Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học tự nhiên, đối tƣợng nghiên cứu về đất đai là đất tự nhiên, còn gọi là thổ nhƣỡng (Soil); trong lĩnh vực kinh tế, đối tƣợng nghiên cứu là đất đai (Land).
a. Đất (Soils)
Khái niệm về Đất (Soils): Thuật ngữ đất đƣợc Dokuchaev (1886) đƣa ra và đƣợc nhiều nhà khoa học chấp nhận “Đất là một thể tự nhiên” đƣợc hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa phương. Sau đó cũng chính tác giả đã bổ sung thêm một yếu tố nữa là tác động của con người. Theo Wiliam, đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Ông cũng là người đưa ra khái niệm về độ phì đất, khả năng cung cấp cho cây trồng nước, thức ăn, khoáng chất và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ,...) để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009).
Nhìn từ góc độ thổ nhƣỡng học, nguồn gốc ban đầu của đất (Soil) là từ các loại đá mẹ nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác động của các yếu tố lý học, hóa học và sinh học (Nguyễn Mười và cs., 2000).
Đất là một vật thể sống, một vật mang của các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất, con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất
“mang” trên mình nó (Lê Văn Khoa, 1993; Đoàn Công Quỳ và cs., 2006).
b. Đất đai (Land)
Theo FAO (1976), đất đai phải được nhìn nhận dưới góc độ là vật mang của các hệ sinh thái (Carrier). Theo quan điểm này đất đai đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Một vạt đất xác định về mặt địa lý là diện tích của bề mặt trái đất với các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chu kỳ có thể dự đoán được của lớp đệm bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: khí hậu, đất (Soils), điều kiện địa chất, điều kiện thủy văn, thực vật và động vật, những kết quả hoạt động hiện nay và quá khứ. Ở chừng mực có thể xác định được những thuộc tính ảnh hưởng có ý nghĩa tới
việc sử dụng đất đó của con người trước mắt cũng như lâu dài. Một khoanh đất biểu thị tổng hợp các yếu tố nói trên chính là một đơn vị sinh thái cơ sở hay còn gọi là một đơn vị đất đai (FAO, 1976) và nó có một mức độ thích hợp với loại sử dụng đất, trong mức thích hợp đó vẫn có những thuộc tính hạn chế. Các thuộc tính nói trên phản ánh chất lƣợng đất đai của vạt đất ấy. Chất lƣợng đất đai của một nhân tố sinh thái, nghĩa là không chỉ dừng lại ở lớp đất mặt (Soils) mà còn phải xem xét các thuộc tính khác có liên quan đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng hay vật nuôi. Các thuộc tính này bao gồm: các yếu tố khí hậu nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa; các yếu tố thuộc về đặc tính của đất (Soils) nhƣ loại đất, thành phần cơ giới, độ phì, độ dốc, nước tưới, tiêu nước,...
Đất đai với nghĩa tổng quát là lớp phủ bề mặt của vỏ trái đất mà đặc tính của nó đƣợc xem nhƣ bao gồm những đặc tính tự nhiên quyết định khả năng khai thác đƣợc hay không và ở mức độ nào của vùng đất đó. Đất đai là một thực thể sống hình thành trong thời gian dài, là một trong thành phần quan trọng làm nhiệm vụ nuôi sống tất cả các sinh vật trên trái đất (Tôn Thất Chiểu và cs., 1992).
Đất đai có vị trí cố định, tính chất hữu hạn về diện tích, tính năng bền lâu, chất lƣợng khác nhau (Viện Nghiên cứu phổ biến trí thức Bách Khoa, 1998).
Đất đai mà chúng ta có đƣợc hôm nay không chỉ là “tài nguyên thiên nhiên cho không con người” (Các Mác) mà cũng là thành quả lao động của nhiều thế hệ trước ta để lại “Cố công sống lấy nghìn năm để xem thửa ruộng mấy trăm người cày” (Ca dao Việt Nam); Một số dân tộc khác trên thế giới cũng cho rằng “Đất đai là tài sản vay mƣợn của con cháu” (Tôn Gia Huyên, 2008).
Đất đai không chỉ giới hạn là bề mặt trái đất, mà còn đƣợc hiểu nhƣ là khái niệm pháp lý về bất động sản. Tài sản hợp pháp đƣợc định nghĩa là không gian bên trên, dưới hoặc trên mặt đất và bao gồm một số công trình xây dựng về mặt vật chất hoặc pháp lý gắn với tài sản đó, ví dụ một tòa nhà. Khái niệm đất đai cũng bao gồm các khu vực có nước bao phủ (Tommy, 2011).
Đặc tính tự nhiên của đất đai là sự cố định về vị trí, không thể di chuyển. Sự hữu hạn về diện tích (số lƣợng), không thể tái sinh; sự không đồng nhất về chất lƣợng và giá trị sử dụng; có thể sử dụng lâu dài mà không phải “khấu hao” (Đỗ Hậu và Nguyễn Đình Bồng, 2012).
Theo Hiến pháp năm 2013: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2014).
Trần An Phong (1996), Nguyễn Thế Đặng và cs. (2003) cho rằng, khái niệm đất đai trong đánh giá đất của FAO rộng hơn khái niệm thổ nhƣỡng (Soils).
