VĂN HÓA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 75 - 80)

Bài 4. ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

4.3. VĂN HÓA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Chữ cổ nhất của Ấn Độ, khắc trên các con dấu phát hiện ở nền văn minh sông Ấn, có lịch sử từ hơn 2000 TCN .

Về khoảng thế kỷ VIII TCN chữ cổ B-ra-mi ra đời (gọi B-ra-mi vì họ coi đó là do thần B-ra-h-ma sáng tạo). Ít lâu sau (khoảng thế kỷ VII TCN), trên cơ sở chữ B-ra-mi cải biên thành mẫu tự Đê-va-na-ga-ni (chữ viết ―thần thánh và thành phố‖) dùng để ghi chép: tiếng San-skrit (tiếng phạn) ra đời.

Về sau, khi Phật giáo ra đời, trên cơ sở khẩu ngữ Ma-ga-đa ( tiếng Ấn Âu đã chuyển hóa), chữ Pa-li xuất hiện. So với San-skrit, Pa-li đơn giản hơn về âm tiết, cú pháp và đơn giản hơn về cả nét chữ. Tuy nhiên, chữ Phạn San-skrit vẫn trở thành chữ viết thông dụng ở Ấn Độ từ thế kỷ VI TCN cho đến thế kỷ X.

4.3.2. Văn học

Ấn Độ cổ đại có một kho tàng văn học rất phong phú. Các tác phẩm phần lớn đều chép bằng tiếng Phạn (San-skrit), bao gồm hai phần chính là Vê- đa và Sử thi.

Vê-đa có 4 tập (Rich Vê-đa, Xa-ma Vê-đa, Yaj-ua Vê-đa A-tác-va Vêđa). Kinh Vê-đa, tuy thực chất là những bài ca tôn giáo dùng để tế lễ, nhƣng cũng biểu lộ những tình cảm, suy nghĩ và tri thức của người A-ri-an trước thiên nhiên và lực lƣợng tự nhiên, phản ánh những phong tục tập quán cùng đời sống chính trị, kinh tế, xã hội dưới hình thức thơ ca.

Kế tiếp Vê-đa và có liên quan đến Vê-đa còn có các tác phẩm nhƣ Up-a- nis-hát, B-ra-ma-na, A-na-ria-ca,… Những sách này đều viết bằng văn xuôi, nội dung đề cập các vấn đề nghi thức cúng tế, những triết lý thần bí hoặc nhằm giải thích, bảo tồn Vê-đa.

Hai viên ngọc quí nhất trong kho tàng văn học Ấn Độ cổ đại là hai bộ sử thi Ma-ha-b-ha-ra-ta và Ra-ma-ya-na. Bộ sử thi Ma-ha-b-ha-ra-ta có 18 chương bao gồm 22 vạn câu thơ (là bộ sử thi dài nhất thế giới). Chủ đề của bộ sử thi này là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền bắc Ấn Độ - dòng họ B-ha-ra-ta (vì vậy tập sử thi có tên Ma-ha-b-ha-ra-ta nghĩa là: ―Cuộc chiến tranh giữa con cháu B-ha-ra-ta‖). Bộ sử thi miêu tả những cảnh chiến đấu anh dũng, những cảnh sinh hoạt khác nhau trong xã hội, những cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đình, những chuyện tình éo le… Sử thi Ra-ma-ya-na (Những chiến tích của Ra-ma) có 7 chương bao gồm 48.000 câu thơ, chủ đề của bộ sử thi này là câu chuyên tình duyên giữa hoàng tử Ra-ma và người vợ chung thủy Si-ta.

Hai bộ sử thi Ma-ha-bơ-ha-ra-ta và Ra-ma-ya-na là những công trình sáng tác tập thể của nhân dân Ấn Độ cổ đại trong nhiều thế kỷ và là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ hàng ngàn năm nay. Cho đến bây giờ, hai bộ sử thi này vẫn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ và nghệ sĩ Ấn Độ.

Bên cạnh các bộ sử thi, còn có các tập chuyên kể của tầng lớp tăng lữ nhƣ tập Pu-ra-na của các tăng lữ Bà-la-môn gồm những chuyện thần thoại hay hoang đường, những truyện liên quan đến lễ nghi hay quan niệm tôn giáo của đạo Bà-la-môn. Tập Ja-ta-ka của tăng lữ Phật giáo, viết bằng tiếng Pa-li gồm những truyện kể về cuốc đời và những tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca.

4.3.3. Nghệ thuật

Nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật kiến trúc ở Ấn Độ phát triển rực rỡ kể từ thời Mô-ry-a, thể hiện ở các cung điện, chùa, tháp, cột đá, tƣợng Phật,….

Tháp mộ (X-tup-pa), nơi để các di vật của Phật, là một loại công trình kiến trúc độc đáo của Ấn Độ. Trong số hàng trăm tháp mộ (X-tup-pa) rãi rác khắp Ấn Độ, nổi tiếng nhất là tháp mộ San-chi, xây dựng vào thế kỷ III – II TCN. Tháp này xây bằng gạch, hình nữa quả cầu, cao hơn 16m, xung quanh có lan can và 4 cổng bằng đá cao tới 10m, đƣợc chạm nổi tinh vi.

Hình 15: S-tup-pa San- chi.

Nguồn: http://www.homepage.powerup.com.au/ancient/kv_list.htm

Cột đá (X-tam-a-ba) cũng là công trình kiến trúc độc đáo thời A-sô-ca.

Những cột đá này đƣợc làm bằng đá phiến bóng nhẵn, cao trung bình 15m, trên đầu cột có khắc hình thú vật và các hình trang trí khác. Trên các cột đá đó còn khắc sắc lệnh của nhà vua.

Ngoài ra, các chùa hang cũng là một đặc điểm của nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ cổ đại. Đây là những ngôi chùa đƣợc khoét sâu vào vách núi đá, có nhiều cột chống và trang trí công phu. Tiêu biểu nhất cho loại hình chùa hang là At-gian-ta gồm tất cả 29 gian ( trong đó có gian hình vuông, mỗi chiều 20m) dùng để làm nơi thờ Phật, nơi giảng kinh và nơi ở của các nhà sƣ.

Tƣợng Phật bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ I trở về sau, tiêu biểu nhất là pho tƣợng bằng đá ở Gan-đa-ra đƣợc tạc vào khoảng thế kỷ II – III. Đây là một tác phẩm đã đạt đến trình độ nghệ thuật rất cao.

4.3.4. Khoa học

Thiên văn học: với phương pháp quan sát bằng mắt thường và tính toán riêng, người Ấn đã phân định được bảy tinh tú (mặt trời, mặt trăng, sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ), tính đƣợc chu kỳ trăng tròn, trăng khuyết, tính chính xác thời gian xảy ra nhật thực, nguyệt thực,… Họ biết đặt ra lịch theo nguyên tắc âm lịch theo chu kì Mặt Trăng, mỗi năm chia 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ 5 năm thì thêm một tháng nhuận.

Về toán học: người Ấn Độ có một phát minh tưởng như rất bình thường nhƣng thực tế là một phát minh vô cùng quan trọng, vô cùng vĩ đại đó là việc sáng tạo ra 10 chữ số trong đó có số 0 mà ngày nay đƣợc dùng rộng rãi khắp thế giới. Nhận xét về hệ thống chữ số này, nhà bác học Pháp Lap-la-xơ viết: ―Chính nhờ Ấn Độ mà chúng ta học được phương pháp tài tình chỉ dùng có 10 chữ mà viết được đủ các số, mỗi chữ vừa có một giá trị tuyệt đối, vừa có một trị số tùy theo vị trí của nó…”17

Chữ số Ấn Độ sau đó truyền sang Ả Rập và được người Ả Rập thay đổi hình dạng chút ít rồi chuyển sang Châu Âu, do đó thường bị gọi nhầm là chữ số A Rập.

Về hình học, người Ấn Độ cổ đại đã biết tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác và hình đa giác. Họ cũng biết đƣợc quan hệ giữa các cạnh của tam giác vuông.

Về y học: trong các tập Vê-đa phản ánh rằng người Ấn Độ thời đó đã biết nhiều thứ bệnh và cũng đã biết phẩu thuật để chữa bệnh. Các tập Vê-đa còn nêu ra hàng trăm loại thuốc thảo mộc,…

17 Nguyễn Thừa Hỷ. Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ. NXB: văn hóa, Hà Nội. Trang 209

Ngoài các ngành nói trên, về các mặt hóa học, vật lý học, nông học,…

cũng đã có những hiểu biết nhất định. Do đó đã phục vụ đắc lực cho các lĩnh vực khoa học khác và nghề thủ công nhƣ luyện thép, nhuộm, thuộc da,…

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Những bằng cứ lịch sử nào chứng minh nền văn minh sông Ấn và nền văn minh thành thị?

2. Trình bày quá trình xâm nhập vào Ấn độ của người A-ri-an và những biến đổi lịch sử của Ấn thời kì này.

3. Sự hình thành chế độ đẳng cấp Vacna ở Ấn Độ và tác động của nó đối với sự phát triển của xã hội cổ đại.

4. Vai trò của vương triều Môrya trong lịch sử Ấn Độ cổ đại.

5. Nêu những thành tựu văn hóa chủ yếu mà nhân dân Ấn Độ đã đƣợc trong thời cổ đại.

THỰC HÀNH

1. Lập bảng niên đại các thời kì lịch sử của Ấn Độ thời cổ đại.

2. Sưu tầm hình ảnh những thành tựu văn hóa của Ấn độ thời cổ đại.

Bài 5

TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Sinh viên cần nắm những kiến thức cơ bản sau:

- Điều kiện tự nhiên và dân cư Trung Quốc thời cổ đại.

- Mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với trạng thái kinh tế, kết cấu xã hội, thể chế nhà nước và văn hóa của Trung Quốc thời cổ đại.

- Phân kì lịch sử Của Trung Quốc và những đặc điểm nổi bật của các thời kì lịch sử này.

- Tình trạng kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc thời cổ đại.

- Chu Công Đán và chính sách phân phong của ông có tác động như thế nào đến lịch sử Trung Quốc cổ đại.

- Nội dung cải cách Thương Ưởng và giải thich vì sao với cải cách này Thương Ưởng đã đưa nước Tần lên đia vị Bá chủ thời Chiến Quốc.

- Cục diện Ngũ bá và Thất quốc tranh hùng trong thời Xuân Thu chiến quốc.

- Kế Hợp Tung của Tô Tần và Liên Hoành của Trương Nghi . - Quá trình thống nhất Trung Quốc của nhà Tần..

- Những đóng góp về mặt văn hóa của cư dân Trung Quốc cho nhân loại.

Nhiệm vụ của sinh viên:

- Đọc và nghiên cứu giáo trình, tài lệu tham khảo cần thiết được giới thiệu ở cuối bài.

- Xem sách giáo khoa lịch sử lớp 10 từ trang11 đến 17 để vận dụng vào thực tiễn giảng dạy ở trường phổ thông.

- Tìm hiểu vì sao học thuyết của Khổng Tử không được trọng dụng trong thời điểm lịch sử này.

- Tìm hiểu những học thuyết triết học của Trung Quốc thời cổ đại.

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 75 - 80)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(196 trang)