Sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 21 - 25)

BÀI 1. XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

1.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TRONG XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

1.2.2. Sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ

Trong lao động cải tạo tự nhiên, con người tự cải tạo bản thân mình. Đến hậu kỳ đồ đá cũ (cách ngày nay 4 vạn năm), người tinh khôn ra đời. Sự xuất hiện của người tinh khôn (người hiện đại_ Hô-mô-sa-pi-ên) đưa đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống vật chất, trong tổ chức xã hội cũng nhƣ trong quan hệ hôn nhân, gia đình.

Người hiện đại ra đời kéo theo sự hình thành 3 đại chủng loài người: Đại chủng Môn-gô-lô-it, đại chủng Ơ-rô-pê-ô-it, đại chủng Nê-gơ-rô - Ốt-xtra-lô-ít.

Các đại chủng khác nhau bởi đặc điểm hình thái và sinh lý. Song sự khác nhau đó

hoàn toàn không quyết định đến sự phát triển của lịch sử, của văn hóa và văn minh.

Sự phát triển của lực lƣợng sản xuất với hình thức lao động tập thể, cuộc sống định cƣ, việc dùng lửa, v.v…. dần dần thắt chặt mối quan hệ giữa các thành viên. Một tổ chức xã hội phát triển cao hơn và dựa trên quan hệ dòng máu đã đƣợc thay thế. Đó chính là cộng xã thị tộc.

Công xã thị tộc (hay còn gọi là thì tộc) là một tổ chức xã hội gồm vài chục gia đình với 3, 4 thế hệ cùng lao động sản xuất, dựa trên quan hệ quyết thống. Các thành viên trong thị tộc bình đẳng với nhau, cùng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau.

Nhiều thị tộc có quan hệ dòng máu gần xa hợp thành bộ lạc. Mỗi bộ lạc có tên gọi riêng, nơi ở, ruộng đất, sông ngòi, rừng rú riêng. Các thành viên của bộ lạc cùng có một ngôn ngữ, cùng có lễ nghi tôn giáo chung.

Đứng đầu bộ lạc là hội đồng bộ lạc gồm thủ lĩnh bộ lạc, thủ lĩnh quân sự, các tộc trưởng của thị tộc, tăng lữ. Hội đồng này có quyền thảo luận quyết định những vấn đề sống còn của bộ lạc: tuyên chiến hay đình chiến, tiếp đón sứ giả, dời địa bàn cƣ trú, v.v….

Trong giai đoạn đầu, bộ lạc thường chia làm 2 nửa, mỗi nửa gồm 2, 4, 6 thị tộc – gọi là bào tộc. Bào tộc cũng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết xích mích trong bộ lạc, bầu thủ lĩnh bộ lạc, thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bảo vệ bộ lạc.

Như vậy tổ chức xã hội của người nguyên thủy bao gồm thị tộc, bào tộc, bộ lạc. Cả 3 tổ chức đó là ở những mức độ khác nhau của quan hệ huyết tộc. Mỗi tổ chức có tính chất đóng kín, tự quản lý công việc của mình, nhƣng lại có quan hệ bổ sung cho nhau.

b. Sự phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ

Vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, khi người hiện đại Hô-mô-sa-pi-ên xuất hiện, công xã thị tộc mẫu hệ ra đời. Cộng xã thị tộc mẫu hệ phát triển thịnh vƣợng vào thời đại đồ đá giữa, sơ và trung kỳ đồ đá mới. Công xã thị tộc phụ hệ ra đời vào hậu kì đá mới. Tuy vậy, có nơi công xã thị tộc mẫu hệ tan rã nhƣng không chuyển sang công xã thị tộc phụ hệ. Do vậy chế độ mẫu quyền là một giai đoạn phát triển tự nhiên của các dân tộc trên thế giới.

Công cụ lao động và đời sống kinh tế

Trong xã hội thị tộc mẫu hệ, kỹ thuật chế tác công cụ tiến bộ vƣợt bậc.

