TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN T S Đặng Nguyễn Phương Uyên LỚP QT46B1 NHÓM 4 Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 4 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 4 năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
2 Nguyễn Trương Quang Nhật 2153801015182
Trang 3NỘI DUNG THẢO LUẬN
Nội dung: Công ty Vinausteel kiện bị đơn là Công ty Hưng Yên về việc phía bị đơn
đã chậm trễ trong việc giao hàng dẫn đến tổn thất cho nguyên đơn Nay Công tyVinausteel yêu câu bồi thường thiệt hại do phía Công ty kim khí Hưng Yên gây ra là8.681.106.883đ Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm công ty Hưng Yên phảibồi thường thiệt hại cho công ty Vinausteel Tại bản án kinh doanh thương mại phúcthẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm Yêu cầu tòa án sơ thẩm giải quyết lại vụ ántheo quy định của pháp luật Tại phiên tòa giám đốc thẩm đã xác định ông Mạnh làđại diện hợp pháp của Công ty Hưng Yên để xác định hợp đồng với Công tyVinausteel, đồng thời đưa ra quyết định hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáođối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dântối cao Hà Nội và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại củaTòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giao hồ sơ về cho Tòa án sơ thẩm xét xử sơ thẩmtheo quy định của pháp luật
Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam kiện bị đơn là Công ty cổphần xây dựng 16-Vinaconex Ngày 14/5/2001 Ngân hàng TMCP Công thương đãchối nghiệp xây dựng 4-Công ty Xây dựng số II nay là Công ty cổ phần xây dựng
16 - Vinaconex vay 2 tỷ đồng Nay Xí nghiệp 4 không có khả năng trả nợ nên Ngânhàng đã xử lý phát mại một phần tài sản thế chấp Do Xí nghiệp xây dựng 4 thuộcCông ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex nên Ngân hàng yêu cầu Công ty này phải
có trách nhiệm thanh toán khoản nợ nêu trên và xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh đểthu hồi nợ
Quyết định của các cấp xét xử: Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số1/2008/KDTM-ST ngày 27/10/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An ra quyết địnhCông ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex phải thanh toán cho ông Trần Quốc Toản
Trang 4số tiền là 75.000.000 đồng, hợp đồng bảo lãnh số 2/HĐCT ngày 10/5/2001 giữaNgân hàng và ông Trần Quốc Toản vô hiệu Tại bản án kinh doanh thương mại phúcthẩm số 95/2009/KDTM-PT ngày 07/7/2009 quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm.Tại bản Quyết định giám đốc thẩm số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 quyếtđịnh hủy bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 95/2009/KDTM-PT ngày07/7/2009 và bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2008/KDTM-ST ngày27/10/2008 Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.
B CÂU HỎI THẢO LUẬN:
Trường hợp đại diện hợp lệ:
1 Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS năm 2005) về người đại diện.
Những điểm mới của BLDS 2015 về người đại diện:
Chủ thể của quan hệ đại diện:
a Pháp nhân đại diện
Khoản 1 Điều 139 BLDS 2005 quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi
là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người đượcđại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”
Quy định trên cùng với việc khoản 5 Điều 139 BLDS 2005 quy định “người đạidiện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” (khái niệm chỉ áp dụng cho cá nhân)nên dẫn tới thực tế là Tòa án không thừa nhận khả năng đại diện của pháp nhân khikhông có quy định cụ thể cho phép pháp nhân đại diện người khác
Ngày nay, khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 quy định: “Đại diện là việc cá nhân, phápnhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân,pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giaodịch dân sự” Nội dung này cho thấy pháp nhân hoàn toàn có thể đại diện cho cánhân, pháp nhân khác
b Số người đại diện
BLDS 2005 theo hướng đại diện là việc của “một” người Với quy định này, BLDSkhông bao quát được trường hợp bên đại diện là nhiều người như cha, mẹ đại diệntheo pháp luật cho con chưa thành niên, pháp nhân có thể có nhiều đại diện theopháp luật như Luật Doanh nghiệp quy định Điều này cũng không phù hợp với cácquy định về đồng đại diện được BLDS 2015 ghi nhận một cách minh thị tại khoản 3Điều 141, theo đó “một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặcpháp nhân khác nhau”
BLDS 2015 đã khắc phục được nhược điểm trên và đã thiết kế khái niệm đại diệntại khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 theo hướng đó có thể là một người hay nhiềungười cùng đại diện
Trang 5c Năng lực của người đại diện:
Theo khoản 5 Điều 139 BLDS 2005, “người đại diện phải có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này” Quy địnhvừa nêu có nhược điểm là chỉ quy định về năng lực hành vi dân sự, tức chỉ đề cậptới cá nhân nên không còn phù hợp với BLDS 2015 khi BLDS mới này ghi nhận cảkhả năng đại diện của pháp nhân Chính vì vậy, khoản 3 Điều 134 BLDS 2015 quyđịnh: “trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực hành vidân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện”
Quy định trên còn có điểm mới nữa là chỉ yêu cầu năng lực pháp luật dân sự vànăng lực hành vi dân sự của người đại diện trong “trường pháp luật quy định” nhưtrường hợp yêu cầu người giám hộ - đại diện là cá nhân “phải có năng lực hành vidân sự đầy đủ” (khoản 1 Điều 49 BLDS 2015) Điều đó có nghĩa là nếu không thuộc
“trường hợp pháp luật quy định” thì vấn đề năng lực pháp luật dân sự cũng nhưnăng lực hành vi dân sự không được đặt ra
Phân loại đại diện:
a Đại diện theo pháp luật của cá nhân:
Về các loại đại diện, nếu như BLDS 2005 phân loại dựa vào tiêu chí căn cứ xác lậpquyền (theo pháp luật hay theo ủy quyền) thì BLDS 2015 phân loại dựa vào cả căn
cứ xác lập quyền và chủ thể đại diện Điều 136 BLDS 2015 đã bổ sung trường hợp
“người giám hộ của người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đạidiện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định” vì BLDS 2015 đã quy định mới vềngười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên đã ghi nhận thêm về ngườigiám hộ trong trường hợp này Đồng thời, BLDS 2015 đã bổ sung quy định: người
do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy địnhtại khoản 1 và khoản 2 Điều này
b Đại diện theo pháp luật của pháp nhân:
Điều 137 BLDS 2015 quy định về đại diện theo pháp luật của pháp nhân Ở đây,BLDS 2015 đã bổ sung một trường hợp mới là “người do Tòa án chỉ định trong quátrình tố tụng tại Tòa án” Đồng thời, BLDS 2015 cũng chính thức khẳng định: Mộtpháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật Việc quy định mới này làxuất phát từ thực tiễn hoạt động của pháp nhân (chủ yếu là doanh nghiệp) và để đảmbảo tính thống nhất với các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật Doanhnghiệp 2014
c Đại diện theo ủy quyền:
Điều 138 BLDS 2015 quy định về đại diện theo ủy quyền Điểm thực sự mới củaĐiều luật này chính là nội dung liên quan đến hộ gia đình và tổ hợp tác Đối với hộgia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì thành viên của họ
Trang 6có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thựchiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung.
Ngoài ra, khoản 1 cũng có sự thay đổi Trước đây, khoản 1 Điều 143 quy định
“người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền người khác xác lập,thực hiện giao dịch dân sự” thì ngày này đã được thay bằng “pháp nhân có thể ủyquyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Quy địnhmới này là toàn diện, chính xác hơn: “Chủ thể ủy quyền là pháp nhân chứ khôngphải là người đại diện của pháp nhân”
Tất cả những điểm mới trên về người đại diện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đềuđược bổ sung, thay đổi để phù hợp hơn với các trường hợp thực tế, khát quát hơnđồng thời cũng cục thể hơn để người đọc luật có thể hiểu rõ hơn những quy định vềngười đại diện, giúp cho tranh chấp về người đại diện ít xảy ra hơn, Tòa án xétxuống dễ dàng hơn trong những vụ án tranh chấp có người đại diện, nhất là đối vớichủ thể là pháp nhân
2 Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?
Trong Quyết định số 08, trong phần Xét thấy, Tòa án đã nhận định: “Bởi lẽ, ngày20/11/2006, bà Lê Thị Ngọc Lan có Giấy ủy quyền cho ông Lê Văn Mạnh Phó TổngGiám đốc Công ty kim khí - Hưng Yên được thay mặt Công ty thực hiện các giaodịch kinh tế trong phạm vi ngành nghề kinh doanh (trong thời gian này bà Lê ThịNgọc Lan vẫn là người đại diện theo pháp luật của Công ty kim khí Hưng Yên) nênngày 16/01/2007, ông Mạnh đã đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên ký Hợpđồng mua bán phôi thép số 01/HĐTP/2007 NA-HY với Công ty Vinausteel.”
3 Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm gì với Vinausteel.Trích từ bản án: “Việc ông Lê Văn Mạnh có Bản cam kết vào ngày 01/4/2007 “xinchịu trách nhiệm trước pháp luật và xin cam kết nhận trách nhiệm trả cho Công ty
và các bên thứ ba (trong đó có Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel) tất cảcác khoản nợ và bồi thường thiệt hại phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng” mà ôngMạnh đã ký trước hoặc từ các giao dịch, hợp đồng của Công ty được ký kết trước
đó Tuy nhiên, Công ty Vinausteel không tham gia ký kết, không đồng ý nên khôngthuộc trường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 315
Bộ luật dân sự năm 2005”
4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?)
Trang 7Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh là thuyếtphục.
Tuy không có quy định cụ thể trong BLDS nhưng Tòa giám đốc thảm đã theohướng ông Mạnh, với tư cách là người đại diện, không phải chịu trách nhiệm vềgiao dịch dân sự được lập một cách hợp lệ Đây là hướng giải quyết hợp lý vì: ông
Lê Văn Mạnh được bà Lê Thị Ngọc Lan ủy quyền làm đại diện cho công ty kim khíHưng Yên để ký kết hợp đồng mua bán với Công ty Vinausteel trong giai đoạn bànày vẫn giữ chức vụ Tổng Giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên Theo khoản 1Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì "Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cảnhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự" Việc ủy quyền đại diệncho một cá nhân hay một pháp nhân khác chỉ nhằm mục đích "xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự" Bên cạnh đó, chỉ trong trường hợp người đại diện “xác lập, thựchiện vượt quá phạm vi đại diện" theo Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ngườiđại diện mới "phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phầngiao dịch vượt quá phạm vi đại diện", hoặc "phải chịu trách nhiệm liên đới bồithường thiệt hại" Trong bản án nêu ra, ông Lê Văn Mạnh được ủy quyền thay bà LêThị Ngọc Lan đại diện Công ty đối với "giao dịch dân sự, kinh tế và thương mạitrong phạm vi ngành kinh doanh của Công ty” Ông Lê Văn Mạnh đại diện Công tykim khí Hưng Yên ký kết hợp đồng với Công ty Vinausteel không có phát sinh vềvấn đề vượt quá phạm vi đại diện, nên ông Mạnh không thể là người chịu tráchnhiệm đối với việc thanh toán các khoản nợ cho Công ty Vinausteel Đồng thời, bản
án có nhắc đến Bản cam kết mà ông Mạnh đã ký với nội dung thay mặt Công ty kimkhí Hưng Yên nhận trách nhiệm thanh toán, bồi thường các khoản tiền đối với Công
ty Vinausteel Tuy nhiên trong quá trình ông Mạnh ký vào bản cam kết không hề có
sự xác nhận của bên còn lại nên bản cam kết đó không được Tòa án công nhận làhợp pháp Bên cạnh đó, xét theo Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông Mạnhkhông thuộc diện được chuyển giao nghĩa vụ dân sự:
Điều 370 Chuyển giao nghĩa vụ:
“1 Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu đượcbên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên cónghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ
2 Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”.Theo khoản 3 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2014: “Người đại diện theo ủy quyềnchịu trách nhiệm trước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền do vi phạm cácnghĩa vụ quy định tại Điều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền chịutrách nhiệm trước bên thứ ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền vànghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện theo ủy quyền”
Trang 8Như vậy, trách nhiệm giải quyết vấn đề này là của toàn bộ Công ty kim khí HưngYên, còn ông Mạnh không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì đới với Công tyVinausteel Tuy nhiên, ông Mạnh phải chịu trách nhiệm đối với nội bộ Công ty củamình - Công ty kim khí Hưng Yên theo Luật Doanh nghiệp nêu trên.
