7. Lựa chọn các LUTs thích hợp để đề xuất
2.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.3.2. Nghiên cứu về giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
Việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả là một yêu cầu đối với bất kỳ quốc gia nào nhƣng do chế độ sở hữu về đất đai khác nhau nên giải pháp cũng như chính sách đối với quản lý đất nông nghiệp rất khác nhau. Tại các nước có sở hữu tƣ nhân về đất đai thì đất nông nghiệp đƣợc quản lý theo cơ chế trợ giá, điển hình là Thái Lan, Mỹ, Nhật.
Tại Việt Nam việc quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng không những chỉ thể hiện trong Luật Đất đai và ngày càng đƣợc khẳng định vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu. Tuy nhiên, do yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội, nhiều diện tích đất nông nghiệp đƣợc chuyển đổi mục đích sử dụng cho phát triển đô thị, khu công nghiệp và phát triển kết cấu hạ tầng. Do vậy, ngoài việc ban hành Nghị định, Quyết định và Thông tƣ về quản lý và sử dụng đất lúa hiệu quả còn có một số nghiên cứu đƣợc tiến hành với mục tiêu quản lý, sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hiệu quả.
Theo Phạm Thị Minh Thuỷ (2010), để quản lý đƣợc đất nông nghiệp nói chung và đất lúa cần phải xác định bộ tiêu chí để cắm mốc bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa. Tác giả đã đề xuất bộ tiêu chí gồm 14 tiêu chí chia thành 5 nhóm: điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kinh tế - thị trường, văn hóa - xã hội và môi trường. Các tiêu chí trong 5 nhóm trên được phân thành hai loại: các tiêu chí cơ bản và các tiêu chí bổ sung. Các tiêu chí cơ bản là các tiêu chí mang tính kỹ thuật quy định những yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất, sản lượng lúa nước ở thời điểm hiện tại nhƣ điều kiện tự nhiên. Các tiêu chí bổ sung là các tiêu chí thuộc bốn nhóm còn lại, các tiêu chí này quy định việc giảm đi hay tăng thêm diện tích đất chuyên trồng lúa nước đã phù hợp với các tiêu chí cơ bản. Tuy nhiên, do điều kiện canh tác lúa ở mỗi vùng có khác nhau nên ngoài các tiêu chí chung cần có những chỉ tiêu ƣu tiên cho từng vùng.
Cũng theo Phạm Thị Minh Thuỷ (2010), do diện tích đất chuyên trồng lúa nước ở nước ta phân bố ở khắp 7 vùng kinh tế nên các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường khác nhau. Do đó, việc xác định diện tích đất chuyên trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt ở mỗi vùng phải được dựa trên bộ tiêu chí riêng phù hợp với các điều kiện của vùng. Về cơ bản, bộ tiêu chí của 7 vùng bao gồm các nhóm tiêu chí thuộc bộ tiêu chí chung, nhƣng mức độ ƣu tiên của từng tiêu chí sẽ khác nhau phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng.
Bảy bộ tiêu chí mà đề tài đƣa ra là các bộ tiêu chí dạng khung bao quát các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định diện tích đất chuyên trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, để có thể sử dụng bộ tiêu chí này vào thực tế thì cần phải xây dựng các chỉ tiêu cụ thể của từng nhóm tiêu chí và để xây dựng các chỉ tiêu cụ thể cần phải có những kết quả điều tra, khảo sát chi tiết trên diện rộng về các yếu tố có ảnh hưởng do còn thiếu nhiều các thông tin số liệu cần thiết, mặt khác do nhiều nguyên nhân khác nhau về chủ quan và khách quan mà số liệu thống kê và tài liệu hiện hữu có nhiều khác biệt so với thực tế, đặc biệt là các thông tin về hiện trạng số lượng cũng như chất lượng đất chuyên trồng lúa nước. Do đó để, có được bộ tiêu chí cụ thể áp dụng vào thực tế thì cần thiết phải có những nghiên cứu tiếp theo.
Theo Hoàng Xuân Phương và Nguyễn Văn Toàn (2010), để quản lý được đất trồng lúa, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp như: Quy hoạch sử dụng đất theo hướng hình thành các vùng trồng lúa quy mô lớn; Chính sách phát triển quỹ đất lúa; Giải pháp nhằm khuyến khích tập trung ruộng đất; Chính sách khuyến khích cơ giới hoá trong sản xuất lúa; Chính sách hỗ trợ sản xuất; Chính sách tăng cường dự trữ lương thực; Chính sách về giống lúa; Chính sách đối với vật tƣ, phân bón, thuốc trừ sâu; Chính sách đầu tƣ cơ sở hạ tầng; Chính sách tài chính, tín dụng và chính sách về sử dụng lao động trong sản xuất lúa.
Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2011), khi nghiên cứu “Xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng đất lúa toàn quốc đến năm 2020 và tầm nhìn 2030”, đã đề xuất một loạt giải pháp và chính sách quản lý, sử dụng đất lúa. Theo nghiên cứu này, để quản lý đất lúa cần phải giao chỉ tiêu sử dụng đất lúa cho từng tỉnh, đồng thời tỉnh giao cho huyện, huyện giao cho xã dựa trên quy hoạch sử dụng đất lúa của từng tỉnh, từng huyện và từng xã trong cả nước.
Đồng thời nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp, chính sách nhằm quản lý, sử dụng đất lúa như: Tăng cường công tác quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất lúa; Giải pháp về sử dụng đất lúa theo quy hoạch; Chính sách quản lý và sử dụng đất lúa riêng cho từng địa phương, trong đó có chính sách khuyến khích các địa phương giữ đất lúa thông qua việc tăng đầu tư phát triển cho các địa phương sản xuất lúa; điều tiết phân bổ ngân sách nhà nước đảm bảo lợi ích giữa các địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp với các địa phương chuyên trồng lúa mà cụ thể là ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% để thực hiện hoàn thiện hệ thống thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương và xây dựng đường giao thông nội đồng;
xây cống bọng, bờ bao khoanh vùng chống lũ; cải tạo đất ruộng bị xô lũ, bồi lấp do thiên tai, tạo điều kiện thuận lợi áp dụng khoa học, kỹ thuật, cơ giới hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa.
Mức hỗ trợ cụ thể do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng quy định. Riêng đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng chƣa tự cân đối thu, chi ngân sách địa phương, được tăng mức phân bổ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương.
Một loạt chính sách đƣợc đề xuất để quản lý đất lúa nhƣ chính sách phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ; Chính sách hỗ trợ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa gạo trong đó có việc khuyến khích nông dân giữ đất lúa qua việc hỗ trợ thực hiện đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người sản xuất lúa gạo, đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30%; chính sách hỗ trợ hoàn thiện các loại hình tổ chức sản xuất lúa gạo theo hướng liên kết các hộ nông dân để hình thành các tổ chức hợp tác, hợp tác xã sản xuất lúa tập trung; tạo điều kiện gắn với doanh nghiệp tiêu thụ; khuyến khích nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để sản xuất lúa; hỗ trợ khâu khai hoang, cải tạo mở rộng diện tích đất trồng lúa mà cụ thể là 10 triệu đồng/ha tạo ruộng bậc thang, nếu là khai hoang và phục hóa 5 triệu đồng. Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng trên 20% so với thời điểm hiện nay, Bộ Tài chính đề xuất với Chính phủ điều chỉnh mức hỗ trợ cho phù hợp; chính sách hỗ trợ khâu sản xuất lúa, thu hoạch, bảo quản lúa gạo,... và nhiều chính sách liên quan đến bình ổn giá cả thu mua.
Đặng Kim Sơn (2011) cho rằng, trong giai đoạn 2011 đến 2020, việc cho chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây hàng năm khác hoặc trồng cỏ phục vụ chăn nuôi để bảo đảm lợi ích cho người trồng lúa. Tuy nhiên, Chính phủ cần phải giám
sát chặt chẽ và hạn chế tối đa tình trạng chuyển đổi đất lúa sang làm khu công nghiệp vì khi cần thiết chuyển sang trồng lúa là không thể.
Nguyễn Võ Linh (2013) khi nghiên cứu dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, đến năm 2100 nếu nước biển dâng 75 cm thì diện tích đất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long còn 1.562 nghìn ha, diện tích đất bị mất so với năm 2013 là 365 nghìn ha, tổng sản lượng lương thực chỉ còn 23,58 triệu tấn, cân đối nguồn cung đến năm 2100 chỉ bán đƣợc 3,8 triệu tấn.
Theo đó tác giả đã đề xuất 2 nhóm giải pháp là giải pháp công trình bao gồm:
xây dựng hệ thống đê biển, hệ thống kiểm soát lũ, hệ thống kênh mương nội đồng,...
và giải pháp phi công trình là trồng rừng phòng hộ ven biển, chọn giống lúa chịu mặn, chịu hạn, giống lúa có khả năng chịu ngập úng kéo dài, chuyển đổi cơ cấu mùa, vụ.
Năm 2013, để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, trong đó có chuyển đổi 200 nghìn ha lúa hiệu quả thấp hiện đang canh tác lúa 1 vụ hoặc 2 vụ do thiếu nước trong mùa khô hoặc úng nước trong mùa mƣa.
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2013) khi thực hiện dự án “Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa giai đoạn 2014 - 2020” dựa trên kết quả của các mô hình đã chuyển đổi từ đất lúa sang trồng ngô, đậu tương,...
đã chỉ ra rằng, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa cần thiết phải chuyển đổi 262,1 nghìn ha diện tích trồng lúa sang sản xuất các loại cây trồng hàng năm có hiệu quả kinh tế cao hơn tuỳ thuộc vào từng vùng. Trong đó giai đoạn 2014-2015 chuyển đổi 85,4 nghìn ha và giai đoạn 2016 đến 2020 chuyển đổi 176,7 nghìn ha, cây trồng chủ yếu được đề xuất chuyển đổi là ngô, đậu tương, cây thức ăn gia súc, rau và nuôi trồng thuỷ sản.
Nguyễn Văn Bộ (2016) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và những kinh nghiệm sản xuất lúa hiệu quả để biên soạn cuốn “Cẩm nang sản xuất lúa thông minh” trong đó có đề cập đến các yếu tố liên quan đến ứng dụng hiệu quả kỹ thuật canh tác lúa, đồng thời giới thiệu các kỹ thuật canh tác lúa nhằm hướng tới sản xuất bền vững, hiệu quả và giảm phát thải khí nhà kính.
Như vậy, để quản lý được đất trồng lúa, ngoài các giải pháp của Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có một số nghiên cứu về quản lý và
sử dụng đất lúa hiệu quả. Tuy nhiên do giá lúa không ổn định, người trồng lúa vẫn gặp khó khăn do giá vật tƣ đầu vào liên tục tăng, trong khi đó giá thu mua lúa lại không tăng thậm chí giảm giá. Đã có bước thay đổi trong tư duy quản lý đất lúa từ
"cứng rắn” sang linh hoạt và cho phép chuyển đổi 200 nghìn ha đất lúa sang trồng các loại cây trồng khác có hiệu quả hơn.