Theo Nguyễn Văn Toàn (2003), sự khác nhau giữa chất lƣợng đất đai (Land Qualities) với chất lƣợng đất (Soil Qualities) là trong các thuộc tính của chất lƣợng đất đai, ngoài các yếu tố nền là thổ nhƣỡng còn có sự tham gia của các yếu tố khí hậu, các yếu tố nước, còn chất lượng đất chỉ bao gồm các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học đất.
c. Loại sử dụng đất (Land Use Type - LUT)
Hệ thống sử dụng đất là một loại sử dụng đất cụ thể thực hiện trên một đơn vị đất đai và liên quan đến đầu tƣ, thu nhập và khả năng cải tạo (FAO, 1983). Sự kết hợp của một đơn vị đất đai và một loại sử dụng đất với một bộ yêu cầu sử dụng đất là một hệ thống sử dụng đất (Land Use System - LUS). Những hệ thống sử dụng đất nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp,... có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố liên quan đến sản xuất nhƣ kỹ thuật công nghệ, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tổ chức sản xuất, thị trường,... (Tôn Thất Chiểu và Đỗ Đình Thuận, 1998).
Loại sử dụng đất đai chính: Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho nhiều phương thức sử dụng (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998): Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (làm đất canh tác để trồng trọt, làm đồng cỏ, trồng rừng lấy gỗ,...); Sử dụng trên cơ sở sản xuất gián tiếp (nhƣ làm bãi chăn thả, chuồng trại chăn nuôi); Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm). Các hình thức sử dụng đất đƣợc coi là loại sử dụng đất chính. Ở thời kỳ bình minh của nhân loại, khi con người mới chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp bằng hình thức tra lỗ bỏ hạt hay thả rông gia súc trên đồng cỏ tự nhiên, đó là các hình thức của loại sử dụng đất chính đƣợc gọi là “canh tác nhờ nước mưa”. Sau này khi thuỷ lợi được áp dụng, con người biết đưa nước từ sông hồ vào đồng ruộng để canh tác lúa và hoa màu. Loại sử dụng đất đai chính “nông nghiệp có tưới” ra đời.
Loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT): Loại sử dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật đƣợc xác định (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998): Các thuộc tính loại sử dụng đất bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai nhƣ kỹ thuật canh tác, sức kéo trong làm đất, đầu tƣ kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế - xã hội như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai,...
2.1.1.2. Đất nông nghiệp a. Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2013).
b. Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp
Đối với sản xuất nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệt, đó là tƣ liệu sản xuất chính không thể thay thế và là đối tượng lao động mà con người tác động vào trong quá trình sản xuất. Đất còn là công cụ sản xuất, nhờ nó mà con người tác động vào cây trồng do nó sản xuất ra. Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt vì nó có những đặc điểm gồm: Đất đai có hạn về diện tích; Đất đai là tƣ liệu sản xuất không bị hao mòn; Đất đai không đồng nhất về địa hình và chất lƣợng; Đất đai đƣợc hình thành trước khi con người xuất hiện nên nó không phải là sản phẩm của con người. Tuy nhiên quyền chiếm hữu, quản lý, khai thác, sử dụng lại là kết quả của một quá trình lịch sử do con người đấu tranh, tạo lập và khẳng định. Do vậy, quỹ đất nông nghiệp và các tính chất của đất nông nghiệp là yếu tố cơ sở nền tảng và là tiền đề cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp.
2.1.1.3. Sử dụng đất nông nghiệp a. Khái niệm sử dụng đất nông nghiệp
Nông nghiệp trong tiếng Anh là Agriculture có gốc latinh từ chữ Agri (đất đai) và Culture (canh tác, trồng trọt) hợp lại, nghĩa là canh tác trên đất đai. Theo quan điểm hiện đại về nông nghiệp, đất canh tác trồng ngũ cốc chẳng qua là nói về thực vật trực tiếp hấp thụ mầu mỡ của đất để sinh trưởng, còn dùng thực vật để làm thức ăn cho động vật thì sử dụng đất vào sản xuất một cách gián tiếp. Cho nên, nói theo nghĩa rộng, nông nghiệp là một ngành sản xuất mà loài người sử dụng đất để có sản phẩm động vật và thực vật. Hành vi tạo ra lợi ích từ sản xuất nông nghiệp thông qua việc sử dụng đất đai, lao động và vốn, đó là việc sử dụng đất nông nghiệp. Khi nói đến nông nghiệp là đề cập cả 4 lĩnh vực: nông, lâm, ngƣ và chăn nuôi.
Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn, để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tuỳ vào mức độ phát triển kinh tế, xã hội,
ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái (Vương Quang Viễn, 1971).
b. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp
Theo tác giả Nhan Ái Tĩnh (1999), sử dụng đất nông nghiệp có đặc điểm:
(i) Sử dụng đất nông nghiệp đặc biệt coi trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất.
Nghề trồng trọt gắn liền mật thiết với việc sử dụng đất nông nghiệp, vì vậy cây trồng trực tiếp hấp thu nước và thức ăn trong đất để sinh trưởng, trổ cành đâm lá làm tiêu hao một lƣợng lớn chất hữu cơ trong đất, coi trọng việc duy trì độ phì nhiêu trong đất là có lợi cho sản xuất. Độ phì nhiêu của đất không phải là không thay đổi, nếu dùng quá liều lƣợng phân hoá học sẽ làm cho chất đất đanh lại, nếu dùng phương pháp canh tác kiểu cướp đoạt sẽ làm cho độ phì nhiêu bị tổn thất, biến ruộng tốt thành đất cằn. Do đó, duy trì và làm tăng độ phì nhiêu của đất là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của kinh doanh nông nghiệp.
(ii) Sử dụng đất nông nghiệp là khác nhau theo vùng. Do việc sử dụng đất nông nghiệp chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xu thế phát triển kinh tế, xã hội, nên sự khác biệt theo khu vực là rất rõ ràng. Có thể thấy rõ sự khác nhau giữa các khu vực về mức độ tác động của các yếu tố nhiệt độ, lƣợng mƣa, gió, địa hình, vị trí với việc sử dụng đất nông nghiệp ở mức độ nào.
(iii) Hiệu quả kinh tế của quy mô sử dụng đất nông nghiệp không lớn. Nông nghiệp là ngành sản xuất hữu cơ hoặc sinh vật bị hạn chế bởi điều kiện tự nhiên, lợi nhuận thấp tác dụng của quy luật khấu hao tương đối nhanh nếu đem so sánh với công nghiệp thì hiệu quả kinh tế về quy mô tương đối không rõ ràng.
c. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Theo Đỗ Kim Chung và cs. (1997), sử dụng đất nông nghiệp tuân thủ theo 3 nguyên tắc sau:
(i) Đất nông nghiệp cần đƣợc sử dụng đầy đủ và hợp lý: Sử dụng đầy đủ và hợp lý có nghĩa là đất nông nghiệp cần đƣợc sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều đƣợc bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì đƣợc độ phì nhiêu của đất.
(ii) Đất nông nghiệp cần đƣợc sử dụng có hiệu quả cao: Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp. Nguyên tắc chung là đầu tƣ vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó.
(iii) Đất nông nghiệp cần đƣợc quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lƣợng và chất lƣợng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng đƣợc cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau. Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường. Vì vậy cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hoà với lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài.
d. Tiềm năng đất nông nghiệp thế giới
Đất đai thế giới có chừng 150 triệu km2, nhƣng 4 5 diện tích không thuận lợi cho nông nghiệp vì quá lạnh và quá nóng, đất quá dốc, tầng đất mỏng. Nếu trừ diện tích sông ngòi, đường sá, thành phố thì còn khoảng 30 triệu km2 có thể canh tác thuận lợi, đến năm 1976, thế giới mới khai thác đƣợc 15 triệu km2, trong số đó mới thực sự thu hoạch đƣợc ổn định trên 12 triệu km2. Riêng vùng nhiệt đới ẩm của thế giới, diện tích chiếm 36 triệu km2 (24% tổng diện tích đất đai toàn cầu) mà mới thực sự thu hoạch trên 4 triệu km2 (ứng với 11% khả năng), vùng ôn đới thế giới, tương ứng là 8 triệu km2 chiếm 28% khả năng (Vũ Ngọc Tuyên, 1994).
Tuy nhiên, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị thoái hóa, ô nhiễm chưa từng có do hoạt động phát triển kinh tế của con người, do phá rừng, do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu,... nhiều diện tích đất bị hoang mạc hóa, sa mạc hóa (Vũ Năng Dũng, 2015). Không ít quốc gia đã thúc đẩy sản xuất tới mức nếu cứ tiếp tục duy trì các biện pháp chăn nuôi và canh tác nhƣ hiện nay, thì có thể sẽ xuất hiện trạng thái không thể tiếp tục tăng trưởng được nữa. Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải tính đến việc lựa chọn một mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng bảo tồn được môi trường, nghĩa là việc tiếp tục tăng trưởng các hoạt động sản xuất nông nghiệp không dẫn tới giảm năng suất trong tương lai gần (Chu Tiến Quang và Lê Xuân Đình, 2007). Do vậy, để hạn chế được những tại họa này con người cần có cách thức sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và bền vững. Việc sử dụng đất hiệu quả và bền vững đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu tất yếu (Lê Thái Bạt và Phạm Quang Khánh, 2015).
e. Sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Theo Tôn Gia Huyên (2008), sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp. Nó quan hệ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, hiện tại và tương lai. Sử dụng đất bền vững là làm giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông minh các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp. Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến các hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, đồng thời bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển nông thôn, hiện tại và tương lai.
Sự phát triển bền vững trong nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động, thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận đƣợc về mặt xã hội (Smith and Dumanski, 1993).
Nhƣ vậy, sử dụng đất nông nghiệp bền vững là sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng các thế hệ và hạn chế rủi ro.
f. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống (FAO, 1990) nghĩa là hiệu quả phải đƣợc xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995).
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993). Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản phẩm nông nghiệp đến các vấn đề xã hội nhƣ giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông