NỘI DUNG THẢO LUẬN Học viên, sinh viên tập trung thảo luận vấn đề sau VẤN ĐỀ 1 CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG A CÂU HỎI THẢO LUẬN 1 Vấn đề thứ nhất Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị gi. nnnnnnnnn
Trang 1NỘI DUNG THẢO LUẬN
Học viên, sinh viên tập trung thảo luận vấn đề sau:
I VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
A CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Vấn đề thứ nhất
Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015 “Thời điểm giao kết hợp đồng”
Thời điểm giao kết hợp đồng là một trong các yếu tố thể hiện tính tự nguyện của các bên mà không phải là nội dung của hợp đồng Tuy nhiên, việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa pháp lý nhất định như:
(i) Là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định khác;
(ii) Là căn cứ để xác định giá của tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản khi các bên không thỏa thuận về giá, hoặc xác định giá của dịch vụ trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về giá của dịch vụ,…;
(iii) Là cơ sở để công nhận hiệu lực của hợp đồng, và nếu hợp đồng mang tính ưng thuận thì sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng
BLDS 2015 quy định với mỗi hình thức giao kết khác nhau thì thời điểm giao kết hợp đồng lại được quy định khác nhau Cụ thể:
- Thời điểm giao kết bằng lời nói: Thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp
đồng
- Thời điểm giao kết bằng văn bản: Thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hoặc
hình thức khác được thể hiện trên văn bản
- Thời điểm giao kết hợp đồng nếu hai bên thoả thuận im lặng: Là sự chấp nhận
giao kết trong một thời hạn: Thời điểm giao kết là thời điểm cuối cùng của thời hạn này
- Thời điểm giao kết bằng lời nói sau đó xác lập bằng văn bản: Thời điểm giao kết
hợp đồng như trường hợp giao kết bằng lời nói ở trên
Ở trường hợp này các bên đã thực hiện giao kết bằng văn bản và theo quy định tại
khoản 1 Điều 400 BLDS 2015 “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”, đối với C, D không chứng minh đã gửi chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng và C không thừa nhận việc đã nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng, và điều đó đương nhiên theo luật thì hợp đồng vẫn chưa được giao kết”
Trang 2Ở đây các bên giữa A, B, C và D cũng không thỏa thuận trước về việc im lặng là đồng
ý nên theo Khoản 2 Điều 400 BLDS 2015 quy định “Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.” và theo Khoản 2
Điều 393 BLDS 2015 “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.” Ở đây các bên không thỏa thuận cũng không theo thói
quen nên việc D không chứng minh đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và C không thừa nhận việc đã nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng, nên không thể đưa vào trường hợp các bên thỏa thuận im lặng là chấp nhận giao kết và điều đó đương nhiên theo luật thì hợp đồng vẫn chưa được giao kết
Như vậy đối với A và B, tuy D đã gửi đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng tình huống trên không có nói về việc A và B đã nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng hay chưa, nhưng vì hợp đồng giữa C và D chưa được giao kết thì đương nhiên hợp đồng giữa 4 chủ thể này vẫn chưa được giao kết Vì vậy mà hợp đồng giữa A, B
và C đối với D vẫn chưa được giao kết theo quy định tại Điều 400 BLDS 2015
2 Vấn đề thứ hai
Tòa án đã giải quyết như sau: chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý, theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 Theo chúng tôi hướng giải quyết này của Tòa án là hợp lý Tháng 01/2018, A, B và C gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng mãi đến tháng 1 và tháng 2 năm 2020, D mới gửi chấp nhận đề nghị cho A và
B Từ đó ta thấy thời hạn trả lời là hơn 2 năm đó là một thời hạn khá dài và chưa hợp
lý Bởi vì trong 2 năm quyền lợi của bên đề nghị có thể bị thiệt hại nếu không nhận được chấp nhận trả lời
Ví dụ: A đề nghị bán nhà cho B Thời hạn trả lời là một tháng Nhưng sau 6 tháng B mới chấp nhận đề nghị Như vậy trong khoảng thời gian 6 tháng này giá nhà có thể tăng lên, A có thể bán nhà cho người khác với giá cao hơn so với giá bán cho B tại thời điểm 6 tháng trước Việc trả lời chậm của B đã làm thiệt hại đến A Ở vấn đề thứ
