1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thảo luận luật dân sự lần 4 Những vấn đề chung của luật dân sự Bảo vệ quyền sở hữu

13 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo luận luật dân sự lần 4 - Những vấn đề chung của luật dân sự: Bảo vệ quyền sở hữu
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài luận tập thể
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 35,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ 1 ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA Tóm tắt Quyết định số 1232006DS GĐT Nguyên đơn Triệu Tiến Tài Bị đơn Hà Văn Thơ Ông Triệu Tiến Tài đưa đơn kiện ông Hà Văn Thơ vì cho rằng ông Thơ đã chiếm hữu. VẤN ĐỀ 2 ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA Tóm tắt Quyết định số 072018DSGĐT Nguyên đơn: Bà Trần Thị X Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N Bà X yêu cầu bà N trả lại toàn bộ nhà đất có diện tích 1.518,86m2 . Trong quá trình sử dụng được biết bà N có cải tạo đất trồng cây, và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, bà cũng đã chuyển nhượng cho ông M diện tích 323,2m2, phần còn lại bà tặng cho chị Nguyễn Vi L, sau đó chị L đã chuyển nhượng khoảng 173,1m2 cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T. Và có thể xác định rằng đây là những giao dịch thứ ba ngay tình và được pháp luật bảo vệ. Theo quyết định Tòa án buộc bà N trả bằng giá trị quyền sử dụng diện tích 914m2 và trả cho nguyên đơn giá trị đất 1.254.400.000 đồng.

Trang 1

VẤN ĐỀ 1 ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA

* Tóm tắt Quyết định số 123/2006/DS-GĐT

Nguyên đơn: Triệu Tiến Tài

Bị đơn: Hà Văn Thơ

Ông Triệu Tiến Tài đưa đơn kiện ông Hà Văn Thơ vì cho rằng ông Thơ đã chiếm hữu, sử dụng tài sản (một con trâu mẹ 4 tuổi 9 tháng và con nghé đực 3 tháng tuổi) không có căn cứ pháp luật Trong quá trình chiếm hữu ông Thơ đã bán trâu mẹ cho ông Thi và ông Thi đã trao đổi lại cho ông Chiên (Dòn), còn nghé thì đã được ông Thơ mổ lấy thịt Dựa trên những cơ sở pháp lí cũng như là những chứng cứ được thu thập đầy đủ thì Tòa án đã xác định ông Tài là chủ sở hữu của con trâu, con nghé và buộc ông Thơ phải hoàn trả số tiền tương đương với giá trị của con trâu mẹ

và con nghé con

* Trâu là bất động sản hay động sản? Vì sao?

Điều 107: Bất động sản và động sản

1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

- Con trâu là động sản vì con trâu không phải là nhà, đất đai, công trình xây dựng hoặc tài sản gắn với đất đai, nhà, công trình xây dựng và bất động sản có tính chất đặc thù không di dời được Vì thế căn cứ vào khoản 2 điều 107 BLDS 2015 xác định con trâu là động sản

* Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?

Trâu không là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu vì:

- Theo khoản 2 điều 106 BLDS 2015: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác

- Căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 điều 107 BLDS 2015 thì con trâu được xác định là động sản, vì thế không cần phải đăng ký quyền sở hữu

Trang 2

* Đoạn nào của quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?

“Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ cơ

sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật”1

* Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh tranh chấp trên?

Theo khoản 1 điều 179 BLDS 2015: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền được đối với tài sản”

Ông Dòn là người đang chiếm hữu con trâu trong hoàn cảnh tranh chấp trên Ông Dòn chiếm hữu con trâu theo hình thức chiếm hữu của người không phải là chủ

sở hữu Vì trong trường hợp này ông Dòn đã được trao đổi lại từ ông Thi và ông Thi mua trâu lại từ ông Thơ mà theo những giám định cũng như là những bằng chứng cho thấy ông Thơ là chủ sở hữu không có căn cứ pháp luật

* Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?

- Việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật

- Vì theo khoản 1 Điều 183 BLDS 2005: “Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ

sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

1 Quyết định số 123/2003/DS-GĐT

Trang 3

e) Các trường hợp khác do pháp luật quy định.”

Như vậy, việc chiếm hữu của ông Dòn không rơi vào trường hợp nào của Điều

183 nên việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật

- Cụ thể, ngay từ đầu việc chiếm hữu của ông Thơ đã không có căn cứ pháp luật Ông Thơ khai mua lại con trâu cái của ông Phùng Văn Tài nhưng trong quyết định không có tài liệu chứng minh và thông qua kết quả giám định của cơ quan chuyên môn thì có đủ cơ sở xác định con trâu cái và con nghé đực thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Do đó, ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật nên ông Thơ cũng không có quyền bán con trâu cho ông Thi và ông Thi cũng không có quyền đổi trâu với ông Dòn Căn cứ khoản 3 Điều 183 BLDS 2005 về chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật thì tuy ông Dòn được chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự với ông Thi nhưng thực chất ông Thi cũng là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nên việc chiếm con trâu của ông Dòn cũng không có căn cứ pháp luật

* Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Theo Điều 165 quy định

1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ

sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

e) Các trường hợp khác do pháp luật quy định.”

2 Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.”

- Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

- Vậy chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là khi người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn

cứ pháp luật

Trang 4

* Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

- Người như hoàn cảnh của ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình

- Vì căn cứ vào Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

- Trường hợp của ông Dòn thì ông mua lại trâu do ông Thi bán, ông hoàn toàn không biết về việc con trâu là thuộc về sở hữu có căn cứ pháp luật của ông Tài, ông

có căn cứ tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu

* Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?

– Hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Đa

số các hợp đồng dân sự là hợp đồng có đền bù Tính chất đền bù trong hợp đồng được các bên áp dụng để thực hiện việc trao đổi với nhau các lợi ích vật chất Các hợp đồng có đền bù đa phần là hợp đồng song vụ mà ngược lại

+ Trong thực tế vẫn có trường hợp hợp đồng có đền bù là hợp đồng đơn vụ (như hợp đồng cho vay có lãi mà hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm bên vay đã nhận tiền) Và cũng có nhiều hợp đồng song vụ không có đền bù như hợp đồng gửi giữ không có thù lao

– Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được từ bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một lợi ích nào Hợp đồng không có đền bù thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương thân, tương ái giữa các chủ thể

+ Trong quá trình giao kết hợp đồng này, dù đã hứa hẹn, thống nhất ý chí nhưng việc chấp nhận đề nghị không mang tính chất ràng buộc đối với bên được đề nghị Do đó, đối với hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật quy định có hiệu lực khi các bên đã thực tế trao cho nhau đối tượng tặng cho hoặc đã hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu

* Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù Vì sao?

Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch đền bù Vì con trâu ông Dòn có được là do giao dịch với ông Thivà ông Thi nhận tiền tương ứng với giá trị con trâu còn ông Dòn nhận con trâu Từ đó ta có thể thấy, đây là giao dịch mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Do vậy, đây là hợp đồng có đền bù

Trang 5

* Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cấp, bị mất, bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?

- Trâu có tranh chấp là tài sàn bị lấy cấp, bị mất, bị chiếm giữ là ngoài ý chí của ông Tài

- Ta thấy việc con trâu bị người khác chiếm hữu là ngoài ý chí của ông Tài vì ông không từ bỏ quyền sở hữu con trâu (hàng tháng vẫn lên xem trâu), cũng không định đoạt (bán,tặng, cho) con trâu Khi ông Thơ dắt con trâu về qua nhà ông Tài, ông nhận ra là trâu, nghé của mình và nói với ông Thơ nhưng ông Thơ vẫn dắt trâu

về sau đó bán cho ông Thi và được đổi cho ông Dòn và xảy ra tranh chấp Như vậy con trâu có tranh chấp có thể bị lấy cấp, bị mất, hoặc bị chiếm giữ ngoài ý chí của ông Tài

* Theo tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời.

Theo tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn

Cụ thể: “Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06,07,08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20) anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì

có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu

và con ghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật.”2

*Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lí vì Tòa đã khẳng định ông Tài là chủ sở hữu và ông Thơ là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật cho nên buộc ông Thơ phải thanh toán giá trị con trâu cái và con nghé đực cho ông Tài và bên cạnh đó Tòa án cũng nhấn mạnh về quyền đòi động sản từ người thứ ba

* Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định bảo vệ ông Tài

Theo khoản 1 Điều 166 BLDS 2015 về Quyền đòi lại tài sản:

“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản

từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn

cứ pháp luật.”

2 Quyết định số 123/2003/DS-GĐT

Trang 6

Vì ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình, trâu là động sản không đăng kí quyền sở hữu nên sẽ áp dụng Điều 167 BLDS 2015 về Quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình:

“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí cảu chủ sở hữu.”

Theo xét xử của Tòa án thì ông Tài là chủ sở hữu hợp pháp, có quyền chiếm hữu đối với con trâu Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Hợp đồng giữa ông Dòn và ông Thi là hợp đồng trao đổi tài sản có đền bù và con trâu rơi vào trường hợp bị mất và chiếm hữu ngoài ý muốn nên theo Điều 167 thì chủ sở hữu là ông Tài

có quyền đòi lại tài sản từ ông Dòn

* Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Toà án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Toà án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu đang tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật.”3

* Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao.

- Trâu là động sản không phải đăng ký, cũng là tài sản bị chiếm hữu ngoài ý muốn của ông Tài và ông Dòn sở hữu trâu đang tranh chấp là ngay tình như đã chứng minh ở các câu trên, ta đủ điều kiện xét theo Điều 257 BLDS 2005 về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình:

“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.” thì ông Tài có quyền đòi lại trâu từ ông

Dòn vì ông Dòn có được trâu là qua hợp đồng có đền bù (với ông Thi mà ông Thi mua lại trâu từ ông Thơ) tức hợp đồng mua bán, trao đổi đền bù ngang giá

3 Quyết định số 123/2003/DS-GĐT

Trang 7

Như vậy hướng giải quyết của Tòa án là phù hợp, đảm bảo những căn cứ pháp

lí do luật định, bảo vệ tốt quyền lợi của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan

VẤN ĐỀ 2 ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA

* Tóm tắt Quyết định số 07/2018/DS-GĐT

Nguyên đơn: Bà Trần Thị X

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N

Bà X yêu cầu bà N trả lại toàn bộ nhà đất có diện tích 1.518,86m2 Trong quá trình sử dụng được biết bà N có cải tạo đất trồng cây, và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, bà cũng đã chuyển nhượng cho ông M diện tích 323,2m2, phần còn lại bà tặng cho chị Nguyễn Vi L, sau đó chị L đã chuyển nhượng khoảng 173,1

m2 cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T Và có thể xác định rằng đây là những giao dịch thứ ba ngay tình và được pháp luật bảo vệ Theo quyết định Tòa án buộc bà N trả bằng giá trị quyền sử dụng diện tích 914m2 và trả cho nguyên đơn giá trị đất 1.254.400.000 đồng

* Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

- Đoạn của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình: “Ngày 19/8/2010, bà N chuyển

Trang 8

giao cho ông M diện tích 323,2m² ( đo thực tế là 313,6m²), ngày 01/10/2010 ông M

đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông M đã xây dựng nhà 4 tầng trên đất Diện tích đất còn lại là 917,6m², ngày 21/10/2011, bà N tặng cho con gái là chị Nguyễn Vi L Sau đó, chị L chuyển nhượng 173,1m² (đo thực tế là 170,9m²) đất cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T; ông Đ, bà T đã nhận đất sử dụng và được cấp giấy chứng nhận ngày 24/7/2012 Diện tích đất còn lại của chị L đo thực

tế là 744m² Việc chuyển nhượng và tặng cho nêu trên đã hoàn thành trước khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 410/2012/KN-DS ngày 24/9/2012 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm số 55/2013/DS-GĐT ngày 30/01/2013 của Toà án nhân dân tối cao hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 nêu trên Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật dân sự 2005 thì các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M, bà Q, bà L, ông Đ, bà T là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ.”4

* Theo quy định (trong BLDS 2005 và BLDS 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

- Căn cứ theo Điều 168 BLDS 2015 và Điều 258 BLDS 2005 thì chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa

* Để bảo vệ bà X, theo Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?

Để bảo vệ bà X, Tòa án nhân dân tối cao buộc bà N trả bằng giá trị sử dụng diện tích 914m2 đất (trong đó có 744m2 đất do bà L đứng tên và 170,9m2 đất ông Đ,

bà T đứng tên) cho nguyên đơn; đồng thời bà N phải trả cho nguyên đơn 1.254.400.000 đồng tương đương với giá trị của 313,6m2 đất do ông M đứng tên

* Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong Bộ luật dân sự chưa?

Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định tại điều 258 BLDS 2005

Điều 258 Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình:

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước

4 Quyết định số 07/2018/DS-GĐT

Trang 9

có thẩm quyền và chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa

* Theo anh/chị hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?

Theo nhóm em, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao là thuyết phục.Vì:

Trong Quyết định đã cho rằng: “Bà N xác định do sự giới thiệu của ông Nguyễn X V là chồng bà X) gia đình bà về ở thì có căn nhà nằm trên khuôn viên đất trồng khoảng 1.500m2 đất bỏ hoang không ai sử dụng, bà có cải tạo đất và trồng cây trên đất.” Từ đó cho thấy, căn cứ vào điều 189 BLDS 2005 thì bà N chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

Tòa án nhân dân tối cao nhận định quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm dành cho bà N là chưa đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn và quyết định của Tòa án cấp

sơ thẩm là không xem xét công sức của bà N trong thời gian ở, chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn; đồng thời yêu cầu Tòa án cần xem xét đến cả phần đất Nhà nước đã thu hồi và cần làm rõ bà N đã nhận số tiền Nhà nước bồi thường là bao nhiêu để tính toán công sức cho hợp lý

Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu cần áp dụng khoản 2 điều 138 và điều 258 BLDS 2005 để các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M, bà Q, chị

L, ông Đ, bà T là các giao dịch của người thứ 3 ngay tình được pháp luật bảo vệ

Trang 10

VẤN ĐỀ 3 LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ

* Tóm tắt Quyết định số 23/2006/DS-GĐT

Nguyên đơn: ông Diệp Vũ Trê

Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hậu

Nguyên đơn đưa đơn kiện bị đơn vì đã lấn chiếm đất của bị nguyên đơn và khi ông Trê yêu cầu trả lại phần đất bị lấn chiếm thì bị đơn đã chắt phá một số cây kiểng của gia đình nguyên đơn Tòa án yêu cầu bị đơn phải trả lại 132,8m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trống cho ông Trê và bà Thi, còn phần đất mà ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng để xây nhà thì phải thanh toán giá trị sử dụng đất, phần máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của nguyên đơn, buộc ông Hậu phải tháo gỡ hoặc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất, còn một căn nhà phụ xây trên diện tích 18,57m2 phải căn cứ vào tình hình thực tế để thi hành án, bên cạnh đó ông Hậu phải bồi thường toàn bộ số kiểng đã chặt phá của gia đình ông Trê

* Tóm tắt Quyết định số 617/2011/DS-GĐT

Nguyên đơn: Ông Lương Ngọc Trụ, Bà Đinh Thị Nguyên

Bị đơn: Ông Ngô Văn Hòa

Nguyên đơn khởi kiện bị đơn do đã lấn đất trong quá trình ông đi làm ăn ở xa Tòa án buộc ông Ngô Văn Hòa phải tháo dỡ 1 mảng bê tông trước nhà, tháo dỡ mái tôn nhà sau và đòn tay phía nhà sau, cùng với phần hệ thống đường ống của ông Hòa nằm dưới đất thuộc quyền sử dụng của ông Trụ, bà Nguyên

* Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sở hữu của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

Trong quyết định số 23 đã cho rằng: “Trong quá trình sử dụng, ông Hậu đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Trê khoảng 185m2 (cụ thể diện tích đất tranh chấp

là tam giác có đáy là mặt tiền sông Bà Bèo dài 12m, cạnh của tam giác là 36m, cạnh đứng khoảng 30m).”

Ngày đăng: 04/09/2022, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w