TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THÁNG THỨ 2 TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ Thành phố Hồ Chí Minh, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN THÁNG THỨ 2 TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THÁNG THỨ 2: TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 5 năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THÁNG THỨ 2: TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
1 Bùi Võ Thảo Nguyên 2153801015174
2 Nguyễn Trương Quang Nhật 2153801015182
3 Nguyễn Viết Tùng 2153801015227
4 Lê Thị Thu Ngân 2153801015159 Nhóm trưởng
5 Trần Thị Duyên Như 2153801015200
6 Nguyễn Đại Phước 2153801015203
Trang 3NỘI DUNG THẢO LUẬN:
I VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU
CÂU HỎI THẢO LUẬN:
1 Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình thức sở hữu trong BLDS
Có 6 hình thức sở hữu trong BLDS năm 2005 Các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp
Cơ sở pháp lý Điều 172 BLDS năm 2005
2 Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.
Có 3 hình thức sở hữu trong BLDS 2015 Gồm:
- Sở hữu toàn dân (Điều 197 đến Điều 204 BLDS năm 2015)
+ Theo Điều 197 BLDS năm 2015 sở hữu toàn dân là: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”
- Sở hữu riêng (Điều 205 và Điều 206 BLDS năm 2015)
+ Theo Điều 205 BLDS năm 2015 sở hữu riêng là:
“1 Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân
2 Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị” -Sở hữu chung (Điều 207 đến Điều 220 BLDS năm 2015)
+ Theo Điều 207 BLDS năm 2015 sở hữu chung là:
“1 Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản
2 Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất”
3 Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức sở hữu giữa hai Bộ luật trên
- Sở hữu Nhà nước (BLDS năm 2005) – sở hữu toàn dân (BLDS năm 2015): Trong Điều 200 BLDS năm 2005 quy định: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định”
Trang 4Còn BLDS năm 2015 (Điều 197) quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”
Xét thấy hai hình thức này đều được giải thích theo cách giống nhau tuy nhiên việc thay đổi từ sở hữu Nhà nước thành sở hữu toàn dân đã góp phần làm rõ hơn nội dung, bản chất của loại hình sở hữu này
- Sở hữu tư nhân, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể (BLDS năm 2005) – sở hữu riêng (BLDS năm 2015):
Nếu trong BLDS năm 2005, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của tổ chức được phân chia thành các mục khác nhau thì tại BLDS năm 2015, 3 loại hình thức
sở hữu này được gộp thành sở hữu riêng được quy định tại khoản 1 Điều 205 Bộ luật này: “Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân” Việc gộp chung các hình thức lại nhằm tạo sự ngắn gọn, loại bỏ những yếu tố như rườm rà, khó hiểu, gây trở ngại cho việc áp dụng bộ luật
- Sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung (BLDS năm 2005) – sở hữu chung (BLDS năm 2015):
Nếu trong BLDS năm 2005, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể mặc dù vẫn có hình thức thuộc sở hữu chung song lại thuộc mục riêng thì trong BLDS năm 2015, các loại hình trên được gộp thành hình thức sở hữu chung Cũng giống như việc gộp sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của tổ chức thành sở hữu riêng thì việc gộp sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung thành hình thức sở hữu chung nhằm tạo ra sự ngắn gọn, bớt rườm rà, dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật
II VẤN ĐỀ 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
A TÓM TẮT:
Quyết định số 382/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Thu Nga
Bị Đơn: Ông Dương Cẩm Truyền
Ông Bình, bà Như chết có con nuôi là chị Nga Tài sản của ông bà để lại là ngôi nhà 8/7 Nguyễn Trãi Vợ chồng ông Truyền là cháu của ông Bình, bà Như chuyển vào sống chung và được bà Như lập di chúc cho lại căn nhà, di chúc do vợ chồng ông Truyền lập, được bà Như điểm chỉ Bà Kiều là em gái của ông Bình, có cho ông Bình, bà Như mượn 43 lượng vàng 24k, vì vợ chồng ông Bình mất mà chưa thanh toán nên bà Kiều tự ý lấy giấy chứng nhận sở hữu nhà và sử dụng đất của ông Bình, bà Như Bà Phụng và ông Sanh là em của ông Bình, có yêu cầu được chia di sản thừa kế Bà Nga khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Truyền giao trả nhà