2 này bên đề nghị không xác định thời hạn nên căn cứ khoản 1 Điều 394 BLDS thì
“khi bên đề nghị không nêu rõ số thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong 1 thời hạn hợp lý” Vì vậy hướng giải quyết của
Tòa án trong vấn đề 2 là hợp lý
Trang 33 Vấn đề thứ ba
Tòa án giải quyết như sau: chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới Theo chúng tôi, hướng giải quyết này của Tòa án là hợp lý Tòa án đã rất khéo léo, linh hoạt khi
xử lý vấn đề thứ 3 Khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 chỉ quy định hướng giải quyết trường hợp trả lời chấp nhận khi đã hết thời hiệu khi bên đề nghị có ấn định Còn đối với trường hợp bên đề nghị không có ấn định thì không có quy định Xét thấy quy định trên nhằm làm cho người được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị trong thời hạn nhất định, tránh trường hợp họ kéo dài thời gian để có lợi cho mình, thậm chí có thể gây thiệt hại cho bên đề nghị Luật quy định việc trả lời chấp nhận đề nghị chỉ có hiệu lực trong thời hạn mà bên đề nghị ấn định nhằm tạo sự tự do trong giao kết hợp đồng, không làm cho quy định về việc trả lời chấp nhận đề nghị bị cứng nhắc Như vậy chúng ta có thể áp dụng trường hợp bên đề nghị nhận được trả lời khi đã hết thời hạn thì chấp nhận được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời khi bên đề nghị không ấn định thời hạn tương tự như khi bên đề nghị có ấn định Chính vì vậy, hướng giải quyết trên của Tòa án về vấn đề thứ 3 là rất phù hợp và thỏa đáng
II VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
A CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
● BLDS 2005 quy định về im lặng trong giao kết hợp đồng tại khoản 2 Điều 404:
“Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.
● BLDS 2015 quy định về im lặng trong giao kết hợp đồng tại khoản 2 Điều 393 và khoản 2 Điều 400:
+ Khoản 2 Điều 393: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
+ Khoản 2 Điều 400: “Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó”.
BLDS 2005 coi sự im lặng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nếu các bên có
sự thỏa thuận về vấn đề này Tuy nhiên, quy định này còn khá mơ hồ, chưa rõ ràng Hiệu lực của hợp đồng sẽ phát sinh từ thời điểm giao kết BLDS 2005 chỉ đưa ra trường hợp im lặng được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng không nêu rõ
Trang 4hợp đồng do cách thức thỏa thuận này sẽ có hiệu lực từ thời điểm nào BLDS 2015
đã làm rõ điều này Cụ thể, theo khoản 2 Điều 400 im lặng được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn để bên nhận được lời đề nghị trả lời cho bên đề nghị
2 Quy định về vai trò của im lặng trong giao kết hợp trong một hệ thống pháp luật nước ngoài.
Khoản 1 và 3 Điều 18 Công ước Viên 1980 của LHQ về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) quy định:
“ 1 Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất hợp tác
vì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận.
2 […]
3 Tuy nhiên nếu do hiệu lực của chào hàng hoặc do thực tiễn đã có giữa hai bên trong mối quan hệ tương hỗ hoặc tập quán thì người được chào hàng có thể chứng
tỏ sự chấp thuận của mình bằng cách làm một hành vi nào đó như hành vi liên quan đến việc gửi hàng hay trả tiền chẳng hạn dù họ không thông báo cho người chào hàng thì chấp nhận chào hàng chỉ có hiệu lực từ khi những hành vi đó được thực hiện với điều kiện là những hành vi đó phải được thực hiện trong thời hạn đã quy định tại điểm trên”.
Khoản 1 và 3 Điều 2.1.6 Bộ nguyên tắc của Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc
tế (PICC) quy định:
“1 Chấp nhận giao kết hợp đồng có thể là một tuyên bố hoặc cách xử sự khác của bên được đề nghị cho thấy họ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Bản thân sự im lặng hay bất tác vi không có giá trị như một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
2 […]
3 Tuy nhiên, nếu theo đề nghị giao kết hợp đồng, các thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc theo tập quán, bên được đề nghị có thể chỉ ra là mình đã chấp nhận giao kết hợp đồng bằng việc thực hiện một hành vi mà không cần thông báo cho bên đề nghị biết, việc chấp nhận có hiệu lực khi hành vi đó được hoàn thành”.
