Bài 4. ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
4.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƢ DÂN
4.2.2. Thời kì Vê-đa (1500TCN-600TCN)
Vào khoảng 1500 TCN, một số bộ lạc thuộc chủng tộc người A-ri-an (người da trắng nói ngôn ngữ Ấn – Âu) từ vùng thảo nguyên Trung Á đã di cư vào Ấn Độ, một số ít dừng chân ở thung lũng sông In-dus còn phần lớn tiếp tục đi về phía đông và định cư ở lưu vực sông Hằng (Gan-ga).
Việc xâm nhập vào Ấn Độ của người A-ri-an chắc chắn diễn ra trong một thời gian lâu dài, cho đến khi họ lập xong vùng đất mang tên A-ri-a-vac-ta (đất nước của người A-ri-an).
Khi vào Ấn Độ, người A-ri-an đang sống ở giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy, sinh sống bằng nghề chăn nuôi du mục. Ở trình độ sinh hoạt kinh tế thấp hơn người Đ-ra-vi-đa nhưng họ chinh phục được người Đ-ra- vi-đa vì các bộ lạc A-ri-an du mục hiếu chiến, hung hãn và Đ-ra-vi-đa đang ở thời kỳ văn minh suy tàn. Với sự xâm nhập của người A-ri-an, lịch sử Ấn Độ bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ Vê-đa (thời kỳ lịch sử của Ấn Độ được phản ánh trong bộ kinh Vê-đa) .
Thời kỳ Vê-đa, trung tâm của nền văn minh Ấn Độ đã chuyển từ lưu vực sông Ấn sang lưu vực sông Hằng. Đây là thời kỳ tan rã chế độ công xã nguyên thủy của người A-ri-an, nhà nước ra đời, đồng thời đây cũng là thời kỳ xuất
16 Dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ. Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ. Trang 153.
hiện một chế độ đẳng cấp đặc biệt của Ấn Độ - chế độ đẳng cấp Vac-na và một tôn giáo đặc biệt của Ấn Độ cổ đại – đạo Bà-la-môn.
b. Tình hình kinh tế
Khi người A-ri-an đến định cư ở lưu vực sông Hằng, họ đã chuyển từ đời sống chăn nuôi du mục sang định cƣ nông nghiệp. Họ dùng công cụ đồng, đá đẽo và các dụng cụ bằng gỗ nhất là lƣỡi cày. Cuối thời kỳ Vê-đa đồ sắt ra đời, lƣỡi cày bằng gỗ đƣợc thay bằng lƣỡi cày sắt làm cho nông nghiệp ngày càng tiến bộ rõ rệt. Việc tưới nước nhân tạo ngày càng được chú ý và các loại nông phẩm ngày càng phong phú nhƣ ngoài đại mạch còn có lúa mì, vừng, đậu, mía, bông,….
Nghề chăn nuôi gia súc hết sức đƣợc chú ý mà chủ yếu là nuôi bò, ngựa, dê, cừu trong đó bò và ngựa giữ vị trí quan trọng nhất.
Thủ công nghiệp cũng dần phát triển với các ngành nhƣ dệt vải, đúc đồng, gốm, nhuộm,… Việc trao đổi sản phẩm thủ công nghiệp và nông nghiệp giữa các vùng đƣợc đẩy mạnh, hình thức trao đổi chủ yếu vẫn là vật đổi vật, tuy nhiên người ta cũng biết dung bò làm vật môi giới và sau đó là một loại tiền tệ gọi là nich-ka (sau đó nich-ka trở thành tên gọi của tiền vàng).
c. Công xã thị tộc tan rã, nhà nước ra đời
Khi vào Ấn Độ, người A-ri-an đang ở vào giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, dần dần do sự phát triển của sản xuất, do sự phân hóa tài sản, nhiều công xã nông thôn xuất hiện tồn tại song song với các công xã thị tộc.
Trong quá trình đó, nô lệ ra đời và gọi là ―đa-xa‖ (lúc đầu nghĩa là ―kẻ thù‖, là ―người ngoài‖, về sau mới biến thành từ để chỉ nô lệ), số lượng nô lệ tăng lên và nguồn gốc cũng phức tạp hơn, nô lệ chủ yếu sống trong các gia đình của chủ để hầu hạ chủ.
