Bài 4. ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
4.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƢ DÂN
4.2.3. Vương triều Mô-ri-a (321 – 184 TCN)
a. Chan-đ-ra-gup-ta và sự thành lập vương triều Mô-ri-a
Vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ có nhiều quốc gia nhỏ của người A-ri-an.
Những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các nước này không ngừng xảy ra, trong đó hai nước Ma-ga-đa và Cô-sa-la là mạnh nhất. Đến thế kỷ V TCN trãi qua những cuộc đấu tranh lâu dài và gay go, Ma-ga-đa đã chinh phục đƣợc Cô-sa-la và các nước xung quanh, trở thành một nước lớn mạnh ở vùng Đông bắc Ấn Độ. Còn miền tây bắc, các nước nhỏ vẫn ở trong tình trạng phân tán và luôn xung đột với nhau, tạo điều kiện cho kẻ thù bên ngoài đến xâm lƣợc Ấn Độ.
Năm 518 TCN, vua Ba Tƣ Đa-ri-ut I đã cho quân đội xâm chiếm vùng lưu vực sông In-dus của Ấn Độ và sáp nhập vào lãnh thổ đế quốc Ba Tư. Sự thống trị của Ba Tƣ ở Tây bắc Ấn Độ kéo dài gần hai thế kỷ, cho tới khi đế quốc Ba Tƣ sụp đổ (327 TCN).
Quân đội Hy Lạp – Ma-kê-đô-nia do A-lêch-xan Đại đế chỉ huy sau khi thôn tín Ba Tƣ đã kéo vào xâm chiếm miền tây bắc Ấn Độ. Những cuộc kháng chiến anh dũng nhân dân tây bắc Ấn Độ đã làm cho quân đội Hy Lạp – Ma-kê- đô-nia không dám tiến quân sang phía đông. Khi A-lêch- xan Đại đế rút quân về Ba-bi-lon và mất tại đó (323 TCN). Một viên tướng của đế quốc Hy Lạp – Ma- kê-đô-nia cai trị ở Ba Tư là Sê-lơ-cut I đã tuyên bố độc lập. Thành lập vương quốc Sê-lơ-xit ( hay vương quốc Hy Lạp – Ba Tư) và chiếm đóng cả miền tây bắc Ấn Độ.
Phong trào đấu tranh chống người Hy Lạp – Ba Tư thống trị đã phát triển mạnh mẽ ở miền tây bắc Ấn Độ do một quí tộc của vương quốc Ma-ga-đa là Chan-đ-ra-gup-ta lãnh đạo. Chan-đ-ra-gup-ta đã sáng lập ra vương triều Mô-ri-a (321 – 184 TCN), đế quốc thống nhất đầu tiên toàn miền bắc Ấn Độ.
b. Tình hình Ấn Độ dưới vương triều Mô-ry-a
Dưới vương triều Mô-ry-a, Ấn Độ bước vào thời kỳ lịch sử mới. Thủ đô của Ấn Độ lúc này là Pa-ta-li-pu-tơ-ra (nay là Pat-na) – một thành phố lớn, tráng lệ ở ngã ba sông Hằng, kinh đô này dài 15 km, rộng 3km, xung quanh có thành bao bọc, trên thành có 570 vọng gác, có 65 cửa ra vào, trong thành có
Kinh tế Ấn Độ dưới vương triều Mô-ry-a khá phát triển, diện tích trồng trọt được mở rộng hơn trước, nhiều công trình thủy lợi lớn được xây dựng, nhiều loại cây ăn quả, nhiều giống lúa mới đƣợc đƣa vào sản xuất.
Thủ công nghiệp cũng phát triển hơn so với các ngành dệt vải, luyện kim, đồ gốm,… các thợ thủ công chuyên nghiệp phần lớn sống tập trung ở các thành phố và họ đã thành lập ra các tổ chức tương tự như phường hội thủ công.
Việc buôn bán trao đổi ở Ấn Độ lúc này rất phát triển, kể cả nội và ngoại thương. Ấn Độ đã có mối quan hệ buôn bán với Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Á, Trung Quốc và với thế giới Địa Trung Hải. Do sự phát triển của thương nghiệp nên nền tiền tệ bằng kim loại đã ra đời, đến thế kỷ V TCN tiền tệ bằng bạc trở nên thông dụng.
Về chính trị, đứng đầu nhà nước là Vua với uy quyền rất lớn và được thần thánh hóa (Vua là một bộ phận của cơ thể các thần tạo nên). Dưới Vua là một bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương. Bộ máy triều đình được tổ chức bao gồm một hội đồng Thƣợng thƣ. Quan chức cao cấp nhất là Đại Tƣ tế (Tể tướng). Tiếp đó là hai thượng thư Ngân khố và Thuế vụ rồi đến các quan chức khác. Mỗi Thƣợng thƣ đƣợc phân phụ trách một số ngành, thông qua các cơ sở địa phương phụ trách một Sở một ngành chẳn hạn như đo lường, thương mại, nông nghiệp, lâm nghiệp… Nhà nước cũng đặt các phẩm trật quan chức, quy định chức năng, lương bổ một cách rõ ràng. Ví dụ lương Đại Tư tế là 48.000 pa-nas, Ngân khố và Thuế 24.000 pa-nas, các Thƣợng Thƣ khác 12.000 pa-nas,…
Về hành chính, toàn bộ lãnh thổ chia làm một đặc khu kinh đô và bốn tỉnh, mỗi nơi do một hoàng thân đứng đầu. Dưới tỉnh có huyện và làng. Làng và việc quản trị hầu nhƣ không biến đổi gì qua hàng thế kỷ.
Kết cấu xã hội cũng có những biến đổi phức tạp. Tầng lớp tăng lữ không mấy thay đổi về vị trí, chức năng nhưng không còn địa vị kinh tế như trước. Các quan chức và các nhà buôn giàu, có địa vị kinh tế cao nhƣng không giống nhau về vị trí xã hội. Tầng lớp bình dân gồm thợ thủ công làm các nghề nghiệp thông thường và nông dân. Cuối cùng là tầng lớp nô lệ (da-sa) chủ yếu làm các công việc hầu hạ, da-sa ở Ấn Độ cũng chỉ phát triển một cách hạn chế và mang tính chất gia trưởng như nhiều nước phương Đông khác. Người nông dân công xã sống trong các công xã nông thôn vẫn là lực lƣợng sản xuất chủ yếu của xã hội.
Vương triều Mô-ry-a thịnh trị nhất dưới triều vua A-sô-ca (272 – 232 TCN). Thời kỳ này lãnh thổ của đế quốc đƣợc mở rộng bao gồm toàn bộ miền bắc và trung Ấn Độ và một phần Ap-ga-nix-tan ngày nay. Trong cuộc chiến tranh chinh phục vương quốc Ca-lin-ga ở miền đông nam bán đảo Ấn Độ, một cuộc tàn sát khủng khiếp đã diễn ra (theo một sắc dụ của A-sô-ca, đƣợc tạc trên đá ghi lại có 150.000 người bị bắt, 100.000 người bị giết và số người bị thương còn nhiều hơn nữa).
Sau vụ tàn sát này, A-sô-ca đã sám hối nên dốc lòng theo Phật giáo, bố thí cho người nghèo khổ, khuyên răn đạo đức, xây dựng các chùa chiền Phật giáo,… Đạo Phật ở thành quốc giáo trong đế quốc A-sô-ca. Ông đã triệu tập đại hội Phật giáo toàn Ấn Độ ở kinh thành Pa-ta-li-pu-tơ-ra và cử nhiều phái bộ Phật giáo sang truyền bá đạo Phật ở nước Trung Á và Đông Nam Á.
Ngoài ra, ông còn cử sứ thần đặt quan hệ ngoại giao với nhiều nước như:
Xi-ri, Ai Cập, Ma-kê-đô-nia, đồng thời quan tâm khuyến khích việc giao thương Ấn Độ với các nước ngoài, mở mang cầu đường, bến cảng.
Hình 14: Vua Asôca
Nguồn: Nguyễn Thừa Hỷ.Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ. Trang 207
Sau khi A-sô-ca mất (232 TCN ), đế quốc Mô-ry-a suy yếu hẳn. Ở miền bắc Ấn, sau triều Mô-ry-a là vương triều Sun- ga và Can-va tiếp tục trị vì từ 232 đến 28 TCN thì bị người Sha-kar ở phía tây chinh phục.
Miền tây bắc, miền trung và nam Ân tồn tại các vương triều với các quyền tự chủ riêng, trong đó có các vương triều lớn như Ka-lin-ga, Kus-ha-na, An-d-h-ras, Pan-d-ya,…
Như thế, sau thời kỳ thống nhất dưới vương triều Mô-ry-a (321 – 232 TCN), năm thế kỷ tiếp theo là giai đoạn chia cắt, phân tán để phát triển tương đối đồng đều nhau hơn, trong từng phạm vi nhỏ ở mỗi phần bán đảo.