Có thể thấy CISG 1980 và PICC đều không coi sự im lặng là mặc nhiên chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng (Điều này cũng được quy định trong BLDS Việt Nam năm 2015 tại khoản 2 Điều 393) Tuy nhiên, nếu có hành vi cụ thể chứng tỏ sự chấp thuận lời đề nghị giao kết hợp đồng phù hợp với các điều kiện tại khoản 3 của cả hai Điều trên thì dù không thông báo cho bên đề nghị biết thì cũng được coi là đã chấp
Trang 5nhận đề nghị giao kết hợp đồng và việc chấp nhận có hiệu lực khi hành vi đó được hoàn thành
3 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là chưa thuyết phục Việc áp dụng án lệ để giải quyết 1 vụ việc phải đảm bảo vụ việc có tình huống pháp lý tương tự với Án lệ (Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) Trong khi
vụ việc trên có một vài điểm không tương tự với Án lệ:
- Trường hợp của Án lệ là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, còn trong tình huống trên là tài sản thuộc sở hữu chung của các thành viên trong gia đình
- Án lệ giải quyết việc người vợ không ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất nhưng có cơ sở xác định người vợ biết và đã đồng ý việc người chồng thực hiện việc chuyển nhượng nhà, đất cho người khác Cho thấy Án lệ số 04/2016 chỉ giải quyết vụ việc khi 1 trong 2 người (vợ hoặc chồng) không ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhưng có cơ sở xác định là người đó đã biết mà không nói gì thì Án lệ khẳng định người đó đã đồng ý với hợp đồng chuyển nhượng Còn trong vụ việc trên thì cả người vợ và người chồng đều đã biết về hợp đồng chuyển nhượng này:
“bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn”.
- Án lệ xác định có cơ sở người vợ biết về hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất mà
người chồng thực hiện Còn tình huống trên chỉ nói rằng “gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì” mà không nói rõ 5 người con của 2 ông bà có cơ sở xác định
để biết về hợp đồng này hay không Mặc dù việc sử dụng đất của bên nhận chuyển nhượng là công khai nhưng nếu tại thời điểm chuyển nhượng đến thời điểm làm thủ tục (từ năm 2001 đến năm 2004) mà trong số những người con của 2 ông bà có người chưa đủ tuổi để nhận thức về sự việc trên thì không thể cho rằng sự im lặng của người này là mặc nhiên đồng ý
Từ đó có thể thấy việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016 để giải quyết tình huống nêu trên là chưa đủ thuyết phục
III VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC
A TÓM TẮT BẢN ÁN
Trang 6Ông Nguyễn Văn B vay của ông Huỳnh Tấn P (nguyên đơn) 100 triệu đồng dưới hình thức chuyển nhượng các thửa đất số 20, 21 và 22 cho ông Nguyễn Tấn L (bị đơn) như yêu cầu của ông P Sau khi ký hợp đồng với ông L thì ông P có đưa cho ông “Giấy cam kết” trong thời hạn 05 năm được chuộc lại đất với số tiền 160.000.000 đồng
Đến ngày 08/02/2017 ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đầu năm
2017 ông đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu H thửa đất với giá 550.000.000 đồng Bà H đã thế chấp thửa 21 và 22 cho Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H Bà H chuyển nhượng thửa đất số 20 cho ông Nguyễn Ngọc N1 với giá 585.000.000 đồng
Tại bản án dân sự sơ thẩm, Toà án tuyên xử:
- Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các thửa số 20, 21, 22 giữa ông L với bà H
- Hủy một phần Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa HD Bank với bên thế chấp là bà Nguyễn Thị Thu H
- Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa số 20 giữa bà H với ông N1
Ông Nguyễn Ngọc N1 và HD Bank kháng cáo
Tại bản án dân sự phúc thẩm, Toà án quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc N1 và không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Phát triển Thành phố H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
B CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015
và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu
- Thứ nhất, ở khoản 1 Điều 411 BLDS năm 2005 quy định: “Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này vô hiệu.”
Trên thực tế, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được có thể vì lý do khách quan, cũng có thể vì lý do chủ quan Chẳng hạn:
Theo bản án sơ thẩm kinh doanh thương mại số 04/2007/KDTM-ST ngày 05/09/2007 của TAND thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai: “thực tế trên thị trường
có rất nhiều loại máy đào mang nhãn hiệu Hitachi ( ) tại văn bản của hợp đồng, các bên không thể hiện về việc bên bán phải giao cho bên mua máy đào nhãn hiệu Hitachi được sản xuất năm nào, không thể hiện về quy cách, chất lượng, công suất, thể tích gầu cũng như số khung, số máy của máy đào ( )
Trang 7HĐXX xác định, đây là một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 411 BLDS thì hợp đồng này vô hiệu” Bản án này cho thấy đối tượng không thể thực hiện được có thể xuất phát từ lý do chủ quan nhưng vẫn được Tòa án chấp nhận Do vậy, tại khoản 1 Điều 408 BLDS năm
2015 các nhà làm luật đã bỏ cụm từ “khách quan”
- Thứ hai, cũng tại khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 các nhà làm luật sử dụng từ
“ký kết” Tuy nhiên trên thực tế, không phải hợp đồng nào cũng được thể hiện bằng văn bản và được các bên “ký kết” Đến BLDS 2015, tại khoản 1 Điều 408,
từ “ký kết” đã được thay đổi thành “giao kết”
2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?
Điều 408 BLDS 2015 điều chỉnh một loại giao dịch dân sự do vậy nó cũng chịu sự điều chỉnh của các quy định về giao dịch dân sự Theo Điều 132 Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu - không bao gồm Điều 408 Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được Như vậy ta thấy, văn bản chưa quy định về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được
“Hiện nay các quy định của BLDS không cho biết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu trên cơ sở điều luật đang được nghiên cứu là bao nhiêu ( ) Tuy nhiên, từ rất lâu chúng tôi cho rằng đây là trường hợp không áp dụng thời hiệu… Trường hợp đang được nghiên cứu là một trường hợp hợp đồng vô hiệu trong Bộ luật dân sự, nhưng Bộ luật dân sự lại không cho biết thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu Do lý do làm cho hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là rất đặc biệt “đối tượng không thể thực hiện” nên sẽ là thuyết phục khi chúng
ta theo hướng thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị giới hạn.” 1
3 Trong vụ án trên, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng
vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được?
Ở phần [2] - nhận định của Toà án:
“Vào tháng 4/2018, Tòa án đã có thông báo cho bà Nguyễn Thị Thu H biết thửa đất
số 20 có tranh chấp (Thông báo số 185/TB-TLVA ngày 04/4/2018), nhưng đến ngày 07/8/2018 bà Nguyễn Thị Thu H vẫn ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số
20 đang có tranh chấp cho ông Nguyễn Văn N Mặt khác, tại Biên bản xem xét,
1Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh 2020 (xuất bản lần thứ tám), Bản án số 97-100.
Trang 8thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2018 (bút lục 368, 369) thể hiện trên phần đất thửa số
20 đang tồn tại 01 nhà mồ và 04 ngôi mộ của người thứ ba, nhưng việc chuyển nhượng đất lại không có ý kiến của chủ sở hữu hợp pháp các vật kiến trúc trên đất, nên quyền sử dụng đất không thể chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng bình thường và đầy đủ quyền sử dụng của mình Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật dân sự….”
4 Trong vụ án trên, Toà án xác định hợp đồng đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?
Hiện nay, mặc dù BLDS không quy định rõ khái niệm “hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được” nhưng ở bản án trên, nhìn chung, Toà án xác định hợp đồng vô hiệu do “đối tượng không thể thực hiện được” có tính thuyết phục Bởi, căn cứ vào Điều 408 BLDS 2015 thì tại thời điểm giao kết, thửa đất số 20 đã là
“đối tượng không thể thực hiện được” vì thửa đất đang có tranh chấp mà về nguyên tắc là không được định đoạt tài sản đang có tranh chấp Nhưng bà H đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông N1, do vậy Toà án có căn cứ tuyên hợp đồng vô hiệu
do đối tượng không thể thực hiện được
IV VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN
A TÓM TẮT BẢN ÁN
Dầu Một tỉnh Bình Dương
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệp Thúy, sinh năm 1980
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang, sinh năm 1983
Nội dung:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn vào ngày 23/11/2013, yêu cầu bà Trang giao quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Sau đó, vào ngày 15/11/2016, nguyên đơn có đơn thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu bà Trang trả lại cho nguyên đơn 100.000.000 đồng Đây là số tiền nguyên đơn cho bị đơn vay Để đảm bảo cho việc vay mượn, hai bên thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/11/2013 Bà Trang có hứa là trong vòng 6 tháng sẽ trả hết cho nguyên đơn nhưng khi đến hạn thì chỉ trà cho nguyên đơn 5.000.000 đồng Vì vậy, nguyên đơn
Trang 9khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn là vô hiệu và bà Trang có nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn 95.000.000 đồng còn lại
nhân dân tối cao
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu, sinh năm 1954
Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim Anh, sinh năm 1964
Nội dung:
Năm 2009 bà Đặng Thị Kim Anh vay bà Võ Thị Thu 3 lần tiền tổng cộng là 3,7 tỷ đồng Ngày 14/02/2010, bà Anh mới trả cho bà Thu 600 triệu đồng Ngày 26/8/2010, bà Anh và chồng là ông Học chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất cho vợ chồng ông Vượng, bà Nga với giá 680 triệu đồng Ông Học, bà Anh thừa nhận còn
nợ bà Thu 3,1 tỷ đồng thời cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết Tòa án cấp sơ thẩm xác định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với bà Thu, buộc vợ chồng bà Anh trả nợ gốc lẫn lãi cho bà Thu, tuyên giao dịch giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là vô hiệu và phong tỏa nhà, đất của bà Anh, ông Học để thực hiện nghĩa
vụ đối với bà Thu
B CÂU HỎI THẢO LUẬN
* Đối với vụ việc thứ nhất
1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?
Trên cơ sở Điều 124 BLDS 2015 có giải thích giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch dân sự “nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác” Có thể hiểu giả tạo trong xác lập giao dịch là giao dịch mà ý chí được biểu đạt ra ngoài khác với ý chí đích thực và có tồn tại sự khác biệt giữa kết quả thực tế đã thực hiện giao dịch so với mục đích của giao dịch dân sự được xác lập
2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?
Đoạn cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng là: “Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng
Trang 10Hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng.”
Các bên xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu cho việc nguyên đơn cho
bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng
3 Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu
Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu là: Tòa án áp dụng Điều 124 BLDS 2015 về Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, tuyên bố hợp đồng giả tạo chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa nguyên đơn và bị đơn theo hình thức “giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
là vô hiệu do giả tạo còn hợp đồng bị che giấu là hợp đồng vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực
4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.
Hướng giải quyết của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che dấu là hợp lí
Quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự 2015 thì “Khi các bên xác lập giao dịch dân
sự một cách giả tạo nhằm che dấu cho một giao dịch dân sự khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch dân
sự đó cúng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này” Theo quy định trên thì hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thúy và bà Trang xác lập vào ngày 23/11/2013 là vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng vẫn có hiệu lực Tòa án giải quyết như vậy sẽ bảo đảm được quyền lợi cho nguyên đơn
* Đối với vụ việc thứ hai
5 Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?
Theo Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà Anh thừa nhận nợ bà Thu là 3,1 tỷ đồng, sau đó cam kết chuyển nhượng đất cho bà Thu nhưng bà Anh lại không thực hiện cam kết với bà Thu mà lại đi chuyển nhượng đất trên cho vợ chồng ông Vượng với giá 680 triệu đồng Trong khi giá nhà đất thực tế là gần 5,6
tỷ đồng và các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng
6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?
Hướng giải quyết của Tòa án là hoàn toàn hợp lý Trên cơ sở của Điều 124 Bộ luật
dân sự 2015: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che