TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THỨ NĂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG MÔN HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG GIẢNG VIÊN Th S Lê Thanh Hà L[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
PHẠM HỢP ĐỒNG MÔN: HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG GIẢNG VIÊN: Th.S Lê Thanh Hà LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
5 Nguyễn Liễu Quỳnh Như 2153801015199
6 Nguyễn Thị Ngọc Quyền 2153801015212
NỘI DUNG THẢO LUẬN
Học viên, sinh viên tập trung thảo luận vấn đề sau:
Trang 2I VẤN ĐỀ 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG GÂY RA
A TÓM TẮT:
Tình huống: Ông Lại (bác sỹ chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ) và bà Nguyễn
thỏa thuận phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu: Lấy túi ngực ra, Thâu nhỏ ngực lại, Bỏtúi nhỏ vào, Không được đụng đến núm vú Ba ngày sau phẫu thuật, bà Nguyễnphát hiện thấy núm vú bên phải sưng lên, đau nhức và đen như than Qua 10 ngày,vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ, nhìn thấy cả túi nước đặt bên trong và ông Lại tiếnhành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ bên tay phải chữ T lại hở một lỗ bằngngón tay, nước dịch tuôn ướt đẫm cả người Sau đó ông Lại mổ lấy túi nước ra vàmay lại lỗ hổng và thực tế bà Nguyễn mất núm vú phải
B CÂU HỎI THẢO LUẬN:
1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS
2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
- Căn cứ theo phát trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật
Việt Nam: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình gây ra cho phía bên kia tương ứng với mức độ lỗi của mình” 1
- Trong pháp luật Việt Nam, các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong hợp đồng bao gồm:
+ Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự (Điều 302 BLDS 2005)
+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 307 BLDS 2005)
+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 360 BLDS 2015)+ Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 316 BLDS 2015)
- Những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ trách nhiệmphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
+ Điều 360 BLDS 2015 có nêu rõ hơn so với nội dung của BLDS 2005: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
1 Trường Đại học Luật Tp HCM, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức
Trang 3=> Yếu tố thiệt hại được xác định rõ và được nhắc đến với cụm từ “có thiệt hại”,
hướng sửa đổi nêu trên thuyết phục và phù hợp với thực tiễn để giải quyết tranhchấp về bồi thường thiệt hại
+ Điều 307 BLDS 2005 đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạmnghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, quy định vừa nêu trên không đưa ra và chưa làm rõ
về căn cứ phát sinh nghĩa vụ mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm gồm: tráchnhiệm bồi thường về vật chất và trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần
Từ đó, BLDS 2015 đã bổ sung thêm Điều 360 với tiêu đề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ” Điều 360 BLDS 2015 có nêu rõ hơn so với nội dung của BLDS 2005: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
+ Theo khoản 1 Điều 308 BLDS 2005 quy định để phát sinh trách nhiệm dân sựthì người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phải có lỗi Còn đối với BLDS 2015 đã không còn yếu tố lỗi nữa, trừ trường hợp luật cóquy định khác
2 Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ chưa? Vì sao?
- Trong tình huống trên không có xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà
Nguyễn Căn cứ theo Đoạn 1 Khoản 3 Điều 33 BLDS 2015: “Việc gây mê,
mổ, cắt bỏ, cây ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện".
Trong trường hợp này, bà Nguyễn và ông Lại đã có thỏa thuận phẫu thuật với
sự đồng ý của bà Nguyễn nên không có việc bà Nguyễn bị xâm hại tới yếu tốnhân thân
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố: có hành vi viphạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và hành vi vi phạm hợp đồng là nguyênnhân trực tiếp gây ra thiệt hại Trong hợp đồng thỏa thuận giữa ông Lại và bà
Nguyễn có tồn tại 4 yêu cầu, trong đó có một yêu cầu rằng “không được động đến núm vú” Thế nhưng, sau khi phẫu thuật thì núm vú của bà Nguyễn lại bị
chịu ảnh hưởng nhiều nhất Sau 3 ngày phẫu thuật, núm vú bên phải bị đaunhức, sưng lên và đen như than Qua 10 ngày, vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ
Trang 4và phải tiến hành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ bị hở và phải may lại
lỗ hổng Về thiệt hại thực tế thì bà Nguyễn đã bị mất núm vú phải
- Xét thấy những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bàNguyễn đã hội đủ
3 Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Điều 419 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng:
“1 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.”