Sự phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ dẫn đến việc hình thành nhà nước, từ chỗ là các thủ lĩnh quân sự, đứng đầu liên minh bộ lạc, các Ra-da dần tập trung mọi quyền lực vào trong tay mình, ngôi Ra-da trở thành cha truyền con nối. Giúp việc cho Ra-da (vua) có bộ máy quan lại gồm những người quản lý các việc tế lễ, thu thuế, kho tàng, chỉ huy quân đội… Đến đây, chế độ công xã nguyên thủy tan rã, nhà nước chính thức ra đời.
d. Chế độ đẳng cấp Vac-na
Chế độ đẳng cấp Vac-na là chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, về dòng họ, về nghề nghiệp và tôn giáo.
Chế độ đẳng cấp Vac-na hình thành trong quá trình người A-ri-an chinh phục và thống trị người Đ-ra-vi-đa, trong quá trình phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc giữa quí tộc và thường dân, giữa những người theo nghề nghiệp này với
những người theo nghề nghiệp khác, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác trong nội bộ người A-ri-an.
Theo chế độ đẳng cấp Vac-na người da trắng (A-ri-an) thuộc loại ―sinh ra là đã quí tộc‖, đƣợc xếp vào ba đẳng cấp trên theo nghề nghiệp chuyên môn của họ: đẳng cấp thứ nhất là Tăng lữ Bà-la-môn (B-ra-man), gồm những giáo sĩ phụ trách nghiên cứu, giảng kinh Vê-đa, tế tự. Đẳng cấp thứ hai là quí tộc vũ sĩ (K-sa-tơ-ria) gồm quí tộc, vương công, vũ sĩ có nhiệm vụ học kinh Vê-đa, cai trị dân hay luyện tập quân sự để bảo vệ lãnh thổ và tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lƣợc. Đẳng cấp thứ ba là đẳng cấp bình dân (Vai-xia) gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân có nhiệm vụ sản xuất, cung cấp mọi thứ cho hai đẳng cấp trên, ngoài ra còn nạp thuế lao dịch,…Đẳng cấp cuối cùng là Su-đơ-ra bao gồm đại bộ phận người da sẫm Đ-ra-vi-đa, phải làm những công việc phục dịch, hầu hạ và những công việc mà người A-ri-an cho là ―bẩn thỉu‖ như nghề đồ tể, chôn cất người chết.
Tuy giữa các đẳng cấp đều có sự phân biệt, nhƣng ranh giới sâu sắc nhất trong thời kỳ đầu là giữa ba đẳng cấp trên với Su-đơ-ra, hay nói cách khác giữa cộng đồng A-ri-an với người bản địa Đ-ra-vi-đa. Sự phân biệt giữa các đẳng cấp thể hiện rất nhiều mặt và đã đƣợc thể hiện trong bộ luật Ma-nu. Bộ luật này qui định không đƣợc kết hôn ngoài đẳng cấp. Tuy nhiên, đàn ông đẳng cấp trên vẫn có thể lấy vợ ở đẳng cấp dưới, còn trường hợp trái lại thì tuyệt đối cấm. Cũng theo bộ luật này, nếu giết chết một người Bà-la-môn thì xử tội rất nặng, nếu giết chết một người K-sa-tơ-ria thì bị xử tôi băng 1/4 tội giết chết một người Bà-la- môn, giết chết người Vai-xia thì bị xử tội bằng 1/8 và nếu giết chết một người Su-đơ-ra thì bị xử tội bằng 1/16 mà thôi.
Như vậy, trong 4 đẳng cấp Bà-la-môn đước coi trọng nhất, thân thể của những người thuộc đẳng cấp này là không thể xâm phạm. Nếu Su-đơ-ra xúc phạm đến Bà-la-môn thì bị cắt lƣỡi, rót dầu soi vào miệng, vào tai, nhƣng ngược lại người thuộc đẳng cấp Bà-la-môn phạm tội lại không bị xử tử.