Nếu ở bầy người nguyên thủy, việc chế tac công cụ chủ yếu sử dụng phương pháp ghè đẽo đá, công cụ sản xuất thô, nặng, nghèo nàn về hình loại thì ở hậu kỳ đồ đá cũ, kỹ thuật chế tác đá phát triển hoàn thiện hơn. Từ kỹ thuật bổ đá, người hiện đại biết tách đá, trau chuốt đá để tạo ra hàng loạt công cụ nhƣ: dao, nạo, mũi

Sang thời đại đồ đá giữa, trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm, con người phát minh ra cung, tên. Đây là một phát minh rất quan trọng đánh dấu mốc phân chia giữa thời đại đồ đá cũ với thời đại đồ đá giữa. Sự ra đời và phổ biến hơn của cung tên đưa đến sự thay đổi trong phương thức sản xuất và là cơ sở cho sự ra đời của kinh tế sản xuất: Chăn nuôi nguyên thủy.

Ăng Ghen nhận xét: “ Cung, dây cung và tên là một thứ công cụ rất phức tạp. Sự phát minh ra công cụ đó đòi hỏi phải có kinh nghiệm tích lũy lâu dài và trí lực sáng suốt và do đó đồng thời cũng đòi hỏi phải biết đến nhiều phát minh khác”6 .

Sang thời đại đồ đá mới, con người không chỉ biết ghè đẽo đá, mà còn biết cƣa, khoan, mài đá tạo nhiều công cụ gọn, đẹp, chính xác. Đặc biệt nhiều công cụ đƣợc lắp cán làm tăng kết quả lao động.

Những tiến bộ trong kỹ thuật chế tác công cụ đƣa đến sự ra đời của nhiều nghề thủ công: gốm, dệt, đan, lát. Từ chỗ sử dụng đồ đựng bằng tre, vỏ ốc, vỏ hoa quả, người nguyên thủy biết dùng đất sét chế tạo hàng loạt đồ dùng: nồi, vò, cốc, chậu, bát, v.v…. làm phong phú thêm đời sống vật chất. Đồ gốm còn đƣợc nung cẩn thận. Nếu thời kỳ bầy người nguyên thủy, con người chỉ biết ―ăn lông ở lỗ‖

nay con người biết che thân bằng những chiếc khố làm từ vỏ cây hay da thú. Tuy nhiên, thành tựu quan trọng nhất của con người trong giai đoạn mẫu hệ vẫn là thành tựu về nông nghiệp và chăn nuôi nguyên thủy.

Chăn nuôi nguyên thủy bắt đầu từ việc thuần dƣỡng, thuần hóa động vật.

Trong điều kiện thuận lợi nào đó, người ta chọn những con thú nhỏ bị thương nhẹ làm nguồn thức ăn để dành, từ đó nảy sinh việc thuần hóa, thuần dƣỡng động vật, bước đầu của chăn nuôi gia súc.

Nông nghiệp nguyên thủy ra đời trên cơ sở kinh tế hái lƣợm. Công việc hái lƣợm hoa quả, củ rễ đƣợc tiến hành theo mùa, theo vùng. Trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm và nắm chắc quy luật sinh trưởng của cây trồng, người nguyên thủy bắt đầu trồng rau quả, củ rễ, về sau trồng lúa. Viện sĩ Nga Va-vi-khốp cho rằng có 4 trung tâm phát sinh nông nghiệp nguyên thủy:

+ Tiểu Á: lúa mì, lúa mạch.

+ Viễn Đông và lưu vực Hoàng Hà: kê.

+ Nam Á – Đông Nam Á: lúa và rau củ.

+ Trung Mỹ: rau, đậu, bầu, bí, ngô, khoai tây.

Người nguyên thủy giờ đây có áo quần để mặc, có lương thực, thực phẩm dự trữ trong đồ gốm, có lửa để chống rét, v.v… Họ có thể rời hang động, mái đá dựng nhà, định cƣ lâu dài.

6 Dẫn theo Chiêm Tế. Lịch Sử thế giới Cổ đại.NXB Giáo Dục Hà Nội 1971.trang 49

Di tích các dãy nhà dài đƣợc các nhà khảo cổ học phát hiện ở châu Mỹ là một biểu tƣợng văn hóa độc đáo của xã thị tộc mẫu hệ.

Với tất cả các thành tựu này, đặc biệt thành tựu của kinh tế sản xuất, thời đại đồ đá mới đƣợc gọi là cách mạng đá mới.