5 Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
Theo Hội đồng thẩm phán, Công ty khim khí Hưng Yên có trách nhiệm phải bồithường các khoản nợ đối với Vinausteel
Trong phần xét thấy của Quyết định số 08, Hội đồng thẩm phán đã nhận định:
“Ngoài ra, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữ ông LêVăn Dũng và bà Lê Thị Ngọc Lan; việc bà Nguyễn Thị Toàn và ông Lê Văn Dũng
có thỏa thuận với nhau về trách nhiệm thanh toán các khoản nợ cũng như việc ôngMạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty liên doanh sản xuấtthép Vinausteel là việc nội bộ của Công ty kim khí Hưng Yên Do đó, Công ty kimkhí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hạicho Công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh, ông Dũng."
6 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên.
Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên là hợp lý bởivì:
Việc Công ty kim khí Hưng Yên cho rằng việc ông Lê Văn Dũng và ông Lê VănMạnh ký kết thực hiện hợp đồng thế nào Công ty không nắm được là vô lý Vì trongQuyết định có nhắc đến rằng Công ty kim khí Hưng Yên thừa nhận sau khi ký hợpđồng, Công ty Vinausteel đã thực hiện nghĩa vụ chuyển tiền và Công ty kim khíHưng yên đã nhận đủ tiền Cho nên việc Công ty phủ nhận trách nhiệm vì khôngnắm được hợp đồng là không có căn cứ
Ông Mạnh được bà Lan ký giấy ủy quyền cho ông để thực hiện các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại trong phạm vi ngành kinh doanh của Công ty Nên việc ông
ký kết Hợp đồng với Vinausteel là hoàn toàn không vượt quá thẩm quyền của mình,nằm trong phạm vi đại diện thỏa khoản 1 Điều 141 về phạm vi đại diện
Theo khoản 1 Điều 139 quy định về hậu quả pháp lý của hành vi đại diện như sau:
“Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp vớiphạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện” Vìvậy, Công ty kim khí Hưng Yên chịu trách nhiệm với bên thứ ba là Công tyVinausteel
Có thể thấy, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng do người đại diện ký kết trong phạm viđại diện là nghĩa vụ, trách nhiệm của bên được đại diện Nói cách khác, hợp đồng dù
Trang 9do người đại diện ký thì trách nhiệm vẫn thuộc về pháp nhân, và pháp nhân khôngđược từ chối trách nhiệm này.
7 Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.
Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏathuận trọng tài thì thỏa thuận này vẫn có ràng buộc Công ty Hưng Yên
Thứ nhất, vì có thỏa thuận trọng tài trong Hợp đồng nên điều lệ của Công ty HưngYên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Công ty Hưng yên (như tranh chấp phátsinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án
là không được áp dụng Vì theo Luật Trọng tài thương mại 2010: “Trong trường hợpcác bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thìToà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoảthuận trọng tài không thể thực hiện được” Việc Công ty Hưng Yên có điều lệ nhưtrên là quy định của riêng Công ty, không thể áp dụng với một công ty khác được.Thứ hai, theo Điều 19 Luật Trọng tài thương mại nói về tính độc lập của thỏa thuậntrọng tài như sau: “Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc thayđổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện đượckhông làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài” Như vậy, dù thỏa thuận trọng tài
là điều khoản nhỏ hay văn bản đi kèm thì đều tách biệt với hợp đồng được thỏathuận Do đó, Công ty Hưng Yên vẫn phải chịu trách nhiệm cho những phần kháccủa hợp đồng chính, không vì có thỏa thuận trọng tài mà mất đi nghĩa vụ của mình
Trường hợp đại diện không hợp lệ:
1 Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?
Trong Quyết định số 10, đoạn cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàngkhông được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập):
“Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 064CV/XDII.TCKT gửi Chinhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An trong đó có nội dung “đề nghị Ngân hàngCông thương Nghệ An không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ
An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001 ” và
“Các văn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàng Công thương Nghệ
An ban hành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàngvẫn ký Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền”
Trang 102 Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?
Theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex phải chịu trách nhiệm đối với ngân hàng vềhợp đồng trên
Trích từ Quyết định: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty cổphần xây dựng 16 - Vinaconex phải trả khoản tiền nợ gốc và lãi (1.382.040.000đồng) cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là có căn cứ”
Tòa giải thích:
“Khi nhận được tiền, Xí nghiệp xây dựng 4 đã mua máy móc phục vụ công việcđược Công ty giao và “cứ 6 tháng Xí nghiệp có báo cáo tài chính một lần” nên Bangiám đốc Công ty đều biết việc vay vốn Ngân hàng của Xí nghiệp xây dựng 4 vàkhông phản đối Hơn nữa, ngày 28/10/2002, Công ty xây dựng số II Nghệ An cóCông văn số 44 QĐ/CTII điều chuyển một số máy móc, phương tiện vận tải của Xínghiệp xây dựng 4 (trong đó có một số thiết bị, máy móc hình thành từ vốn vayNgân hàng theo hợp đồng tín dụng trên) về văn phòng cơ quan để phục vụ thi côngmột số công trình do Công ty thực hiện
Mặt khác, ngày 29/10/2004, Công ty cổ phần xây dựng 16 - Vinaconex có văn bản(thư xác nhận số dư) yêu cầu Ngân hàng Công thương Nghệ An xác nhận công nợcủa Xí nghiệp xây dựng 4 Công ty xây dựng số II Nghệ An tính đến ngày30/6/2004; Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An đã xác nhận vào Thư xácnhận dư nợ: Xí nghiệp xây dựng 4 còn nợ 1.731.000.000 đồng
Như vậy, sau khi Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền Ngân hàng, Công ty xây dựng số IINghệ An biết và không phản đối nên Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay là Công
ty cổ phần xây dựng 16 - Vinaconex) phải chịu trách nhiệm trả khoản nợ này”
3 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm
Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý
Trích khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 về hậu quả của giao dịch dân sự do ngườikhông có quyền đại diện xác lập, thực hiện:
“1 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện khônglàm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trườnghợp sau đây:
a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặckhông thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không
có quyền đại diện”
Trang 11Thứ nhất, việc Giám đốc Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay là Công ty cổ phầnxây dựng 16 - Vinaconex) nói Công ty không chịu trách nhiệm vì Ngân hàng chovay vốn sai nguyên tắc thì phải tự chịu trách nhiệm là không có cơ sở Ngày25/02/2001, Tổng giám đốc Công ty xây dựng số II có Văn bản số 23CV/TCT thôngbáo cho Chi nhánh Ngân hàng Công thường Nghệ An (nay là Ngân hàng TMCPCông thương Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An) biết việc Công ty đồng ý cho Xínghiệp xây dựng 4 trực tiếp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ
An Việc Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 06CV/SDII.TCKT ngày06/4/2011 đề nghị Ngân hàng không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty vay vốn khichưa có bảo lãnh sau đó thì vì Ngân hàng không nhận được, nên Ngân hàng khôngbiết là không được cho Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II vay vốn Ngoài ra,bên Công ty cũng không có bằng chứng chứng minh Ngân hàng đã nhận được Côngvăn số 06CV/SDII.TCKT ngày 06/4/2011 nên việc Ngân hàng vẫn tiếp tục ký kếtvới Xí nghiệp xây dựng 4 là việc có thể chấp nhận được, và Công văn số06CV/SDII.TCKT coi như không có Theo điểm a và điểm c khoản 1 Điều 142 nêutrên, Công ty xây dựng số II có quyền và nghĩa vụ đối với giao dịch với Ngân hàng
do đã công nhân giao dịch này
Thứ hai, “cứ 6 tháng Xí nghiệp có báo cáo tài chính một lần” nên sau khi Xí nghiệp
4 nhận được tiền, Ban giám đốc Công ty đều biết việc Xí nghiệp vay vốn và không
hề phản đối Ngoài ra, Công ty xây dựng số II có văn bản yêu cầu Ngân hàng xácnhận công nợ của Xí nghiệp xây dựng 4 Điều này cho thấy Ban giám đốc Công tyxây dựng số II đều biết và không hề phản đối việc Xí nghiệp xây dựng 4 vay vốn
Do đó theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 đã được nêu ở trên, Công ty xâydựng số II phải có trách nhiệm đối với giao dịch giữa Xí nghiệp xây dựng 4 và Ngânhàng
4 Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?
- Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàngphản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không
có quyền đại diện) thì:
+Nếu Công ty Vinaconex đồng ý hoặc biết mà không phản đối hợp đồng thì giaodịch do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện làm phát sinh quyền,nghĩa vụ của Vinaconex Vì căn cứ vào khoản 1 Điều 145 BLDS 2005 quy định:
thực hiện
Trang 121 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làmphát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đạidiện hoặc người được đại diện đồng ý Người đã giao dịch với người không cóquyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện củangười đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thìgiao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện,nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thựchiện nghĩa vụ đối với người đãgiao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việckhông có quyền đại diện”.
+ Nếu Công ty Vinaconex không đồng ý hợp đồng thì giao dịch do người đại diệnVinaconex không có quyền đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ củaVinaconex và người đại diện đó phải có nghĩa vụ bồi thường cho Ngân hàng Vì căn
cứ khoản 2 Điều 145 BLDS 2005 quy định:
thực hiện
Nguyên đơn: Bà Cao Thị Xã
Bị đơn: Chị Võ Thị Thu Hương, Anh Nguyễn Quốc Chính
Bà Xê kết hôn với ông Võ Văn Lưu năm 1996, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vàkhông có con chung, nhưng trước đó ông Lưu đã kết hôn với bà Thẩm năm 1964.Trước khi chết, ông Lưu để lại di chúc để lại toàn bộ di sản cho bà Xê Bản án dân
sự sơ thẩm số 59/2005/DSST đã chấp nhận yêu cầu kiện chị Hương và anh Chínhcủa bà Xê, cho bả được hưởng toàn bộ di sản do ông Lưu để lại theo di chúc Thếnhưng tại Quyết định số 208/2008/KN-DS, Toà nhận định di chúc của ông là khôngđảm bảo quyền lợi của bả Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu Hôn nhân giữa ôngLưu và bả Xê là trái với quy định của pháp luật Bà Thẩm không được hưởng 2/3 kỷphần thừa kế theo quy định của pháp luật là không đúng Hội đồng Giám đốc thẩmquyết định huỷ bỏ bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm, giao lại hồ sơ vụ án giảiquyết theo đúng quy định của pháp luật
Trang 13 Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: bà Phạm Thị Ơn
và vì là gia công có công nên bà đã xin lại được căn nhà và đất bị trưng dụng Bịđơn không chấp nhận trả lại và yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụngđất Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyếtđịnh hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và giao lại cho Tòa án xét xử sơ thẩm lại
Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Khót; ông An Văn Tâm
Bị đơn: ông Nguyễn Tài Nhật
Cụ Nguyễn Thị Khánh có ba người con là bà Nguyễn Thị Khót, ông An Văn Tâm(con chung với cụ An Văn Lầm chết năm 1938) và ông Nguyễn Tài Nhật (conchung với cụ Nguyễn Tài Ngọt chết năm 1973) Năm 2000 cụ Khánh chết để lạitoàn bộ di sản cho ông Nguyễn Tài Nhật, tại thời điểm cụ Khánh chết thì cụ Khót đã
72 tuổi già yếu không còn khả năng lao động và cụ Tâm cũng đã 68 tuổi, là thươngbinh hạng 2/4, không có khả năng lao động Vì vậy bà Khót và ông Tâm yêu cầuđược hưởng thừa kế của cụ Khánh theo quy định của pháp luật về người thừa kếkhông thuộc nội dung của di chúc
Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Vũ, Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Bà Nguyễn ThịKim Dung
Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Vân
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim Thu, Ông NguyễnHồng Vi, Bà Trần Thị Tám
Trang 14Nội dung: Cụ Nguyễn Văn Phúc và cụ Phạm Thị Thịnh có 6 người con là các ôngbà: Nguyễn Hồng Vũ, Nguyễn Thị Kim Oanh, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thị KimDung, Nguyễn Thị Kim Thu, Nguyễn Hồng Vi (định cư tại Đức) Cụ Phúc chết năm
1999 không để lại di chúc nhưng có nguyện ý bán nhà, đất tại 708 đường Ngô Gia
Tự và chia cho con trai mỗi người 100.000.000đ, con gái mỗi người 30.000.000đ.Sau khi cụ mất, vì một số lý do mà bà Oanh, bà Thu, bà Dung đã nhận 30.000.000đ
từ ông Vân và viết giấy xác nhận không đòi hỏi gì về nhà đất trên Cụ Thịnh chếtnăm 2007, để lại di chúc đề ngày 08/5/2006 để lại phần tài sản của cụ là ½ căn nhàvới diện tích 71m2 và một phần đất cụ được hưởng của cụ Phúc cho ông Vân Bản
di chúc này do cụ Thịnh tự viết và ký tên trong trạng thái minh mẫn và được tòa áncác cấp xác định là hợp pháp Qua quá trình xét xử, tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầuđòi chia thừa kế của bà Oanh và bà Dung, không chấp nhận yêu đòi đòi chia bằnghiện vật (nhà và đất ở) của ông Vũ, giao cho vợ chồng ông Vân quyền sử dụng nhà,đất nhưng phải trả kỷ phần thừa kế cho ông Nguyễn Hồng Vi là 150.000.000đ, trảcho ông Nguyễn Hồng Vũ 110.000.000đ Tòa Án cấp sơ thẩm sửa một phần bản án
sơ thẩm ở chỗ chấp nhận yêu cầu đòi chia thừa kế của bà Oanh, bà Dung Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định Tòa án các cấp chưa thẩm định và đođạc hiện trạng đất tranh chấp mà phân chia di sản là không chính xác Đồng thời,Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông Vân có công chăm sóc cha mẹ và công quản lý
di sản, ông Vi có công lớn trong việc nuôi dưỡng cha mẹ (gửi tiền cho cha mẹ đểkhông phải bán nhà), nhưng không xác định rõ công sức chăm sóc cha mẹ và quản
lý di sản mà ông Vân, ông Vi được hưởng là bao nhiêu để đối trừ, số tiền còn lạimới chia cho các đồng thừa kế là chưa hợp tình, hợp lý Vì các lẽ trên, căn cứ khoản
3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự, toà án quyết định huỷ bản ándân sự phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án lại cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơthẩm lại Khi đó toà án cấp sơ thẩm cần xác định chính xác diện tích đất tranh chấp
và tiến hành định giá đất theo giá thị trường
Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP.
Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn Hởi, bà Nguyễn Thị Hồng Vân, ông Huỳnh CôngLĩnh, bà Trần Thị Bông Thành
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Yue Da Mining Limited
Nội dung tranh chấp: bên nguyên đơn Yue Da Mining Limited yêu cầu xử lý tài sảnđảm bảo đã ký với với bị đơn là ông Nguyễn Văn Hởi, bà Nguyễn Thị Hồng Vân,
bà Trần Thị Bông Thành Phán quyết trọng tài quyết định bên bị đơn phải chịunghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho nguyên đơn cùng một số quyết định khác Các
bị đơn đã yêu cầu hủy phán quyết trên Hội đồng xem xét các lý do mà người yêu
Trang 15cầu hủy phán quyết Bị đơn phải chịu nghĩa vụ liên đới thanh toán số nợ của ôngĐịnh nhưng lại cho rằng đã hết thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản Hộiđồng nhận thấy do giữa nguyên đơn và các bên liên quan đã gia hạn nghĩa vụ thanhtoán, đây được cho là lý do khách quan nên thời hiệu yêu cầu vẫn còn Hội đồng cònnhận thấy mặc dù bên bị đơn chưa làm thủ tục khai nhận di sản nhưng vì pháp luậtkhông có quy định người thừa kế phải làm thủ tục khai nhận di sản thì mới đủ điềukiện giải quyết tranh chấp nên đã bác bỏ lý do yêu cầu hủy phán quyết trọng tài củangười yêu cầu và ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp trên.
B CÂU HỎI THẢO LUẬN:
Hình thức sở hữu tài sản
1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sở hữu tài sản.
Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sỡ hữu tài sản:
1 Từ 6 hình thức sỡ hữu tài sản (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,
sở hữu chung, sở hữu của các tổ chức chính trị xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp), BLDS 2015 rútlại còn 3 hình thức sở hữu tài sản (sở hữu toàn dân, sở hữu riêng, sở hữu chung) Việc rút gọn này thực chất là gộp 4 loại sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu chung, sởhữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghềnghiệp và sở hữu của cá tổ chức chính trị xã hội lại thành một
Điều này giúp giản lược bộ luật và tránh sự trùng lặp một phần ý của ba loại sở hữunày
1 Sở hữu toàn dân
- Điểm mới đầu tiên của BLDS 2015 về sở hữu toàn dân là tên tiểu mục này Từ “sởhữu nhà nước” (BLDS 2005) đổi thành “sở hữu toàn dân” (BLDS 2015) Điều nàyphù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013 là tôn trọng người dân của đất nước (vídụ: tất cả chữ “Nhân dân” đều được viết hoa chữ “N”)
- Sở hữu toàn dân: Điều 197 của BLDS 2015 thay đổi định nghĩa về tài sản thuộc sởhữu toàn dân so với Điều 200 BLDS 2005 theo Hiến pháp 2013: “Đất đai, tàinguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyênthiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”
- Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp:Điều 200 BLDS 2015 bỏ đi giới hạn quyền sở hữu của Nhà nước là chỉ trong
“doanh nghiệp nhà nước” của Điều 203 BLDS 2015 thành “doanh nghiệp”:
“Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước
thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật vềdoanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tạidoanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”
Trang 16- Quyền của cá nhân, pháp nhân đối với việc sử dụng, khai thác tài sản thuộc sở hữutoàn dân: Điều 203 BLDS 2015 bỏ đi điều kiện “trong trường hợp pháp luật cóquy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép” của Điều 206 BLDS
2005 Đồng thời, cũng không quy định thêm điều kiện nào trong việc sử dụng,
khai thác này: “Cá nhân, pháp nhân được sử dụng đất, khai thác nguồn lợi thủy
sản, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản khác thuộc sở hữu toàn dân đúng mụcđích, có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định củapháp luật”
2 Sỡ hữu riêng
- Điểm mới đầu tiên của BLDS 2015 về sở hữu riêng là tên tiểu mục này Từ “sởhữu tư nhân” (BLDS 2005) đổi thành “sở hữu riêng” (BLDS 2015)
- Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng: được gộp Điều 211 về sở hữu tư nhân
và Điều 212 về tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân của BLDS 2005 thành Điều
205 của BLDS 2015
3 Sở hữu chung
- Là sở hữu được gộp 4 loại sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu chung, sở hữu của tổchức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
và sở hữu của cá tổ chức chính trị xã hội lại thành một
- Sở hữu chung của cộng đồng: xác định rõ tài sản chung của công đồng là tài sản
chung hợp nhất không phân chia (Điều 211 BLDS 2015)
- Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình: được BLDS 2015 thêm như mộtđiều luật mới (Điều 212 BLDS 2015) so với BLDS 2005
- Sở hữu chung của vợ chồng: Tại Điều 213 BLDS 2015 được thêm một khoản mới
so với BLDS 2005 như sau: “Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này”.
- Định đoạt tài sản chung: Điều 218 BLDS 2015 có một số thay đổi so với Điều 223BLDS 2005 như sau:
o Bỏ “theo quy định của pháp luật” đối với quyền định đoạt của mỗi chủ sở hữu:
“Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình” (khoản 1 Điều 218 BLDS 2015).
o Ở khoản 3 điều này, thêm ý: “Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản
và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung”.
o Thêm hai trường hợp từ bỏ quyền sở hữu thành hai khoản mới:
“5 Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.
6 Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều
228 của Bộ luật này”.
Trang 17- Chia tài sản thuộc sở hữu chung: Khoản 1 Điều 219 BLDS 2015 thêm ý “trừ
trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác” so với Điều 224 BLDS
2005: “Trường hợp sỡ hữu chung…bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác”.
Điều này thể hiện sự tôn trọng đối với các chủ thể
2 Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?
Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhânvới bà Thẩm
Phần Xét thấy của Quyết định 377 nói rõ: “Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ôngLưu và bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợp pháp và vẫn đang tồn tại theo quy địnhcủa pháp luật, còn quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê là vi phạm pháp luật.Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giangđược ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm”
3 Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà, không phải sởhữu riêng của ông Lưu
Trích từ phần Nhận thấy của bản án: “Còn bà Thẩm cho rằng căn nhà số 150/6A LýThường Kiệt trên diện tích 101 m2 đất là tài sản chung vợ chồng bà nên không nhấttrí theo yêu cầu của bà Xê Bà đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật để bà đượchưởng thừa kế tài sản của ông Lưu cùng với chị Hương”
4 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên không thuộc sở hữu chungcủa ông Lưu, bà Thẩm mà chỉ thuộc sở hữu riêng của ông Lưu
Theo như Tòa: “Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho,tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bàThẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và căn nhàđược tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tếcũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyềnđịnh đoạt đối với căn nhà nêu trên.”
5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?
Theo em, giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là chưa hợp lý
Trang 18Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chungcủa vợ chồng:
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhậphợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng chochung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợchồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”
Ở đây, Tòa không công nhận căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt là tài sản chung docăn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông Lưu khi ông vào miền Nam đicông tác và bà Thẩm không góp công sức, kinh tế cùng với ông Lưu
Tuy nhiên, thứ nhất, ông Lưu và bà Thẩm là vợ chồng hợp pháp (Ông Võ Văn Lưu
và bà Nguyễn Thị Thẩm kết hôn ngày 26-10-1964 trên cơ sở tự nguyện, có đăng kýkết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thảo, tỉnh Phú Thọ)
Thứ hai, theo như điều luật đã nêu trên, tài sản chung của vợ chồng có bao gồm thunhập hợp pháp Do đó, mặc dù thu nhập đó là do ông Lưu làm ra nhưng vẫn là tàisản chung của hai vợ chồng ông Lưu bà Thẩm về mặt pháp luật Điều đó cũng cónghĩa là phần tiền dùng để tạo lập căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt cũng là tàisản chung của vợ chồng ông Lưu, bà Thẩm Vì vậy, cũng theo điều luật trích dẫnphía trên, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chungcủa vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng choriêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng, căn nhà là của chung vợchồng ông Lưu, bà Thẩm
Ngoài ra, trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng có nói: “vợ, chồng bình đẳng vớinhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sảnchung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.Nghĩa là, mặc dù tiền do ông Lưu làm ra nhưng vẫn là tài sản chung của hai vợchồng ông Lưu bà Thẩm, không cần biết bà Thẩm có hay không làm ra tiền và gópvốn xây dựng nhà
Như vậy, căn nhà trên không phải là tài sản riêng của ông Lưu và việc Tòa xác địnhcăn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt là tài sản riêng của ông Lưu là không có căn cứhợp lý, không đúng theo quy định của pháp luật
6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể
di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.
Trang 19Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu không thể dichúc định đoạt toàn bộ căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt.