Trang 5đất, và bà kiều giao trả giấy hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sở hữu và sử dụng đất của cha mẹ bà
Bản án sơ thẩm quyết định: Buộc vợ chồng ông Truyền giao trả nhà; vợ chồng ông Truyền được lưu cư 6 tháng; buộc bà Kiều phải giao trả hộ khẩu và giấy chứng nhận sử dụng đất và sở hữu nhà; bác yêu cầu của ông Sanh và bà Phụng; bác yêu cầu của bà Kiều về việc bà Nga phải thanh toán 43 lượng vàng 24k cho ông Bình vay
Bản án phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tòa giám đốc thẩm quyết định hủy bản án dân sự sơ thẩm, bản án dân sự phúc thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung
Quyết định số 545/2009/DSGĐT ngày 26/10/2009 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: bà Đỗ Thị Nguyệt và chồng là ông Lê Sơn Thủy
Bị đơn: ba Đỗ Minh Thuyết
Cụ Kiệt (chết ngày 2/5/1998) và cụ Biết (chết ngày 14/1/2001) có 2 người con là
bà Thuyết và bà Nguyệt Hai cụ chết để lại di sản gồm 1 ngôi nhà và 1 vườn cây
ăn trái gắn liền với quyền sử dụng đất 6.278m2 tại huyện Thuận An Ngày 20/9/1997, cụ Biết đã lập tờ Truất quyền hưởng thừa kế của bà Nguyệt cùng chồng
và con nuôi bà Nguyệt đối với những tài sản chung và riêng của cụ Kiệt, cụ Biết di tặng tài sản cho ba cháu ngoại là ông Hùng, bà Diễm và ông Hoàng Ngày 15/9/2000 cụ Biết lại lập di chúc cho vợ chồng bà Nguyệt toàn bộ tài sản trên Ngay 3/1/2001 cụ Biết lập di chúc cho ba Thuyết hưởng toàn bộ tài sản trên Tòa
án Phúc thẩm không công nhận Tờ truất quyền hưởng di sản lập ngày 20/9/1997
và Tờ di chúc lập ngày 15/9/2000 tới các văn bản này không phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản
Quyết định: Chấp nhận kháng nghị số 141 đối với bản án dân sự phúc thẩm số
263/2007/TDS Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 263/2007/TDS Giao hồ sơ vụ án
cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm lại theo quy định pháp luật
B CÂU HỎI THẢO LUẬN:
1 Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì di chúc có giá trị pháp lý không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Khoản 1 Điều 630 BLDS 2015, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,
đe dọa, cưỡng ép;
Trang 6b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật
Theo đó, nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì
di chúc không có giá trị pháp lý
2 Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi lập
di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Tòa phúc thẩm đã quyết định như vậy?
Theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như không trong trạng thái minh mẫn Tòa phúc thẩm quyết định như vậy vì lý do Bệnh xá Công an tỉnh An Giang không có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc
Dẫn chứng cho câu trả lời: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không công nhận di chúc của bà Như lập ngày 1-1-2005 là di chúc hợp pháp vì lý do Bệnh xá Công an tỉnh An Giang không có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc là không có căn cứ”
3 Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?
Trong vụ việc nêu trên, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như
có minh mẫn
Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy vì: ông On, ông Kiếm và ông Hiếu đều
có lời khaixác nhận tại thời điểm bà Như lập di chúc, trạng thái tinh thần của bà Như vui vẻ, minh mẫn Bên cạnh đó, bác sĩ Tăng Diệu Hiền có kết luận tình trạng sức khỏe và tinh thần của bà Như được ghi trong Giấy chứng nhận khám sức khỏe ngày 26/12/2004, trước ngày bà Như lập di chúc 05 ngày không mâu thuẫn với lời khai xác nhận của ông On, ông Kiếm và ông Hiếu
4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý và thuyết phục vì theo Điều 630 BLDS 2015, điều kiện để di chúc hợp pháp là người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc Tòa xét thấy lời khai của những người làm chứng cùng với giấy khám sức khỏe của bác sĩ đều chứng minh bà Như minh mẫn trong lúc lập di chúc nên Tòa giám đốc thẩm đã công nhận di chúc của bà Như là hợp pháp Vì thế mà quyền được để lại di chúc định đoạt tài sản của mình
và quyền thừa kế di sản của những người liên quan được đảm bảo
5 Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập
di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa phúc thẩm đã quyết định như vậy?
Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết không minh mẫn
Trang 7Toà phúc thẩm đã quyết định như vậy vì cho rằng cụ Biết lập di chúc ngày 3/1/2001 đã 84 tuổi, trước đó vào tháng 11, 12 năm 2000 cụ Biết phải nhập viện điều trị với triệu chứng theo chuẩn đoán là “thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp”, cụ Biết lập di chúc ngày 3/1/2001 thì vào ngày 14/1/2001 cụ Biết chết
Do vậy, Toà phúc thẩm cho rằng cụ Biết lập di chúc trong tình trạng thiếu minh mẫn, sáng suốt
6 Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết
có minh mẫn
Toà giám đốc thẩm đã quyết định như vậy vì theo lời khai của ông Lương Văn Dầm và ông Nguyễn Văn Thắng đều xác nhận khi lập di chúc, cụ Biết là người minh mẫn và đọc nội dung di chúc cho ông Thắng viết Mặt khác, ngày 4/1/2001
cụ Biết ký (điểm chỉ) vào hợp đồng cho bà Trần Hoài Mỹ thuê vườn cây với thời hạn 4 năm thì theo lời khai của bà Mỹ thì trước ngày ký hợp đồng 1 tuần, cụ Biết còn gọi bà Mỹ đến để thoả thuận về việc thuê vườn cây và khi cụ Biết điểm chỉ vào hợp đồng thì cụ Biết là người minh mẫn, còn chỉ dẫn cho bà Mỹ cách chăm sóc vườn cây Do đó, có căn cứ xác định cụ Biết là người minh mẫn vào thời điểm lập di chúc
7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm đó là công nhận bản di chúc này là hợp pháp
Vì theo Điểm a, Khoản 1, Điều 630 quy định di chúc hợp pháp khi: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;” Trong trường hợp này cụ Biết hoàn toàn minh mẫn sáng suốt Mặt khác di chúc của cụ Biết là di chúc miệng Theo khoản 5, Điều 630, BLDS 2005 quy định:
“Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước ít nhất là hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Trong trường hợp của cụ Biết thì khi cụ Biết lập di chúc thì có ông Thắng và ông Dầm làm chứng sau đó được cụ Thắng ghi chép lại Sau khi viết xong ông Thắng và ông Dầm kí tên làm chứng vào bản di chúc
Như vậy với những điều kiện thỏa mãn trên thì việc Tòa giám đốc thẩm công nhận
“Tờ di chúc” lập ngày 03/01/2001 là hợp lý
8 Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Điều 646 BLDS 2015 có đề cập về khái niệm di tặng như sau:
Trang 8“1 Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc
2 Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người
để lại di sản chết Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
3 Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”
9 Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
-Di tặng cũng là di chúc Vì vậy, để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện giống như di chúc
- Yêu cầu về nội dung được quy định tại Điều 631 BLDS 2015:
“1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản
2 Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác
3 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa”
- Yêu cầu về hình thức được định từ Điều 633 đến Điều 638, BLDS 2015
10 Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho 3 cháu ngoại là ông Hùng, bả Diễm và ông Hoàng
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Cụ Biết di tặng tài sản riêng và chung cho ba cháu ngoại là ông Hùng, bà Diễm
và ông Hoàng"
11 Di tặng trên có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trang 9Di tặng trên không được Tòa án chấp nhận
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Toà án cấp phúc thẩm không công nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản" lập ngày 20/9/1997 và “Tờ di chúc” ngày 15/9/2000 bởi các văn bản này không phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản là có căn cứ"
12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến di tặng
Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý
- Bởi lẽ căn cứ Khoản 5, Điều 667, BLDS 2005 thì khi một người để lại nhiều bản
di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật Vì vậy chỉ có “Tờ di chúc” lập ngày 03/01/2001 có hiệu lực pháp luật, mà trong tờ di chúc này không có đề cập tới di tặng
- Tuy nhiên, BLDS quy định, người để lại di sản chỉ “dành một phần di sản để di tặng cho người khác" nhưng BLDS không cho biết “một phần di sản” là như thế nào Theo đó, bà Biết đã di tặng toàn bộ di sản của mình và do đó không phù hợp với quy định trên
13 Truất quyền thừa kế là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
- Hiện nay, pháp luật chưa có đưa ra định nghĩa về truất quyền thừa kế Qua các quy định của pháp luật, có thể hiểu truất quyền thừa kế là một người đáng ra được hưởng di sản của người khác để lại nhưng do một số lý do họ không được hưởng
di sản này nữa
- Việc truất quyền thừa kế được người để lại di sản thực hiện thông qua việc lập di chúc, không cần nêu lý do truất quyền thừa kế
- Căn cứ pháp lý: khoản 1 điều 626 Bộ luật dân sự 2015: “Điều 626 Quyền của người lập di chúc Người lập di chúc có quyền sau đây:
1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”
14 Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của ai? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của vợ chồng bà Nguyệt cùng con nuôi của bà Nguyệt
- Đoạn quyết định câu trả lời: Ngoài ra bà Thuyết còn khai như sau: “Ngày 20/09/1997, cụ Biết có lập tờ truất quyền hưởng thừa kế có nội dung: Cụ Biết được cụ Kiệt giao quyền định đoạt tài sản theo tờ ủy quyền 16/07/1997, cụ Biết Truất quyền hưởng thừa kế của bà Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt đối với những tài sản chung và riêng của cụ Kiệt và cụ Biết tại ấp Bình Phước”
15 Truất quyền trên của cụ Biết có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trang 10- Truất quyền thừa kế của cụ Biết không được Tòa án chấp nhận
- Đoạn cho câu trả lời: Trong phần Xét thấy của quyết định: “Tòa án cấp phúc thẩm không công nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản” lập ngày 20/09/1997 và “Tờ
di chúc” ngày 15/09/2000 bởi các văn bản này không phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản là có căn cứ”
16 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến truất quyền thừa kế.
- Hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến truất quyền thừa kế là hợp lý Tòa án cấp phúc thẩm đã thấy “Tờ truất quyền hưởng di sản” không phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản
- Người lập di chúc cũng là người truất quyền hưởng di sản là bà Biết (đúng theo luật định, khoản 1 Điều 626 Bộ luật dân sự 2015: Người lập di chúc có quyền sau đây: Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.)
- Bà Biết truất quyền hưởng di sản của bà Nguyệt là hợp lý vì bà Nguyệt thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật, nếu bị truất quyền thì sẽ không được hưởng Chồng và con nuôi của bà Nguyệt không thuộc diện thừa kế theo pháp luật, nếu không có tên trong di chúc thì sẽ không được hưởng
17 Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản: 1 căn nhà và đất vườn cây ăn trái diện tích 6.278 m2 là tài sản chung của cụ Kiệt và cụ Biết
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Ngày 03/01/2001 cụ Biết lập di chúc có nội dung: Sau khi cụ qua đời thì bà Thuyết được toàn quyền thừa hưởng phần tài sản là nhà và đất vườn cây ăn trái diện tích 6.278 m2”
18 Theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý đối với phần tài sản của cụ Biết trong khối tài sản chung với cụ Kiệt và phần tài sản cụ Biết được hưởng thừa kế di sản của cụ Kiệt
Dẫn chứng cho câu trả lời: “ thì phải công nhận di chúc của cụ Biết lập ngày
3-1-2001 có hiệu lực đối với tài sản của cụ Biết trong khối tài sản chung với cụ Kiệt và phần tài sản cụ Biết được hưởng thừa kế di sản của cụ Kiệt; ”
19 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Tòa dân
sự
Hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Tòa dân sự là đúng đắn, vì căn cứ theo Điều 652 BLDS 2005 (tức Điều 630 BLDS 2015), di chúc được lập bởi cụ Biết vào ngày 3-1-2001 hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để công nhận là một di chúc hợp