Đối lập với đẳng cấp Bà-la-môn là đẳng cấp Su-đơ-ra, thân phận của họ không khác gì nô lệ. Đặc biệt là con cái của người đàn ông Su-đơ-ra lấy người phụ nữ Bà-la-môn sẽ là hạng người ô uế, ghê tởm nhất. Loại người này được gọi là San-đa-la (hạ lưu sông Hằng) hay Pa-ria (vùng Đê-can), họ không được sống trong làng, mặc quần áo như quần áo người chết, ăn cơm trong bát vỡ, làm những công việc bẩn thỉu nhất nhƣ quét rác, đao phủ, canh nghĩa địa,…
Tóm lại, chế độ đẳng cấp Vac-na là một sự phân biệt chủng tính vô cùng khắc khe và khắc nghiệt, bất công và tàn bạo nhất, tạo ra sức ì đối với sự phát triển của xã hội.
e. Đạo Bà- la-môn
Người A-ri-an vào Ấn Độ mang theo một số tín ngưỡng nguyên thủy và du nhập tín ngƣỡng của Đ-ra-vi-đa thành tôn giáo riêng, gọi là đạo Vê-đa. Đạo
Vê-đa thờ rất nhiều thần: thần tự nhiên, thần động vật, thần cây, rắn thần, khỉ thần, bò thần cho đến thần trời, đất, mƣa, gió, sấm, lửa,….
Khi xã hội Ấn Độ phân hóa giai cấp và nhà nước ra đời (thiên niên kỷ I TCN), đạo Vê-đa không thích hợp nữa, một tôn giáo mới của xã hội có giai cấp ở Ấn Độ ra đời: đạo Bà-la-môn.
Đạo Bà-la-môn thờ ba vị thần tối cao là thần B-ra-ma (thần Sáng tạo), thần Vic-nu (thần bảo vệ), thần Si-va (thần phá hoại). Một số thần phụ đƣợc trọng vọng nhƣ thần Lắc-mi (vợ của thần Vic-nu), nữ thần Pac-va-ti (vợ thần Si-va), nữ thần Gan-ga (thần ngự trị trên sông Gan-ga), thần voi, thần khỉ, thần bò,…
Đạo Bà-la-môn đề cao thuyết‖ luân hồi – nhân quả‖ _ khi con người chết đi chỉ có phần thể xác là bị hủy diệt, còn linh hồn (at-ma) có thể di chuyển sang một thân xác khác, tốt hay xấu tùy theo ―nghiệp‖ (Kar-ma) ở kiếp trước.
Thuyết ―Thiên – nhân nhất thể‖ cho rằng các giáo sĩ nhờ tu luyện nên linh hồn (at-man) của họ hòa hợp với khí thiêng của đấng tối linh (B-ra-h-ma), diệt đƣợc tội truyền kiếp (Kar-ma), hủy đƣợc nạn luân hồi (Sam-sa-ra), nhờ đó mà tìm đƣợc cõi giải thoát (mo-ka).
Sự tồn tại của chế độ đẳng cấp Vac-na và sự khác nhau về quyền lợi và địa vị giữa 4 đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại đƣợc giải thích: các đẳng cấp do thần B-ra-ma tạo ―từ sự phồn vinh của cả thế giới, từ miệng, tay, đùi và bàn chân của mình, ngài đã tạo ra Bà-la-môn, K-sa-tơ-ria, Vai-sia và Su-đơ-ra‖, do thần tạo ra nên không thể thay đổi được, con người nên an phận. Với những quan điểm\trên, đạo Bà-la-môn đã dùng những tư tưởng duy tâm, tôn giáo, siêu hình để giải thích các hiện tƣợng xã hội.
Từ thế kỷ IV TCN, đẳng cấp quí tộc vũ sĩ có thế lực lớn, vua của các vương quốc hùng mạnh và đẳng cấp bình dân có địa vị kinh tế, nhất là thương nhân rất giàu có cũng bắt đầu có ảnh hưởng chính trị, họ không để cho đẳng cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng đầu trong xã hội. Vì thế, trong giai đoạn này nhiều môn phái triết học và tôn giáo mới đã xuất hiện, trong đó quan trọng nhất là đạo Phật.
g. Sự ra đời, giáo lí của đạo Phật nguyên thủy
Vào khoảng thế kỷ VI TCN, đạo phật ra đời. Người sáng lập ra đạo Phật là hoàng tử Xit-đat-ta Gô-ta-ma, hiệu là Sa-ky-a Mu-ni (Thích ca Mâu-ni), con vua nước Ka-pi-la-va-xtu, phía nam dãy Hi-ma-lay-a (thuộc vương quốc Nê- pan) bây giờ, Ngài sinh khoảng 563 TCN và mất năm 483 TCN.
Năm 29 tuổi Gô-ta-ma chán ghét cuộc đời đầy cảnh sinh, lão, bệnh, tử.
Ngài đã từ bỏ vợ con và sống cuộc sống giàu sang ở cung điện vào rừng tu hành khổ hạnh. Năm 35 tuổi, Ngài đã hiểu đƣợc bản chất của sự tồn tại, nguồn gốc
trở thành Phật (But-đa – có nghĩa là ―Người giác ngộ chân lý‖). Suốt 45 năm còn lại, Ngài đã đi khắp miền trung lưu vực sông Hằng để tuyên truyền cho giáo lý của mình.
Giáo lý cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (Bốn chân lý kỳ diệu) gồm:
- Khổ đế (là chân lý về các nỗi khổ).
- Tập đế (là chân lý về nguyên nhân các nỗi khổ).
- Diệt đế (là chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ) để ngăn ngừa luân hồi, tiêu diệt nghiệp báo thì phải trừ bỏ hết mọi ham muốn.
- Đạo đế (là chân lý về con đường diệt khổ). Con đường đó gọi là “bát chính đạo” (8 con đường đúng đắn) gồm:
+ Chính kiến (tín ngƣỡng đúng đắn).
+ Chính tƣ duy (suy nghĩ đúng đắn).
+ Chính ngữ (nói năng đúng đắn).
+ Chính nghiệp (hành động đúng đắn).
+ Chính mệnh (mưu sinh đúng đắn).
+ Chính tịnh tiến (tấn tới một cách đúng đắn).
+ Chính niệm (tưởng nhớ những cái đúng đắn).
+ Chính định (ngƣng hoạt động, tịnh chỉ các hành trong thân và tâm).
Đạo Phật giống đạo Bà-la-môn là thừa nhận có luân hồi, nghiệp báo, song lại khác đạo Bà-la-môn khi cho rằng không có vị thần linh tối cao tạo ra vũ trụ. Đạo lý của đạo Phật căn bản vạch cho mọi người con đường thoát khỏi bánh xe luân hồi để lên cỏi Niết bàn chủ yếu bằng con đường bài trừ dục vọng.
Ngoài ra, với những hành động và ý muốn tốt với mọi người, mọi vật (như bố thí, không làm việc ác,…) cũng giúp cho giảm nhẹ ―nghiệp‖.
Với chủ trương từ bi – bình đẳng - bác ái. Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến hế độ đẳng cấp, vì đạo Phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để cứu vớt.
Như vậy đạo Phật là học thuyết khuyên người ta phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm cái thiện để đƣợc giải thoát chứ không thừa nhận Thƣợng đế và các vị thần linh bảo hộ. Do đó không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thầy cúng. Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công, đầy rẫy bạo lực, thì những chủ trương đó của đạo Phật là tích cực nên được nhân dân hưởng ứng rất đông đảo và trở thành quốc giáo vào thế kỷ III TCN.
Vào khoảng đầu công nguyên, đạo Phật phân chia thành hai giáo phái.
Phật giáo Đại Thừa có nghĩa là ―Bánh xe lớn‖ hay ―con đường giải thoát lớn‖,
hình thành ở miền Bắc Ấn, chủ trương mở rộng con đường giải thoát vòng luân hồi, nghiệp báo (không phải xuất gia).
Phật giáo Tiểu Thừa có nghĩa ―Bánh xe nhỏ‖ hay ―con đường giải thoát nhỏ‖, yêu cầu Phật tử phải tự giải thoát cho mình bằng cách xuất gia. Phật giáo Đại Thừa đƣợc truyền bá sang Tây Tạng, Trung Quốc, rồi từ đó sang Triều Tiên, Nhật Bản, bắc Việt Nam, còn Phật giáo Tiểu thừa đƣợc truyền bá rộng rãi ở các nước Đông Nam Á.