Theo luật, vợ chồng có quyền định đoạt ngang nhau đối với tài sản chung của vợchồng Căn cứ theo khoản 2 Điều 213 BLDS 2015 về sở hữu chung của vợ chồng:
“Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhautrong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” Do đó trong trường hợpnày, ông Lưu chỉ có quyền di chúc định đoạt ½ căn nhà trên thôi, ½ còn lại của cănnhà là thuộc về bà Thẩm
Diện thừa kế
1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao?
Bà Thẩm kết hôn với ông Lưu trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND
xã, là hôn nhân hợp pháp và có con chung là chị Hương nên bà Thẩm và chị Hươngthuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu Bà Xê kết hôn với ông Lưu vào ngày21/10/1996 là hôn nhân không hợp pháp vì theo Nghị quyết 02/HĐTP-TANDTCngày 19/10/1990 quy định, nếu một người có nhiều vợ mà tất cả những cuộc hônnhân đã được tiến hành trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam thì khi người chồng chếttrước, tất cả những người vợ nếu còn sống vào thời điểm người chết đều là ngườithừa kế ở hàng thứ nhất của người chồng nên bà Xê không thuộc hàng thừa kế thứnhất của ông Lưu
2 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?
Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì bà Xê sẽ thuộc hàng thừa kếthứ nhất của ông Lưu vì căn cứ theo Nghị quyết 02/HĐTP-TANDTC ngày19/10/1990 quy định nếu một người có nhiều vợ mà tất cả những cuộc hôn nhân đãđược tiến hành trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam thì khi người chồng chết trước,tất cả những người vợ nếu còn sống vào thời điểm người chết đều là người thừa kế ởhàng thứ nhất của người chồng
3 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?
Chị Hương không được chia di sản của ông Lưu vì ông Lưu có để lại di chúc traotoàn bộ tài sản cho bà Xê và di chúc hợp pháp Chị Hương cũng không thuộc diệncủa Điều 644 BLDS 2015 nên chị Hương không được chia di sản của ông Lưu.Điều 644 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất củamột người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường
Trang 20hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần disản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động
2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sảntheo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sảntheo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”
4 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở khi trả lời.
Căn cứ Điều 614 BLDS 2015 “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế cócác quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Có thể hiểu quyền tài sản là quyền
sở hữu đối với di sản do người chết để lại Như vậy, thời điểm một người thừa kế cóquyền sở hữu đối với di sản do người chết để lại là khi người đó nhận di sản đó.Trong thực tế, người thừa kế được coi là đã nhận di sản đó từ thời điểm hoàn tất thủtục khai nhận di sản tại cơ quan công chứng (trong trường hợp không có tranh chấp)hoặc bản án có hiệu lực của Tòa án (trong trường hợp có tranh chấp về thừa kế)
5 Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao?
Đoạn trong bản án: “Ông Hà chết ngày 12/5/2008 thì bà Lý Thị Ơn là vợ và các conông Hà được thừa kế và nhà đất này đã chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất ở sang cho bà Lý Thị Ơn; ngày 04/3/2011 bà Ơn đã đã được cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” Căn
cứ Điều 611, Điều 614 BLDS 2015 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người cótài sản chết Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại Theo đó, thời điểm ông Hà chết (12/5/2008) sẽ làthời điểm mở thừa kế và khi đó quyền tài sản của người thừa kế được xác lập
Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn
bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê?
Đoạn của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sảncủa ông Lưu cho bà Xê là: “Trước khi chết, ông Lưu có để lại di chúc cho bà đượcquyền sử dụng toàn bộ tài sản gồm nhà cửa đồ dùng trong gia đình nên bà yêu cầuđược thừa kế theo di chúc của ông", "Việc ông Lưu lập văn bản đề là "Di chúc"ngày 27-7-2002 là thể hiện ý chí của ông Lưu để lại tài sản của ông cho bà Xê là cócăn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật."
2 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?
Trang 21Chỉ có bà Thẩm là người thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nộidung của di chúc đối với di sản của ông Lưu bởi vì:
Theo Khoản 1 Điều 644 BLDS 2015:
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất củamột người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trườnghợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần disản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu
Chị Hương sinh năm 1965 thì đến thời điểm ông Lưu mất là 2003 thì chị đã là ngườithành niên và chị cũng không phải là người không có khả năng lao động
Bà Xê thì không phải là vợ hợp pháp của ông Lưu vì khi 2 ông bà làm thủ tục kếthôn thì ông Lưu vẫn còn tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp với bà Thẩm, bên cạnh
đó bà Xê là người được hưởng thừa kế theo di chúc
3 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với disản của ông Lưu bởi:
+ Bà là vợ hợp pháp của ông Lưu
+ Bà có công chăm sóc con khi ông Lưu ở trong miền Nam
Đoạn trong Quyết định cho câu trả lời:
“Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu với bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợppháp và vẫn đang tồn tại theo quy định của pháp luật, còn quan hệ hôn nhân giữaông Lưu và bà Xê là vi phạm pháp luật."
"Mặt khác, trong suốt thời gian từ khi ông Lưu vào miền Nam công tác, bà Thẩm làngười trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ lúc còn nhỏ cho đến khi trưởng thành, khigiải quyết lại cũng cần xem xét đến công sức nuôi con chung của bà Thẩm và trích
từ giá trị khối tài sản của ông Lưu để bù đắp công sức nuôi con chung cho bà Thẩm(nếu bà Thẩm có yêu cầu).”
4 Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao?
Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì được hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu bởi vì theo theo Khoản 1Điều 644 BLDS 2015:
Trang 22“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất củamột người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trườnghợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần disản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Bà Thẩm là vợ hợp pháp cho nên là có khỏe mạnh hay mất khả năng lao động đichăng nữa thì vẫn được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúcđối với di sản
5 Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 đồng triệu thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao?
Bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu nên thuộc hàng thừa kế thứ nhất, tuy di chúcông Lưu để lại toàn bộ tài sản cho bà Xê nhưng theo Điều 644 BLDS 2015 thì bàThẩm phải được hưởng ⅔ suất thừa kế theo pháp luật Mà suất thừa kế theo phápluật của bà Thẩm và chị Hương là 600 triệu/2= 300 triệu, như vậy bà Thẩm sẽ đượchưởng khoản tiền là ⅔ × 300 triệu = 200 triệu
6 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao?
Bà Thẩm không được yêu cầu chia di sản bằng hiện vật, mặc dù bà là vợ hợp pháp,thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quy định tại khoản 2 Điều 660 BLDS 2015:
“2 Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếukhông thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việcđịnh giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận đượcthì hiện vật được bán để chia”
Tuy nhiên không có điều luật cụ thể nào quy định về yêu cầu chia hiện vật củangười hưởng thừa kế không có trong di chúc, nếu bà Thẩm được yêu cầu chia bằnghiện vật thì sẽ trái với ý chí của ông Lưu trong việc để lại tài sản trong di chúc Bêncạnh đó việc chia di sản bằng hiện vật là rất khó, không thể đúng chính xác bằng giátrị mà người được thừa kế hưởng
7 Trong Bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào của bản án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh?
Trong bản án số 2493, đoạn của bản án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật làcon của cụ Khánh: “Cụ Nguyễn Thị Khánh và cụ An Văn Lầm (chết năm 1938) cócon là bà Nguyễn Thị Khót sinh năm 1929, ông An Văn Tâm sinh năm 1932 CụKhánh và cụ Nguyễn Tài Ngọt (chết năm 1973) có 1 con là ông Nguyễn Tài Nhậtsinh năm 1930 Năm 2002 cụ Khánh chết Mặc dù các đương sự không xuất trình
Trang 23được giấy khai sinh một cách đầy đủ nhưng đều thống nhất xác nhận các con của cụKhánh là bà Khót, ông Tâm, ông Nhật”.
8 Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp?
Người được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản tranh chấp là ông Nhật.Trích từ phần Xét thấy của Bản án: “Ngày 30/5/1992 tại Phòng công chứng nhànước số 2, Thành phố Hồ Chí Minh cụ Khánh lập di chúc cho ông Nhật là ngườiduy nhất được quyền thừa kế căn nhà 83 Lương Định Của, phường An Khánh, quận2”
9 Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con đã thành niên của cụ Khánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm là con đã thành niên của cụKhánh Đoạn của bản án cho câu trả lời:
“Xét yêu cầu của ông Tâm, bà Khót về việc được hưởng thừa kế không phụ thuộcvào nội dung của di chúc do không có khả năng lao động vì tại thời điểm mở thừa
kế bà Khót đã 71 tuổi, ông Tâm 68 tuổi lại là thương binh 2/4, thấy tại Điều 140,
145 của Bộ luật lao động năm 1994 quy định độ tuổi lao động của người Việt Nam
là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ”
10 Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Bà Khót và ông Tâm không được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc
Trích từ bản án: “Hội đồng xét xử nhận thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầucủa bà Khót, ông Tâm về người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
di chúc, cụ thể mỗi người được hưởng là 400.000.000 đồng”
Đoạn của bản án cho câu trả lời:
“Bà Khót có gia đình, có tài sản riêng, bản thân bà hàng tháng còn được hưởng chế
độ chính sách của nhà nước theo diện người có công với cách mạng khoảng 400.000đồng; còn ông Tâm tuy là thương binh 2/4, theo quy định thì ông bị suy giảm khảnăng lao động là 62% nhưng ông đã được hưởng chính sách đãi ngộ của nhà nướchàng tháng ông lãnh hơn 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử nhận thấy không có
cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Khót, ông Tâm về người được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung di chúc, cụ thể mỗi người được hưởng là400.000.000 đồng”
11 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý Vì ông Tâm và bà Khót không thuộc trườnghợp của Điều 669 BLDS 2005 (nay là điều 644 BLDS 2015) về người Thừa kế
Trang 24không phụ thuộc vào nội dung di chúc Ông Tâm và bà Khót đã là người thành niên,tại thời điểm mở thừa kế bà Khót đã 71 tuổi, ông Tâm 68 tuổi Cả hai cũng khôngthuộc vào trường hợp người không có khả năng lao động Một trong những trườnghợp để một người được coi là không có khả năng lao động là phải bị mất sức laođộng từ 81% trở lên Bà Khót, ông Tâm mặc dù tuổi cao nhưng bà Khót không bịthương tật gì, hoàn toàn khỏe mạnh, còn ông Tâm mặc dù là thương binh 2/4, theoquy định thì ông bị suy giảm khả năng lao động là 62% nhưng vẫn chưa đủ 81% đểđược coi là người không có khả năng lao động Ngoài ra, hai người có nhận đượcmột khoản tiền trợ cấp, do vậy việc Tòa án không xếp ông Tâm và bà Khót vàotrường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là hợp lý.
12 Hướng giải quyết có khác không khi ông Tâm bị tai nạn mất 85% sức lao động? Vì sao?
Hướng giải quyết sẽ khác đi khi ông Tâm bị tai nạn mất 85% sức lao động Theoluật, những người sau đây được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung dichúc:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động
Tại mục 1.4 Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sựnăm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hướng dẫn như sau:
“1.4 Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động vàcần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng laođộng do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợpkhác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao độngvĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sócngười bị thiệt hại”
Áp dụng tương tự điều này cho trường hợp “không có khả năng lao động” trong lĩnhvực thừa kế Vì ông Tâm đã mất 85% sức lao động do tai nạn, vượt qua 81% đề racủa Nghị quyết nêu trên, nên ông được coi là người không có khả năng lao động.Theo như nội dung Điều 644 BLDS 2015 về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
di chúc, ông Tâm được hưởng 2/3 phần thừa kế
13 Nêu những điểm giống và khác nhau giữa di chúc và tặng cho tài sản
- Giống nhau:
+ Thể hiện ý chí tự do định đoạt của chủ sở hữu
+ Bên sở hữu tài sản chuyển tài sản cho một bên khác mà không cần phải yêu cầuđền bù
- Khác nhau: