Bài 3 LƢỠNG HÀ CỔ ĐẠI
3.3. VĂN HÓA LƢỠNG HÀ CỔ ĐẠI
Thành tựu văn hóa Lƣỡng Hà đạt đƣợc là tổng hợp những thành tựu văn hóa của người Xu Me, Ac-cat, Ba-bi-lon, Can-đê, … trong đó người Xu Me là tộc người đặt nền móng cho việc xây dựng nền văn hóa Lưỡng Hà.
3.3.1. Chữ viết
Xuất hiện khá sớm (thiên niên kỷ IV TCN) do người Xu Me phát minh.
Đó là chữ Tiết hình hay chữ hình góc nhọn, hình đinh, hình nêm (vì chữ đó có hình dạng giống nhƣ những góc nhọn, cái đinh hay cái nêm). Chữ Tiết hình cũng bắt nguồn từ hình vẽ (giống nhƣ chữ tƣợng hình), nhƣng đã đƣợc đơn giản hóa đi, chỉ giữ lại những nét đặc trƣng nhất nhằm biểu đạt ý nghĩa của những khái niệm đó.
Chất liệu người Lưỡng Hà dùng để viết là các tấm đất sét còn ướt và những cái que vót nhọn. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều văn bản trong các kho lưu trữ của triều đình và đền miếu ở Lưỡng Hà là những tấm đất sét viết bằng chữ tiết hình (riêng trong thư viện của vua At-xua-ba-ni-pan của vương quốc At-xi-ri chứa đựng 2200 cuốn sách bằng đất sét).
Chữ của người Xu Me phát minh trở thành chữ mẹ đẻ của nhiều chữ viết cổ của người Ac-cat, Ba-bi-lon, Hat-ti, At-xi-ri, Ba Tư và các tộc khác ở Tây Á.
Về sau người Phê-ni-xi và người Ba Tư đã cải tiến chữ Tiết hình thành vần chữ cái: Vào thiên niên kỷ II TCN, thành bang U-ga-rit ở phía Bắc Phê-ni- xi (Li Băng ngày nay) đã dựa vào chữ tiết hình của Ba-bi-lon để đặc ra vần chữ cái gồm 29 chữ. Ở miền Nam Phê-ni-xi dựa vào chữ tƣợng hình của Ai Cập đặt ra một hệ thống chữ cái khác gồm 22 chữ. Vần chữ cái ở miền nam dần chiếm ƣu thế.
Về sau chữ Phê-ni-xi trở thành cơ sở của việc đặt ra chữ Hy Lạp và chữ La-tinh. Hai chữ cái đầu tiên của Phê-ni-xi là ―aleph‖ (nghĩa là con bò) và
―beth‖ (nghĩa là cái nhà) trở thành hai chữ ―al-pha‖ và ―bê-ta‖ của vần chữ Hy Lạp. Cũng vì vậy, vần chữ cái trong ngôn ngữ phương Tây được gọi là al-pha-
Tuy vậy, ở Lƣỡng Hà các tăng lữ, quan tòa và các nhà chiêm tinh vẫn dùng chữ tiết hình mãi đến trước sau công nguyên mới bị chữ phiên âm hoàn toàn thay thế.
Đến nữa đầu thế kỷ XIX, hai nhà ngôn ngữ Đức Gơ-rô-tô-phen và Anh Rao-linh-xơn thông qua văn tự Ba Tƣ đã đọc đƣợc chữ hình đinh này. Từ đó cả kho tàng tƣ liệu của khu vực Lƣỡng Hà thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học,… đƣợc dịch ra ngôn ngữ hiện đại.
3.3.2. Văn học
Nền văn học của Lƣỡng Hà do nhiều bộ tộc ở Lƣỡng Hà xây dựng nên mà cơ sở là nền văn học do người Xu Me sáng tạo đầu tiên và bao gồm nhiều thể loại: văn học truyền miệng, văn học dân gian, thơ ca, đặc biệt là anh hùng ca.
Văn học dân gian truyền miệng gồm có tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện ngụ ngôn, truyền thuyết,… Nhiều sáng tác văn học dân gian ca ngợi cuộc sống lao động như bài ca của người xay lúa, người nấu bếp, người làm bánh mì…
Nhiều thần thoại phản ánh quan niệm về tự nhiên và cuộc đấu tranh gian khổ của cƣ dân Lƣỡng Hà trong cuộc đấu tranh chinh phục hai con sông Ti-gơ- rơ và Ơ-phơ-rat nhƣ truyện ―Nạn hồng thủy”.
Thể loại ngụ ngôn có “ Cuộc tranh cãi giữa ngựa và bò”.
Nhiều tác phẩm của văn học Lưỡng Hà chịu ảnh hưởng của tôn giáo.
Những bài thánh ca ngợi khen sức mạnh của các vị thần rất phổ biến. Trong số các vị thần tối cao. Thần đã chiến thắng quỉ Tia-mát để tạo ra thế giới.
Tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của Lƣỡng Hà là ―anh hùng ca Gil-ga- mesh”. Đây là công trình sáng tạo của nhiều thời đại, nhiều thế hệ cƣ dân Lƣỡng Hà, mặc dù bị bao phủ bởi lớp màng tôn giáo của anh hùng ca Gil-ga- mesh ca ngợi sức mạnh vô địch của con người, ca ngợi cái thiện và thắng lợi tất yếu của cái thiện trước cái ác, nhưng nội dung cốt yếu nhất của bản anh hùng ca này là đề cập đến tính tất yếu của cái chết.
3.3.3. Tôn giáo
Người Lưỡng Hà theo đa thần giáo. Có những vị thần thuộc các lực lượng tự nhiên nhƣ thần Bầu trời (Thiên Thần) A-nu, thần Đất (Địa Thần) En-lin, thần Nước Êa, thần Mặt trời Sa-mat,… Các vị thần thuộc các lĩnh vực khác của xã hội nhƣ nữ thần sinh đẻ và số mệnh Nin-tu, thần nông nghiệp U-rat, thần trí tuệ Tu-tu, thần chiến tranh Da-ba-ba…
Ngoài ra, người Lưỡng Hà rất coi trọng việc thờ các dã thú và thờ người đã chết. Do đó, họ rất chú ý đến lễ mai táng.
Điều đặc biệt ở Lưỡng Hà trước khi hình thành quốc gia thống nhất là ở đây có bao nhiêu thành bang, bao nhiêu quốc gia độc lập thì có bấy nhiêu các vị thần được cư dân địa phương thờ cúng. Mỗi quốc gia có các vị Thần chủ của
mình. Khi một tộc người của một quốc gia nào đó hùng mạnh lên, chinh phục và thống nhất được toàn bộ khu vực Lưỡng Hà thì vị thần chủ của tộc người đó trở thành đối tƣợng thờ cúng chung của mọi quốc gia trong khu vực.
Đến thời kỳ Ham-mu-ra-bi trị vì, thần Mac-đúc, cháu của thần A-nu, con trưởng của thần Êa trở thành chúa tể của các thần, nên bản thân nhà vua cũng đƣợc thần thánh hóa, thay mặt thần Mac-đúc cai trị muôn dân. Cùng với sự tồn tại của hệ thống tôn giáo đa dạng, phức tạp, tập đoàn tăng lữ Lƣỡng Hà xuất hiện với hơn 30 loại, trong đó thầy cúng đọc bùa chú và thầy cúng đoán tương lai đƣợc trọng vọng nhất.
3.3.4. Khoa học tự nhiên
Toán học của Lưỡng Hà phát triển tương đối sớm, nhất là số học. Đầu tiên, người Lưỡng Hà lấy số 5 làm cơ sở của phép đếm. Muốn đếm số lớn hơn 5 thì cộng số 5 với những số khác. Về sau người ta lấy số 60 làm cơ sở (hệ lục thập phân). Ngày nay chúng ta còn dùng hệ đếm 60 của người Lưỡng Hà trong việc tính thời gian, tính góc và độ dài vòng tròn,…..
Người Lưỡng Hà cổ đại đã biết cách làm 4 phép tính, biết lấy căn số bậc 2, bậc 3, biết giải phương trình có 3 ẩn số. Về hình học, họ biết tính diện tích hình chữ nhật, tam giác, hình thang, hình tròn,, biết mối quan hệ giữa các cạnh trong một tam giác vuông, biết tìm ra số =3,00.
Thiên văn học và lịch pháp của Lƣỡng Hà cũng xuất hiện sớm và có những thành tựu quan trọng. Họ biết rõ 5 hành tinh lớn của thái dương hệ (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và dùng tên của 5 hành tinh đó cùng với mặt trời, mặt trăng để đặt tên cho 7 ngày trong tuần, họ cũng hiểu rõ hiện tƣợng nhật thực, nguyệt thực, sao Chổi, sao Băng, biết đến ―12 cung Hoàng đạo‖.
Người Lưỡng Hà cũng làm lịch theo nguyên tắc âm lịch: một năm có 12 tháng, 6 tháng đủ (30 ngày/tháng) và 6 tháng thiếu (29 ngày/tháng), tổng cộng một năm có 354 ngày nên để khớp với vòng quay của trái đất xung quanh mặt trời, họ đã đặt ra tháng nhuận (cứ 8 năm có 3 tháng nhuận).
Về y học: Thầy thuốc của Lưỡng Hà đã chữa được các bệnh thông thường như các bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp, mắt, tai, tim, thần kinh,… Họ cũng đạt đƣợc những thành công trong ngành giải phẫu. Trong y học của Lƣỡng Hà đã phân biệt rõ hai ngành nội và ngoại khoa.
3.3.5. Nghệ thuật kiến trúc – điêu khắc
Vì thiếu đá, gỗ nhƣng lại giàu đất sét nên các công trình kiến trúc của Lƣỡng Hà đều xây dựng bằng gạch nhƣng cũng rất to lớn và hùng vĩ.
Thành tựu kiến trúc nổi bậc của Lƣỡng Hà là hệ thống công trình gồm thành quách, cung điện, tháp và vườn hoa.
Thành Ba-bi-lon có chu vi dài hơn 13 km, đƣợc bao bọc bởi ba lớp tường thành cao vững chắc và những hào nước. Thành có 7 cổng chính. Cổng chính ở phía bắc là cổng I-sơ-ta (nữ thần chiến tranh và thắng lợi) cao 12 mét, đƣợc trát bên ngoài bằng gạch tráng men màu ngọc lam và trang trí những hình sƣ tử, bò rừng cùng những con vật thần thoại nhiều màu sắc.
Trong thành có nhiều công trình kiến trúc hùng vĩ nhƣ ngọn tháp gần đền Mac-đúc cao 90 m gồm 7 tầng. Tầng thứ nhất là một khối vuông, mỗi cạnh 90 m, cao 30 m. Các tầng trên nhỏ hơn và thấp hơn tầng dưới, mỗi tầng như vậy đƣợc trát gạch men với màu sắc khác nhau (đen, đỏ, trắng, vàng, tía, hồng, xanh). Tầng trên cùng có thờ tƣợng thần Mác-đúc bằng vàng.
Vườn treo Ba-bi-lon là công trình kiến trúc độc đáo nhất của Lưỡng Hà.
Đây là công trình đƣợc xếp vào kỳ quan thứ hai của thế giới cổ đại. Toàn bộ vườn treo thực chất là một vườn hoa được tạo dựng trên một cái đài lớn cao 25 m, chia làm 4 tầng, mỗi tầng đƣợc xây dựng theo kiểu vòm cuốn bằng gạch trên những cột cao có trang trí. Lớp dưới cùng người ta trãi đá, tiếp đó là một lớp cói mảnh, nhựa đường, sau đó là một lớp gạch, trên gạch là những tấm kim lọai và trên cùng đổ một lớp đất dày để trồng cây. Để tưới cho cây có một hệ thống nguồn và dẫn nước từ sông Ơ-phơ-rat lên. Đứng trên vườn treo Ba-bi-lon này có thể nhìn bao quát cảnh thành Ba-bi-lon lộng lẫy và ngược lại, đứng dưới thành Ba-bi-lon nhìn lên, vườn treo như một lẳng hoa khổng lồ giữa thành phố.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Tại sao ở Lƣỡng Hà lại xuất hiện nhiều quốc gia và vai trò của các quốc gia này trong việc xây dựng nên nền văn minh Lƣỡng Hà?
2. Tại sao gọi xã hội Lƣỡng Hà cổ đại là ― xã hội có giai cấp đầu tiên‖ hay
―Xã hội cổ đại phương Đông‖ mà không gọi là ―xã hội chiếm nô‖? Nét đặc trƣng của xã hội Lƣỡng Hà là gì?
3. Phân tích vai trò của nông dân công xã và nô lệ trong nền kinh tế - xã hội Lƣỡng Hà cổ đại.
4. Trình bày những thành tựu văn hóa chủ yếu mà người Lưỡng Hà đã đạt đƣợc, trong đó những thành tựu văn hóa nào nổi bật nhất.
THỰC HÀNH
1. Lập bảng niên đại các thời kì lịch sử của Lƣỡng Hà.
2. Trình chiếu những thành tựu văn hóa của Lƣỡng Hà.
Bài 4 ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Sinh viên cần nắm những kiến thức cơ bản sau:
- Điều kiện tự nhiên và dân cư Ấn Độ thời cổ đại.
- Mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với trạng thái kinh tế, kết cấu xã hội, thể chế nhà nước và văn hóa của Ấn Độ thời cổ đại.
- Phân kì lịch sử Ấn Độ và những đặc điểm nổi bật của các thời kì lịch sử này.
- Tình trạng kinh tế, chính trị, xã hội của Ấn Độ cổ đại - Nội dung nền văn minh Ha-rap-pa_ Mô-hen-giô-đa-rô.
- Quá trình xâm nhập của người A-ry-an vào đất Ấn.
- Hoàn cảnh ra đời và nội dung chủ yếu của giáo lí Bà La Môn và Phật giáo.
- Sự ra đời và chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ.
- Những đóng góp về mặt văn hóa của cư dân Ấn Độ cho nhân loại.
Nhiệm vụ của sinh viên:
- Đọc và nghiên cứu giáo trình, tài lệu tham khảo cần thiết được giới thiệu ở cuối bài.
- Xem sách giáo khoa lịch sử lớp 10 từ trang11 đến 17 để vận dụng vào thực tiễn giảng dạy ở trường phổ thông.
- Tìm hiểu vì sao nền văn minh Ha-rap-pa_ Mô-hen-giô-đa-rô lụi tàn.
- Văn minh Ấn ảnh hưởng đến các quốc gia Đông Nam Á như thế nào?