Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hợp lý

Một phần của tài liệu Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn huyện nam sách, tỉnh hải dương (Trang 158 - 164)

4.5.2.1. Quan điểm và tiêu chí định hướng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp huyện Nam Sách

a. Quan điểm chung trong định hướng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nam Sách

Đổi mới quản lý và sử dụng đất lúa theo hướng linh hoạt, vừa đảm bảo an ninh lương thực nhưng vừa đảm bảo ổn định và ngày càng gia tăng thu nhập cho hộ nông dân trên một đơn vị diện tích đất lúa. Theo đó đất lúa cần đƣợc phân khu theo cấp độ quản lý nghiêm ngặt và cho phép chuyển đổi theo quy định của Luật Đất đai, khi cần thiết có thể chuyển lại trồng cây hàng năm (trong đó có cây lúa).

Căn cứ để phân khu theo cấp độ quản lý dựa trên kết quả phân hạng mức độ thích hợp đất đai và phải được cụ thể hoá bằng các tiêu chí và chỉ tiêu tương ứng phù hợp bố trí sử dụng đất nông nghiệp.

Hình thành vùng sản xuất chuyên canh, đổi mới hệ thống cây trồng trên đất sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng, đưa cây trồng có giá trị kinh tế cao thay thế nông sản nhập khẩu để gieo trồng trong vụ Đông ở vùng chuyên lúa, phục vụ cho chế biến thức ăn chăn nuôi.

b. Tiêu chí quản lý sử dụng đất lúa

Đất trồng lúa đƣợc quản lý nghiêm ngặt bao gồm những khoanh đất có điều kiện sản xuất lúa thuận lợi, chủ động tưới và tiêu, có mức rất thích hợp với trồng 2 vụ lúa - 1 vụ màu (S1) và thích hợp (S2), độ phì của đất tối thiểu ở mức trung bình. Sản xuất lúa 2 vụ ổn định và có thể đạt năng suất 90% so với năng suất tiềm năng của giống. Đất không có yếu tố hạn chế đáng kể.

Đất trồng lúa bao gồm những khoanh đất có điều kiện sản xuất thuận lợi ít hơn so với loại đất quản lý nghiêm ngặt, có mức thích hợp S2, bị hạn nhẹ hoặc úng nhẹ hoặc do địa hình kém bằng phẳng, loại đất và độ phì ở mức trung bình, nhƣng không có nguy cơ mất mùa. Gieo trồng đƣợc 2 vụ lúa hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ màu, năng suất lúa có thể đạt 60% năng suất tiềm năng của giống trở lên.

Đất trồng lúa cho phép chuyển đổi bao gồm các khoanh đất ít thích hợp với trồng lúa (S3) của cả 3 kiểu sử dụng đất, đất chỉ gieo trồng 1 vụ lúa trong năm hoặc 2 vụ nhưng do điều kiện cuối nguồn nước, địa hình cao phải sử dụng bơm tưới nên chí phí đầu vào cao, đất có độ phì thấp. Năng suất lúa chỉ đạt trên 40%

năng suất tiềm năng của giống.

4.5.2.2. Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất nông nghiệp huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

a. Nhóm giải pháp về quản lý đất nông nghiệp

* Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch

Quy hoạch chi tiết sử dụng đất nông nghiệp (chú trọng đất lúa) không những chỉ là yêu cầu cần thực hiện của Nghị định 42 2012 NĐ-CP về quản lý sử dụng đất lúa là công cụ để quản lý nhà nước về đất lúa. Đây cũng là tồn tại đã đƣợc đề cập đến trong phần thực trạng quản lý đất lúa hiện nay. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi giá lương thực không ổn định, chi phí đầu vào ngày một gia tăng và giá thóc chỉ tăng 1,3 lần. Do vậy cần quy hoạch chi tiết trên nền bản đồ địa chính 1 1000, giúp cho việc xác định ranh giới trên bản đồ và ngoài đồng ruộng một cách chính xác. Quy hoạch phải dựa trên định hướng đề xuất nói trên theo 3 cấp độ, cấp quản lý nghiêm ngặt bằng ranh giới đỏ, cấp độ linh hoạt theo ranh giới vàng và cho phép chuyển đổi theo lộ trình từ nay đến năm 2020 thể hiện bằng ranh giới dễ nhận biết.

Trong quy hoạch sử dụng đất, các chỉ tiêu chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp cần đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và bền vững.

Xây dựng quy hoạch sản xuất nông nghiệp gắn với quy hoạch xây dụng nông thôn mới, đồng thời cần chú trọng gắn với quy mô đất (theo quy hoạch sử dụng đất) để bố trí cơ cấu mùa vụ, sản phẩm có sức cạnh tranh, hình thành các vùng nông sản hàng hoá chủ lực, phù hợp với định hướng phát triển thị trường.

Phân bố sử dụng đất cho ngành kinh tế quốc dân cần sử dụng dữ liệu bản đồ và kết quả đánh giá phân hạng đất đai nhằm nâng cao chất lƣợng quy hoạch và dự báo sử dụng đất trong tương lai.

* Nâng cao nhận thức về quản lý và bảo vệ đất nông nghiệp

Kết quả khảo sát về tình sử dụng đất nông nghiệp đã đƣợc trình bày trong phần những tồn tại và nguyên nhân tồn tại trong quản lý đất nông nghiệp cho thấy những diện tích đất nông nghiệp bị lấn chiếm làm nhà chủ yếu phân bố ở những vùng thuận lợi giao thông, tưới tiêu chủ động và là thành quả của quá trình đầu tư, cải tạo đồng ruộng của nhiều thế hệ. Tình trạng vi phạm đất trồng cây không chỉ diễn ra trên địa bàn nông thôn mà còn xảy ra ngay trên các đường giao thông lớn như dọc quốc lộ, lấn chiếm đất nông nghiệp để làm nhà ở. Điều đó chứng tỏ người sử dụng đất chưa tuân thủ Luật Đất đai, thậm chí coi thường luật pháp tại cả những

nơi nhiều người qua lại. Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người sử dụng đất về quản lý và bảo vệ đất nông nghiệp chưa tốt, người dân chưa coi trọng bảo vệ đất lúa như là “tài sản” của nhiều thế hệ. Mặt khác việc xử lý tình trạng vi phạm chƣa quyết liệt, thiếu chế tài mạnh. Do vậy cần phải tuyên truyền giáo dục pháp luật về đất đai và Nghị định 42 2012 NĐ-CP. Hình thức tuyên truyền phải đa dạng thông qua đào tạo chuyên đề, lồng ghép với các lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như loa đài, báo chí.

* Hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp

Do trong một thời gian dài các bản đồ và hồ sơ, sổ sách kèm theo không được cập nhật, chỉnh lý biến động đồng bộ và thường xuyên nên có biến động nhiều so với nguồn tài liệu bản đồ đã lập. Mặt khác do công tác quản lý, sử dụng tài liệu chƣa tốt, nên hiện nay một số hồ sơ, sổ sách nhƣ sổ mục kê, sổ địa chính, hồ sơ trích lục thửa đất,... đã bị hƣ hỏng, rách nát. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu Hồ sơ địa chính chƣa đƣợc triển khai thực hiện, rất khó khăn cho việc khai thác, sử dụng cũng như quản lý Nhà nước về đất đai. Do vậy cần tiến hành đo đạc, chỉnh lý và lập hồ sơ địa chính. Theo đó có thể hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng thúc đẩy công tác cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp nhanh hơn.

* Thúc đẩy quá trình đồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai

Để nâng cao hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp cần phải giảm chi phí đầu vào bao gồm cả chi phí giống, làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch. Đồng thời đẩy nhanh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật kết hợp áp dụng đồng bộ cơ giới hoá vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao giá trị ngày công trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, quy mô diện tích đất trồng trọt nhỏ, phân tán thành nhiều thửa là những rào cản đối với cơ giới hoá và gia tăng các chi phí dẫn đến giá trị gia tăng trên một ha đất sản xuất nông nghiệp không cao.

Tình trạng năng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp thấp, giá trị ngày công cũng thấp dẫn đến nhiều thanh niên buộc phải di cƣ lên thành phố để làm việc tại các khu công nghiệp nên thiếu lao động khi mùa màng đến. Theo tìm hiểu khi khảo sát hiện trạng sản xuất nông nghiệp có đến 60% số hộ cho thấy rất khó thuê lao động và giá thuê lao động rất cao. Tình trạng này sẽ ngày càng khó khăn hơn và chỉ có thể đƣợc giải quyết khi quy mô diện tích đất của hộ lớn hơn,

tập trung lại thành thửa lớn và đƣa cơ giới hoá vào để nâng cao năng suất lao động hàng năm. Muốn vậy phải thực hiện giải pháp dồn điền đổi thửa. Đây là việc làm phức tạp đụng chạm đến quyền lợi của hộ nông dân nên cần phải đƣợc đồng thuận từ người nông dân trên cơ sở công khai và công bằng. Sự công bằng trong dồn điền đổi thửa phải dựa trên khả năng sản xuất của đất hay khả năng sinh lợi của đất. Mặt khác cần vận động người nông dân đổi mới tư duy từ phải có ruộng sang tƣ duy "giỏi việc nào làm việc ấy” để chuyển nhƣợng ruộng đất cho người giỏi làm nông nghiệp, góp phần tích tụ đất đai.

* Tháo gỡ chính sách vay vốn tín dụng để hộ nông dân được tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn

Kết quả khảo sát về hiện trạng sản xuất nông nghiệp tại huyện cho thấy vẫn còn một bộ phận hộ nông dân chƣa đƣợc tiếp cận với nguồn vốn có đến 65% thiếu vốn cho sản xuất. Mặc dù trong những năm gần đây Nhà nước đã có nhiều chính sách vốn cho sản xuất nông nghiệp nhƣ Nghị định số 41 2010 NĐ- CP ngày 12 4 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tuy nhiên để tiếp cận đƣợc vốn vay cũng cần những điều kiện nhất định.

b. Nhóm giải pháp về sử dụng đất nông nghiệp

* Đẩy mạnh thâm canh tăng vụ trên đất trồng cây hàng năm

Thâm canh là con đường phát triển chủ yếu của sản xuất nông nghiệp.

Thâm canh phải đƣợc thực hiện từ đầu, toàn diện, liên tục và ngày càng cao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thâm canh phải coi trọng tính hiệu quả, phải gắn thâm canh với quá trình cải tạo và bồi dƣỡng ruộng đất. Việc tăng vụ, chuyển vụ ở huyện trong những năm qua đã có nhiều thành công, tuy nhiên nếu biết khai thác tiềm năng tăng vụ to lớn của huyện thì giải pháp tăng vụ còn đem lại hiệu quả lớn hơn.

* Sử dụng tiết kiệm quỹ đất nông nghiệp, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác

Quỹ đất nông nghiệp của huyện có hạn về mặt diện tích, trong khi đó nhu cầu về nông sản ngày càng tăng lên. Đồng thời, nhu cầu chuyển một phần đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp cũng rất cần thiết trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Vì vậy, sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp vừa là yêu cầu vừa là biện pháp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai để hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác.

* Đẩy mạnh công tác chuyển đổi ruộng đất nhằm khắc phục tình trạng phân tán manh mún trong sử dụng đất

Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, điều kiện sản xuất đã thay đổi, nông nghiệp huyện Nam Sách đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, ứng dụng nhiều hơn những tiến bộ khoa học - công nghệ mới, nhất là về giống, quy trình canh tác thâm canh những mảnh ruộng bị chia cắt phân tán, manh mún đang là lực cản lớn trên con đường phát triển của nông nghiệp hiện đại. Công tác chuyển đổi ruộng đất đã và đang diễn ra ở một số địa phương bước đầu đem lại kết quả thiết thực, được nông dân đồng tình và hưởng ứng. Đồng thời với quá trình chuyển đổi ruộng đất, các xã, thị trấn kết hợp cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để các hộ nông dân có thể sử dụng làm thế chấp khi vay vốn tín dụng tại các ngân hàng.

Thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất, khuyến khích thực hiện phương thức “ai giỏi nghề gì làm nghề đó”. Hiện nay cho thấy xu thế chuyển đổi từ nông nghiệp manh mún, tự túc sang sản xuất hàng hoá có quy mô lớn ngày càng rõ, kinh tế trang trại đã ra đời và phát triển ở nhiều nơi trong huyện.

* Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo ruộng đất Đất nông nghiệp là tƣ liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì đất đai ngày càng tốt hơn. Việc sử dụng hợp lý ruộng đất hay không là tuỳ thuộc vào quá trình sử dụng có kết hợp chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng ruộng đất với việc bảo vệ, bồi dƣỡng và cải tạo đất. Vì thế, trong quá trình sử dụng ruộng đất phải tìm mọi biện pháp để bảo vệ chống xói mòn, rửa trôi ruộng đất; phải thường xuyên coi trọng công tác bồi dƣỡng và cải tạo đất làm tăng độ phì nhiêu của đất.

* Hoàn thiện hệ thống tưới và tiêu thoát nước phục vụ canh tác nông nghiệp Tình hình thuỷ lợi trên địa bàn huyện Nam Sách cho thấy thực trạng nguồn nước cũng như hệ thống trạm bơm và kênh tưới còn nhiều hạn chế do sự xuống cấp. Khi khảo sát, có đến 30% số hộ trồng cây không được sử dụng nước hoặc có khó khăn về nguồn nước tưới. Để sản xuất hiệu quả đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống tưới và tiêu bao gồm cả bảo đảm nguồn nước tưới luôn sẵn có, đảm bảo để mọi người dân đều được tiếp cận điều kiện sản xuất như nhau. Điều này đòi hỏi phải tập trung nạo vét hệ thống sông máng và cứng hoá kênh mương nội đồng.

* Áp dụng các mô hình sử dụng đất hiệu quả theo hướng đa dạng hoá cây, con trên đất nông nghiệp

Đất có địa hình trũng hoặc địa hình vàn, thành phần cơ giới nặng áp dụng loại sử dụng đất chuyên trồng lúa với kiểu sử dụng đất Lúa xuân - lúa mùa.

Đất có địa hình vàn hoặc vàn cao chủ động bơm tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ áp dụng loại hình sử dụng đất 2 Lúa - màu (LUT2) với các kiểu sử dụng đất khác nhau.

Sử dụng mô hình nông nghiệp đa canh nhằm khai thác tiềm năng vùng đất trũng để nuôi trồng thủy sản.

Đất có địa hình cao ngoài bãi với điều kiện tưới khó khăn dựa vào nước trời là chủ yếu có thể áp dụng loại hình sử dụng đất chuyên màu.

* Tăng cư ng công tác khuyến nông và có chính sách hỗ trợ nông dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

Việc tiếp cận kỹ thuật mới trong sản xuất lúa của hộ nông dân trồng lúa vẫn còn thấp. Có đến 55% hộ dân cho rằng họ rất cần những kỹ thuật canh tác tiến bộ về bón phân, phòng trừ sâu bệnh. Bên cạnh thiếu kỹ thuật, vẫn còn 35% số hộ thiếu giống mới do không có vốn để mua giống mới. Do vậy, cần có một số chính sách hỗ trợ về giá giống mới, đồng thời phải tổ chức thực hiện công tác khuyến nông theo đúng tinh thần của Nghị định 42 2012 NĐ-CP là đảm bảo

“Người sản xuất nông nghiệp được tập huấn, hướng dẫn miễn phí về kỹ thuật trồng trọt, sơ chế, bảo quản nông sản”. Mặt khác, cùng với việc tổ chức tập huấn phải xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật theo đúng yêu cầu của Nghị định số 02 NĐ-CP ngày 08 01 2010 của Chính phủ về khuyến nông.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn huyện nam sách, tỉnh hải dương (Trang 158 - 164)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(266 trang)