Điều 360 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Khoản 2 Điều 361 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất
về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.”
Từ những điều trên thì các thiệt hại vật chất do vi phạm hợp đồng được bồithường là tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phụcthiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
4 BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạmhợp đồng
Điều 419 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng:
“1 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
…
3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.”
Điều 360 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
Trang 5“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Điều 361 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
“1 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
…
3 Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”
5 Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Khoản 3 Điều 361 BLDS 2015 “Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”, thiệt hại được bồi thường có thể là tổn thất về tinh thần Khoản 3 Điều 419 “Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc” cũng
ghi nhận khả năng bồi thường tổn thất về tinh thần Điều 361 bàn về bồi thườngthiệt hại tinh thần khi xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc các yếu tốnhân thân khác Chẳng hạn, xâm phạm tới hình ảnh, đời tư Tuy nhiên, để ápdụng Điều 361 thì phải chứng minh thêm là có việc xâm phạm các yếu tố nhânthân Ông Lại vi phạm hợp đồng Cho nên, Điều 361 không thể áp dụng ở đây.Nhưng trên thực tế thì bà Nguyên bị mất núm vú phải điều này làm ảnh hưởngđến sức khỏe, thân thể bà Nguyên Trong lĩnh vực hợp đồng trước đây không có
“tổn thất tinh thần” Có những trường hợp hợp đồng có thể mang lại lợi ích tinhthần Ở Khoản 3 Điều 419 không yêu cầu xâm phạm tới các yếu tố nhân thân màchỉ đòi hỏi vi phạm hợp đồng => Hai Điều luật bổ sung cho nhau Vì thế bàNguyên sẽ được bồi thường tổn thất về tinh thần nếu có yêu cầu
II VẤN ĐỀ 2: PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG
A TÓM TẮT:
Bản án số 121/2011/KDTM-PT ngày 26/12/2011 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh:
Trang 6Nguyên đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Tân Việt (Công tyTân Việt)
Bị đơn: Công ty TNHH Tường Long (Công ty Tường Long)
Nội dung:
Công ty Tân Việt và Công ty Tường Long ký với nhau Hợp đồng số 01-10/TL-TVngày 01/10/2010 và phụ lục hợp đồng ngày 7/10/2010 để mua vải thành phẩm.Ngay sau ký hợp đồng, Công ty Tân Việt đã thanh toán trước 30% đơn hàng, gọi
là tiền đặt cọc; thanh toán 40% giá trị đơn hàng ngay sau khi bên Công ty TườngLong giao hàng hoàn tất và thanh toán 30% còn lại trong vòng 30 ngày kể từ ngàythanh toán cuối Ngày 3/12/2010, Công ty Tường Long gửi thông báo hủy hợpđồng trên với lý do khách quan; trước đó Công ty có xin lùi thời hạn giao cũngnhư nhờ sự giúp đỡ của Công Ty Tân Việt nhưng không thành
Tòa sơ thẩm cho rằng việc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 102.849.640 đồng(tiền phạt do hủy bỏ hợp đồng) là có cơ sở Tuy nhiên, yêu cầu về tiền phạt cọccủa nguyên đơn thì tòa sơ thẩm không chấp nhận Tòa phúc thẩm có cùng quanđiểm và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
Quyết định số 10/2020/KDTM-GĐT ngày 14/8/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn (Công ty Yến Sào)
Bị đơn: Công ty Cổ phần Yến Việt (Công ty Yến Việt)
Nội dung:
Tháng 10/2010, 2 bên ký với nhau Hợp đồng nguyên tắc số 02/HĐ NT về việc
“phân phối độc quyền ra phía Bắc” Theo đó, Công ty Yến Việt đồng ý cho Công
ty Yến Sào là nhà phân phối độc quyền cho sản phẩm mang nhãn hiệu Công tyYến Việt trong thời hạn 10 năm tại khu vực phía Bắc từ Nghệ An trở ra Công tyYến Sào khởi kiện vì cho rằng việc Công ty Yến Việt lập chi nhánh tại Hà Nội vàthiết lập các cửa hàng phân phối ở khu vực miền Bắc là gây ra tổn thất nghiêmtrọng cho Công ty Vì vậy, Công ty Yến Sào đề nghị Tòa án phải buộc Công tyYến Việt bồi thường do vi phạm Hợp đồng nguyên tắc số 02/HĐNT; bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng; hoàn trả số tiền mà Công ty Yến Sào ứng trước tiền đặthàng và yêu cầu Công ty Yến Việt chấm dứt các hoạt động phân phối sản phẩm từyến mang nhãn hiệu Yến Việt tại thị trường phía Bắc
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy Quyết định giámđốc thẩm số 12/2019/KDTM-GĐT ngày 9/5/2019; hủy Bản án phúc thẩm số01/2017/KDTM-PT ngày 11/4/2017; hủy Bản án sơ thẩm số 06/KDTM-ST ngày
Trang 77/9/2016 và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang - ThápChàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.
B CÂU HỎI THẢO LUẬN:
Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng.
Khoản 2 Điều 422 BLDS 2005 quy định:
“2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận”.
Khoản 2 Điều 418 BLDS 2015 lại quy định như sau:
“2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”.
Như vậy, có thể thấy theo quy định tại Khoản 2 Điều 418 BLDS 2015 thì mức
phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, bổ sung cụm từ “trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” Sở dĩ bổ sung cụm từ này là vì hiện nay ngoài BLDS
2015, thì vẫn có các quy định khác về mức phạt như Luật Thương mại, Luật Xâydựng Về nguyên tắc các bên có quyền tự do định đoạt mức phạt vi phạm tronghợp đồng, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Quy định này bảo đảmquyền tự do hợp đồng của các bên tham gia ký kết, đề cao ý chí của các bên và đòihỏi các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có ý thức trách nhiệm về việc thực hiệnhợp đồng của mình
Khoản 3 Điều 422 BLDS 2005:
“3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt
vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm”.
Khoản 3 Điều 418 BLDS 2015:
“3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.
Trang 8BLDS 2015 bỏ đi quy định “nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” Vấn đề này đã có quy định khác
điều chỉnh, cụ thể là Điều 13 và Điều 360 BLDS 2015
BLDS 2015 theo hướng nếu không có thỏa thuận cụ thể về việc kết hợp bồithường thiệt hại và phạt vi phạm, thì thỏa thuận phạt vi phạm loại trừ trách nhiệm
bồi thường thiệt hại “Có thỏa thuận về phạt vi phạm mà không có thỏa thuận về sự kết hợp thì chỉ áp dụng phạt vi phạm”.2
* Đối với vụ việc thứ nhất
1 Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng.
Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm bị mất một khoản tiền, không căn cứ vào thiệt hại thực tế
Về hình thức: đều được lập thành văn bản
Về đối tượng: khoản tiền phải nộp cho một bên
2 Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
Khoản tiền trả trước 30% được Tòa xác định là tiền đặt cọc Vì trong bản án cóđoạn:
“Xét thấy, theo Khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thỏa thuận: Ngay sau khi ký hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (Công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do vậy, số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc”.
3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%.
Theo em cách giải quyết của Tòa án là hợp lý
Điều 358 BLDS 2005 quy định:
“1 Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.
Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.
2 - Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb.Hồng
Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ 2), tr.372
Trang 92 Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc
về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Có thể thấy việc đặt cọc ở đây là để đảm bảo thực hiện hợp đồng Qua bản án, tacũng nhận thấy rằng bên nhận đặt cọc là Công ty Tường Long đã thực hiện mộtphần nội dung của hợp đồng “giao lô hàng đầu tiên với số lượng 1.693,3m thànhtiền 70.779.940 đồng” Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, do có sựtác động khách quan nên công ty Tường Long không tiếp tục thực hiện Công tyTường Long cũng đã có công văn đề nghị công ty Tân Việt hỗ trợ, tuy nhiên công
ty Tân Việt không đồng ý Do đó, công ty Tường Long chỉ cần thanh toán chocông ty Tân Việt số tiền phạt 102.849.604 đồng đối với phần hàng chưa giao và sốtiền cọc còn lại 336.140.060 đồng
* Đối với vụ việc thứ hai:
1 Cho biết điểm giống và khác nhau giữa thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng và thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Điểm giống nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
- Được áp dụng đối với các hợp đồng có hiệu lực
- Đều là trách nhiệm pháp lý áp dụng với các chủ thể hợp đồng
- Đều bảo vệ quyền và lợi ích của bên bị vi phạm
- Đều do có hành vi vi phạm của các chủ thể trong hợp đồng
- Đều quan tâm đến yếu tố lỗi của chủ thể hợp đồng
- Đều là các quy định của pháp luật nhằm tác động vào ý thức tôn trọng phápluật
Điểm khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
- Có thỏa thuận giữa các bên
- Không cần có thiệt hại thực
Trang 10- Bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm
- Nhằm bù đắp những lợi ích vật chất bị mất đi của bên vi phạm
- Không cần có thỏa thuận áp dụng
- Theo giá trị thiệt hại thực tế cộng với lợi nhuận trực tiếp nếu không có hành vi vi phạmTính
Theo Tòa án cấp phúc thẩm, thỏa thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định củaTòa án trong Quyết định số 10 là thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng Vì:
Nhận định này của Tòa cấp phúc thẩm đã được ghi nhận tại phần Nội dung vụ án,
đoạn: “Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn có nội dung: yêu cầu Công ty cổ phần Yến Việt bồi thường khoản tiền 10.000.000 đồng do vi phạm Hợp đồng nguyên tắc số 02/HĐNT…”
Trang 11Ở đây việc Tòa phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện do vi phạmhợp đồng của nguyên đơn có thể cho thấy rằng theo quan điểm của tòa thì đây làmột thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng.
3 Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thỏa thuận được nêu tại mục
4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng? Vì sao?
Theo Tòa giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thỏa thuận được nêu tại mục 4phần Nhận định của Tòa án trong Quyết định số 10 là thỏa thuận phạt vi phạm hợpđồng
Quan điểm này của Tòa đã được giải thích: “Theo các Điều 300, 301, 302, 303,
304 Luật Thương mại 2005 thì phạt vi phạm là việc các bên thỏa thuận bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt được xác định trước, nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; còn bồi thường thiệt hại là việc các bên thỏa thuận bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm, nhưng những tổn thất này chưa xác định được tại thời điểm thỏa thuận Các bên thỏa thuận bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm 10.000.000.000 đồng, tức là các bên thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng”
4 Cho biết suy nghĩ của anh chị về hướng xác định nêu trên của Hội đồng thẩm phán?
Theo nhóm em, hướng xác định nêu trên của Hội đồng thẩm phán là đúng với hợpđồng thỏa thuận giữa hai bên và theo quy định pháp luật
Căn cứ theo khoản 1 Điều 422 BLDS 2005, khoản 1 Điều 418 BLDS 2015: “Phạt
vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” Cũng theo quy định tại Điều 300 Luật thương mại 2005: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.
Ta có thể thấy “Khác với bồi thường thiệt hại ở đó không cần có sự thỏa thuận, phạt vi phạm phải được thỏa thuận; trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng không cần có sự thỏa thuận” - Trường Đại học Luật Tp HCM, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-
Hội Luật gia Việt Nam 2017, tr 346