Tổ chức xã hội

Công xã thị tộc mẫu hệ là tổ chức xã hội cơ bản của con người trong chế độ xã hội nguyên thủy. Họ cùng nhau khai phá rừng rậm, chặt cây dựng nhà, đào mương, khơi nước làm thủy lợi, cùng liên kết xua đuổi thú dữ, v.v…

Rừng rú, ao hồ, sông ngòi là tài sản chung của cả thị tộc, bộ lạc. Đó là chế độ sở hữu tập thể, các thành viên cùng nhau lao động, sản phẩm làm ra đƣợc chia đều. Người ta không phân biệt cái này là của tôi, cái kia là của anh. Các vị bô lão, tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, tăng lữ được xã hội tôn trọng. Mọi thành viên sống bình đẳng, tương thân tương ái trên cơ sở quan hệ huyết thống của họ mẹ.

Ăng Ghen nhận xét: “ Toàn thể các thành viên trong thị tộc đều là người tư do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do cho nhau. Tù trưởng cũng như thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên nào cả. Họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi quan hệ máu mủ. Tự do, bình đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức nhưng vẫn là nguyên tắc cơ bản của thị tộc”7 .

Sống bình đẳng, tương thân, tương ái chính là tập quán chung của con người trong xã hội nguyên thủy. Song ―cái vĩ đại ― này chỉ có thể tồn tại khi ―lực lượng sản xuất thấp kém”8.

Hôn nhân gia đình

Thời kì công xã thị tộc mẫu hệ, hôn nhân diễn ra dưới hình thức quần hôn.

Quần hôn là một tập thể đàn ông ở thị tộc này kết hôn với tập thể đàn bà ở thị tộc khác (chồng chung) và ngƣợc lại, tất cả đàn bà ở thị tộc này sẽ là vợ chung của những người đàn ông ở thị tộc kia. Bởi thế con cái sinh ra không thể biết chắc ai là cha mình. Hôn nhân chủ yếu do ý muốn của người phụ nữ. Dấu vết quần hôn còn để lại khá rõ nét – ví dụ hôn nhân chị em vợ, hôn nhân anh em chồng, hôn nhân một vợ nhiều chồng, v.v….

Giai đoạn cuối của chế độ mẫu quyền, từ hôn nhân quần hôn chuyển sang hình thức hôn nhân đối ngẫu. Hôn nhân đối ngẫu nghĩa là trong tập thể những người đàn ông, người đàn bà chọn cho mình một người có quan hệ mật thiết hơn và ngƣợc lại. Loại hôn nhân này không bền vững, vì nó chỉ là sự kết hợp tạm thời của từng đôi mà thôi.

Do hôn nhân là ngoại hôn và quần hôn tạo nên gia đình mẫu quyển. Những đứa con sinh ra chỉ biết mẹ và chị em bên mẹ. Cha của nó ở thị tộc bên kia. Đứng đầu gia đình là một người đàn bà cao tuổi, có uy tín, có kinh nghiệm chỉ đạo sản xuất, am hiểu phong tục tập quán của thị tộc. Số lƣợng thành viên của gia đình mẫu quyền rất đông, có khi lên đến vài trăm người. Do vậy, nhà dài là nhà ở của các gia đình mẫu hệ. Tuy người phụ nữ làm chủ gia đình và xã hội, nhưng quan hệ nam – nữ là bình đẳng.

Về ý thức

Nếu thời kỳ Bầy người nguyên thủy đã có mầm móng của tín ngưỡng, nghệ thuật, thì sang công xã thị tộc mẫu hệ, tín ngƣỡng, nghệ thuật chính thức ra đời.

Các hình thức tín ngƣỡng thể hiện khá phong phú: Họ sùng bái các hiện tƣợng tự nhiên (mây, gió, sấm sét); thực hiện các nghi lễ ma thuật nhƣ thuật làm hại, thuật tình yêu, thuật chữa bệnh ... ; thờ thần nông nghiệp…Nhiều hiện tƣợng thờ cúng còn tồn tại cho đến nay.

Nghệ thuật nguyên thủy ra đời trên cơ sở thực tiễn lao động. Các thành viên cùng ca hát, nhảy múa xung quanh ngọn lửa.

Họ biết tạc tƣợng bằng nguyên liệu đá, gỗ, sừng, ngà voi; chạm nổi hình động vật, người trên những pho tượng đó. Loại hình nghệ thuật này được gọi là nghệ thuật tạo hình.

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 21 - 25)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(196 trang)