4.1.2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 9,1 % năm. Quy mô kinh tế đƣợc nâng lên, tổng giá trị sản xuất năm 2016 đạt 6.369,4 tỷ đồng. Trong đó giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.498,6 tỷ đồng, ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng đạt 3.629,2 tỷ đồng, ngành dịch vụ đạt 1.141,6 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 42 triệu đồng người.
Cơ cấu kinh tế huyện có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng, ngành Dịch vụ ngày càng tăng.
Bảng 4.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010 - 2016
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2015 2016
Tổng Giá trị sản xuất (giá 2010) 2.506,7 5.639,3 6.369,4
Nông, lâm nghiệp, thủy sản 961,9 1.460,5 1.498,6
Công nghiệp-xây dựng 747,8 3.053,8 3.629,2
Dịch vụ 795,0 1.125,0 1.241,6
Cơ cấu (%)
Nông, lâm nghiệp, thủy sản 38,37 25,90 23,53
Công nghiệp - xây dựng 29,83 54,15 56,98
Dịch vụ 31,72 19,95 19,49
Hình 4.2. Biến động cơ cấu các nhóm ngành kinh tế huyện Nam Sách
4.1.2.2. Thực trạng phát triển sản xuất các ngành kinh tế a. Sản xuất nông nghiệp
Tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thu đƣợc 1.498,6 tỷ đồng (tăng 2,6% so với năm 2015); giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp đạt 135 triệu đồng (tăng 5,5% so với năm 2015). Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp giữa trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ là: 50,1% - 40,8% - 9,1%.
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt thu đƣợc 750,1 tỷ đồng (tăng 2,4% so với năm 2015). Tổng sản lượng lương thực 60.552,1 tấn (giảm 1,2% so với năm 2015). Trên địa bàn huyện thực hiện đƣợc 56 vùng gieo cấy lúa có giá trị kinh tế cao với diện tích 593,2 ha, có quy mô 3 ha trở lên vùng (giảm 83 vùng so với năm 2015). Huyện đã tích cực đƣa cơ giới hóa vào sản xuất, nâng diện tích làm đất bằng máy lên 13.140 ha, chiếm 99,2% diện tích. Năng suất lúa đạt 127,5tạ ha (tăng 4,1 tạ/ha so với năm 2015).
Toàn huyện gieo trồng đƣợc 2.611,6 ha cây vụ đông (giảm 9,6% so với năm 2015), giá trị cây vụ đông đạt 125 triệu đồng ha (tăng 8,7% so với năm 2015);
gieo trồng đƣợc 1.432,9 ha rau màu xuân và hè thu (tăng 0,9% so với năm 2015);
quy hoạch đƣợc 77 vùng sản xuất rau màu với diện tích 611 ha; những cây có giá trị kinh tế cao chiếm 82,5% diện tích nhƣ cà chua, hành, bí xanh, ớt, dƣa hấu.
Huyện Nam Sách tập trung chỉ đạo các xã, thị trấn làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, duy trì đàn gia súc, gia cầm; bên cạnh đó coi trọng đầu tƣ thâm canh nuôi trồng thuỷ sản để giữ vững giá trị chăn nuôi, thuỷ sản trong nông nghiệp. Giá trị sản xuất thu đƣợc 610,9 tỷ đồng (tăng 2,74% so với năm 2015).
Tổng đàn trâu, bò 3.068 con (tăng 1,5% so với năm 2015); tổng đàn gia cầm 658.000 con (giảm 0,3% so với năm 2015); tổng đàn lợn 60.466 con (tăng 5,7%
so với năm 2015); chất lƣợng đàn lợn thịt đƣợc duy trì với 100% là lợn thịt hướng nạc và siêu nạc; sản lượng thịt lợn hơi 8.500 tấn (tăng 2,8% so với năm 2015); sản lƣợng thịt gia cầm 1.588 tấn (tăng 1,1% so với năm 2015). Sản lƣợng cá thu đƣợc 8.100 tấn (tăng 3,6% so với năm 2015); đến nay toàn huyện có trên 1.700 lồng cá (tăng 200 lồng so với năm 2015) tập trung nuôi trên sông tại địa phận xã Nam Tân, Thanh Quang, Thái Tân, Hiệp Cát, Nam Hƣng, An Bình, Minh Tân, Cộng Hòa.
Ngoài ra, huyện Nam Sách còn quan tâm chỉ đạo tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân; xây dựng các mô hình trình diễn giống lúa, cây trồng mới cho giá trị kinh tế cao.
Công tác bảo vệ thực vật chỉ đạo cơ bản kịp thời, hạn chế thấp nhất diện tích lúa, rau màu bị sâu, bệnh phá hoại. Toàn huyện không có dịch bệnh lớn xảy ra bởi sự quan tâm thực hiện công tác tiêm phòng, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm và thực hiện việc tiêu độc, khử trùng vệ sinh môi trường tại các chợ và điểm kinh doanh sản phẩm động vật.
Các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp từng bước khắc phục khó khăn, làm tốt các khâu dịch vụ, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất của nông dân; tích cực chỉ đạo tổ chức Đại hội xã viên theo Luật Hợp tác xã (đến nay 100% các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chuyển đổi mô hình hoạt động theo luật).
Về công tác xây dựng nông thôn mới, huyện Nam Sách đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực hưởng ứng Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới năm 2016; huy động, thu hút các nguồn lực xây dựng đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, đường ra đồng, xây dựng nhà văn hóa, trường học, sân vận động, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc. Huyện còn tiến hành rà soát đánh giá các tiêu chí của 05 xã (Nam Hƣng, Quốc Tuấn, Phú Điền, Nam Chính, Hồng Phong), đăng ký về đích nông thôn mới năm 2016. Đến hết tháng 12 năm 2016, cả 5 xã trên đều đạt 19 19 tiêu chí, hoàn thành kế hoạch đề ra. Đến hết năm 2016, số tiêu chí bình quân của các xã trong toàn huyện đạt đƣợc là 16,5 tiêu chí, tăng 3 tiêu chí so với năm 2015.
b. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông, xây dựng
Giá trị sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp đạt 2.869,9 tỷ đồng (tăng 16,7% so với năm 2015). Hoạt động của các làng nghề tiếp tục tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho các hộ dân. Huyện đã tăng cường kiểm tra, chỉ đạo các xã chấm dứt hoạt động sản xuất gạch đất sét nung bằng lò gạch thủ công theo quy định của UBND tỉnh. Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực điện được quan tâm, các đơn vị đã đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống lưới điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất nhân dân. Kế hoạch tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp huyện năm 2016 đƣợc triển khai, qua đó lựa chọn các thợ có tay nghề cao xem xét, đề nghị phong tặng nghệ nhân nghề Tiểu thủ công nghiệp.
Giá trị xây dựng cơ bản đạt 759,3 tỷ đồng (tăng 10,8% so với năm 2015), trong đó, công trình do huyện quản lý 380 tỷ đồng (tăng 9,9% so với năm 2015).
Cụ thể, các công trình do huyện làm chủ đầu tƣ là 6 tỷ đồng, các công trình do xã, thị trấn làm chủ đầu tƣ là 94,5 tỷ đồng; các công trình do các đơn vị đóng trên địa bàn huyện làm chủ đầu tƣ, giá trị đạt 279,5 tỷ đồng (tăng 13,2% so với năm 2015). Nhìn chung, các công trình, dự án đƣợc đầu tƣ xây dựng cơ bản đảm bảo đúng quy định về quy hoạch, hồ sơ đầu tƣ.
Giao thông nông thôn tiếp tục đƣợc quan tâm xây dựng, các xã, thị trấn thi công được 70,5 km đường bê tông xi măng (tăng 0,7% so với năm 2015). Công tác duy tu bảo dưỡng 14 tuyến đường thuộc huyện quản lý được thực hiện thường xuyên và công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong dịp ngày lễ, tết, các địa bàn trọng điểm, có mật độ người tham gia giao thông đông như thị trấn Nam Sách, Nam Hồng, Thanh Quang đƣợc thực hiện tốt. Huyện phối hợp với các đơn vị của tỉnh xử lý, giải tỏa các trường hợp vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện; tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng xe công nông, xe tự chế tái lưu hành trên địa bàn; tăng cường kiểm tra hoạt động của các bến đò ngang để chấn chỉnh, xử lý các vi phạm, đảm bảo an toàn.
c. Hoạt động dịch vụ
Giá trị sản xuất ngành dịch vụ năm 2016 đạt 1.241,6 tỷ đồng (tăng 10,4% so với năm 2015). Các ngành nghề dịch vụ thương mại trên địa bàn huyện phát triển tương đối ổn định. Một số ngành dịch vụ có giá trị thực hiện đạt cao như dịch vụ cá nhân, dịch vụ thương nghiệp, sửa chữa, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc. Tổng nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đạt 1.192 tỷ đồng (tăng 23,7% so với năm 2015); tổng dƣ nợ cho vay đạt 826 tỷ đồng (tăng 15% so với năm 2015); nợ xấu giảm còn 0,01% so với tổng dƣ nợ. Tổng dƣ nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện là 237,82 tỷ đồng (trong đó, dƣ nợ cho vay hộ nghèo 69,35 tỷ đồng, cận nghèo 45,48 tỷ đồng, thoát nghèo là 31,9 tỷ đồng, chiếm 61,69%).
4.1.2.3. Hiện trạng kết cấu hạ tầng kỹ thuật a. Hệ thống giao thông
Huyện Nam Sách có hệ thống giao thông khá thuận lợi với các tuyến đường bộ và đường thủy. Các tuyến đường bộ bao gồm: Quốc lộ 37 (chiều dài qua huyện 11,9 km theo tiêu chuẩn đường cấp III, mặt đường bê tông nhựa rộng 12 m, nền đường 15 m), tỉnh lộ 390 (chiều dài 8,16 km, mặt đường 5,5 - 7,5 m rải nhựa, nền đường 7,5 - 9 m), huyện lộ có tổng chiều dài gần 31 km (mặt đường 3,5 - 7 m rải nhựa hoặc bê tông xi măng, nền đường 5 - 9 m),... Ngoài ra, mạng
lưới đường giao thông xã và liên xã với tổng độ dài hơn 82 km, mặt đường 3,5 - 7 m, tráng nhựa hoặc bê tông xi măng, nền đường 5,0 - 9,0 m. Đường giao thông nông thôn có hơn 391 km (đường thôn, xóm,...) đã được bê tông hóa gần 96%.
Giao thông đường thủy với lợi thế bao quanh huyện là các sông Thái Bình, Kinh Thày, Lai Vu (có tổng chiều dài gần 50 km). Giao thông đường thủy của huyện tương đối phát triển, phục vụ tốt cho vận tải hàng hóa nội địa. Trên địa bàn có 3 bến thủy nội địa chính (đều là các bến tổng hợp) với tổng năng lực thông qua đạt khoảng 19.000 tấn năm.
b. Hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước
Trên địa bàn huyện, hệ thống các công trình thủy lợi tương đối phát triển.
Về tưới nước, huyện có hệ thống trạm bơm với 7 cống lấy nước và 91 trạm bơm nội đồng đảm bảo cấp đủ nước cho khu vực tưới (diện tích tưới được 6.241 ha).
Hàng năm, toàn khu tưới còn khoảng 400 ha bị ảnh hưởng hạn do có địa hình cao cục bộ phân bố rải rác tại các xã thuộc khu tưới.
Về tiêu nước, khu vực tiêu được tiêu động lực bằng 6 trạm bơm ra sông Thái Bình. Nhìn chung, các công trình tiêu tương đối đảm bảo, đa số các trạm bơm đạt hệ số 5,55 lít s ha, chỉ 2 trạm hệ số tiêu mới ở mức 4,5 lít s ha. Tổng diện tích tiêu thực tế của toàn khu vực là 9.465 ha. Hàng năm, còn tồn tại dưới 1.000 ha bị ảnh hưởng do úng, tập trung ở một số xã như An Sơn, Cộng Hòa, Hồng Phong, Đồng Lạc, Minh Tân,...
Tới nay, hệ thống kênh mương nội đồng đã và đang tích cực được đầu tư kiên cố hóa, nạo vét các sông trục, cải tạo nâng cấp các công trình đầu mối nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh cao, có quy mô hàng hóa tập trung.
Hệ thống cấp thoát nước hiện chưa được đầu tư đồng bộ gắn kết với hệ thống giao thông. Hiện trên địa bàn có 5 nhà máy trạm cấp nước với tổng công suất 1.440 m3 ngày đêm, cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch cho các hộ ở thị trấn và 11 xã (đã có 14 19 xã, thị trấn được dùng nước máy). Năm 2016, toàn huyện có 99% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch và 72,5% số hộ được sử dụng nước máy.
c. Hệ thống điện và thông tin liên lạc
Toàn huyện đã sử dụng hệ thống điện lưới quốc gia với lưới điện khá hoàn chỉnh với 242 trạm biến áp hạ thế (có tổng dung lượng 106,9 MW) mạng lưới
đường dây trung thế (điện áp 35 Kv và 22 Kv) và 422 km đường dây hạ thế đáp ứng cơ bản yêu cầu sử dụng điện cho sản xuất và đời sống.
Những năm qua, mạng lưới bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc phát triển mạnh, chất lượng thông tin được nâng cao, hệ thống bưu chính viễn thông không ngừng đƣợc hiện đại hóa. Mạng cáp quang truyền dẫn cùng các mạng ngoại vi khác đƣợc lắp đạt góp phần phát triển dịch vụ thông tin liên lạc nhanh chóng, chính xác và độ tin cậy cao. Toàn huyện hiện có 4 đại lý kinh doanh dịch vụ Internet công cộng, 4 bưu cục và 18 điểm bưu điện xã. Tổng số thuê bao điện thoại cố định và di động là 4,8 nghìn, bình quân 4,1 thuê bao 100 dân. Công nghệ thông tin được ứng dụng ngày càng rộng rãi. Trong hoạt động quản lý nhà nước, cán bộ công chức, viên chức đều đã được trang bị máy tính tại cơ quan, trường học. Số máy tính trang bị trong dân đạt hơn 3.000 hộ.
Có thể nói, trong những năm qua hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện Nam Sách đã không ngừng được tăng cường đầu tư, mang lại kết quả tích cực, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nông nghiệp - nông thôn nói riêng theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
4.1.2.4. Dân số, lao động, việc làm
Năm 2016, dân số toàn huyện là 117.576 người, trong đó dân số đô thị 11.495 người, dân số nông thôn 106.081 người. Tỷ lệ phát triển dân số là 1,10% năm, mật độ dân số là 1.059 người km2, xã có mật độ dân số đông nhất là thị trấn Nam Sách, xã Nam Trung, xã Quốc Tuấn, xã Nam Hồng.
Số người trong độ tuổi lao động của huyện là 69.107 người, chiếm 58,78%
tổng dân số, trong đó, số lao động đang làm việc trong các ngành công nghiệp chiếm 49,3%, trong ngành dịch vụ 21,8%, lao động trong ngành nông nghiệp chiếm 28,9% so với tổng số lao động. Số hộ nông nghiệp là 10.086 người. Trình độ tay nghề, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp còn khiêm tốn, mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật thấp, tỷ lệ đƣợc đào tạo rất thấp.
Thu nhập bình quân đầu người đạt là 42 triệu đồng. Ngày càng có nhiều hộ khá, hộ giầu. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần chỉ còn 1,23%, không có hộ đói.
4.1.3. Nhận xét chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 4.1.3.1. Về điều kiện tự nhiên
Nằm trên địa bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, một trong 3 vùng năng động của Việt Nam hiện nay, gần Hà Nội và Hải Phòng, Hạ Long nên huyện Nam
Sách có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hoá, công nghệ lao động kỹ thuật,...
Huyện Nam Sách nằm dọc theo trục đường 191 nối quốc lộ 5 và quốc lộ 10 đi Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình. Những thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sông tạo điều kiện cho huyện giao lưu kinh tế - văn hoá với bên ngoài.
Địa hình tương đối bằng phẳng cùng với đặc trưng thổ nhưỡng là đất phù sa, thuận lợi cho việc thâm canh cây lúa nước và các loại cây trồng nông nghiệp khác nhƣ các loại rau, quả thực phẩm, cây công nghiệp,...
Khí hậu huyện Nam Sách thuận lợi cho phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nói chung. Khí hậu và số giờ nắng trong năm tương đối thích hợp cho việc canh tác 3 vụ trong năm, tạo cho huyện có lợi thế về phát triển nông nghiệp thâm canh, năng suất cao.
Trên địa bàn huyện có nhiều vùng đất trũng, điều kiện thuỷ văn tương đối thuận lợi, tạo kiện nuôi trồng thuỷ sản.
Tuy nhiên, mƣa lớn và tập trung vào một số tháng trong năm tạo ra mất cân đối nước cục bộ theo thời gian, gây ra tình trạng úng lụt. Các tháng 7, 8, 9 mưa nhiều, cường độ lớn có thể gây ngập úng ở một số xã vùng trũng và ven sông, ảnh hưởng nhiều đến sản xuất.
4.1.3.2. Về điều kiện kinh tế, xã hội
Cùng với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống thì nền kinh tế của huyện Nam Sách đã phát triển khá toàn diện theo hướng tăng khu vực dịch vụ. Tốc độ phát triển kinh tế luôn tăng khá cao. Trong cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp vẫn chiếm một phần tỷ trọng, nhƣng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, so với những lợi thế và tiềm năng sẵn có của huyện thì nhịp độ phát triển kinh tế chƣa cao. Sản xuất nông nghiệp vẫn độc canh cây lúa là chủ yếu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và chƣa đồng bộ.
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi đang dần đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển của huyện.
Tỷ lệ dân số gia tăng dẫn đến bình quân diện tích đất nông nghiệp người giảm, trong khi nhu cầu đất cho sự phát triển các ngành ngày càng tăng. Tất cả những vấn đề trên đã gây áp lực lớn đối với quỹ đất nông nghiệp trong toàn huyện. Do đó, nghiên cứu khai thác sử dụng quỹ đất nông nghiệp một cách khoa
học, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao đang là mục tiêu chiến lƣợc của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện Nam Sách.