con thì xem như bà đã bán một phần đất của mình trong khối tài sản chung của hai vợ chồng Việc mua bán này sẽ không ảnh hưởng đến phần tài sản mà các đồng thừa kế khác được hưởng
10. Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là 133,5m2 (1/2 tài sản) cộng với 1/7 của 133,5 m2 Tài sản của ông N là 152,57m2 bởi vì xét thấy:
Phần diện tích thuộc tài sản chung của vợ chồng bà G và ông N là 398m vuông, sau khi ông N mất bà G bán cho ông K 131m vuông, lúc này phần đất còn lại là 267,4m vuông
Do bà G sử dụng số tiền bán đất trang trải cho các con nên không đưa vào khối tài sản để chia Vì vậy lúc này tài sản chung của ông N bà G còn lại là 267,4m vuông Theo khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
“Điều 66 Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
2 Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”
Trang 9=> Vì vậy bà G có quyền sử dụng ½ diện tích đất trên là 133,5m vuông
Do ông N chết không để lại di chúc nên tài sản chia theo pháp luật => căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất của ông N là bà G
và sáu người con chung, tổng là bảy người Lấy 133,5 mét vuông chia bảy là ra phần bà này được hưởng thừa kế theo pháp luật => Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là 133,5m2 cộng 19,07m²
là 152,57m2
11. Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2
có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 không
có thuyết phục bởi:
Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con của bà Phùng Thị G đều biết nhưng không phản đối, các con của bà G có lời khai bà G bán đất là để lo cho các con Vì vậy có cơ sở để xác định các con của bà G đồng ý cho bà G chuyển nhượng diện tích 131m vuông nếu trên cho ông Phùng Văn K
Và Tòa không đưa phần đất trên vào khối tài sản chia là có căn cứ
Như câu 10 thì tài sản của bà G khi chết là 152,57m2, bà G còn lập di chúc để lại cho chị Phùng Thị H1 diện tích 90m vuông đất trong phần di sản của bà vì vậy phần còn lại di sản của bà G là 152,57m2 trừ cho 90m2 là 62,57m
Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 vì:
Án lệ này nói về việc di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối việc chuyển nhượng đó Số tiền nhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế Bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng
Án lệ chỉ trích phần [2] Quyết định giám đốc thẩm 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Nội dung án lệ
Trang 10[2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con
bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng
12. Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại”
có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là không thuyết phục bởi:
Di sản của bà G là ½ khối tài sản và 1/7 của tài sản ông N và trừ đi 90m2 bà G để lại cho chị H1 là 62,57m2, bà có viết di chúc để lại cho chị H1 90m2 như vậy chị H1 sẽ được nhận 90m2 theo như di chúc, phần còn lại chia theo quy định pháp luật thì bà G có 6 người con thì tài sản vẫn phải chia cho 6 đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651
Đây không phải nội dung của Án lệ số 16 bởi vì Án lệ này có nội dung về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng
Án lệ chỉ trích phần [2] Quyết định giám đốc thẩm 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Nội dung án lệ
[2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng