Cơ sở lý luận về đánh giá đất đai và ứng dụng bài toán tối ƣu trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp hoạch sử dụng đất nông nghiệp

Một phần của tài liệu Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn huyện nam sách, tỉnh hải dương (Trang 37 - 41)

2.1.3.1. Đánh giá đất đai theo FAO

Đánh giá đất đai (Land Evaluation) là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạn vật, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có (FAO, 1976). Khi tiến hành đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) cụ thể cho các đối tƣợng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tuỳ thuộc vào yêu cầu, điều kiện của vùng, khu vực nghiên cứu để lựa chọn mức độ đánh giá đất đai sơ lƣợc, bán chi tiết hoặc chi tiết.

Thấy rõ đƣợc tầm quan trọng của công tác đánh giá và phân hạng đất, tổ chức FAO với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành đã tổng hợp kinh nghiệm ở nhiều nước để xây dựng lên bản “Đề cương đánh giá đất đai” (FAO, 1976).

Qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đất đã nhận thấy cần có những cuộc thảo luận quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa các phương pháp. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của ĐGĐĐ làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai, FAO đã tổng hợp các kết quả và tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước, đề ra phương pháp ĐGĐĐ dựa trên cơ sở Phân loại thích hợp đất đai (Land Suitability Classification). Cơ sở của phương pháp này là so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lƣợng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu. Đó chính là đề cương đánh giá đất đai đƣợc công bố năm 1976.

a. Nguyên tắc đánh giá đất đai theo FAO

Để thống nhất về nguyên tắc cũng như trình tự, cấu trúc, phương pháp tiến hành đánh giá đất, FAO (1990) đã đề ra 6 nguyên tắc cơ bản:

(i) Các loại sử dụng đất đƣợc lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển vùng hay của quốc gia, cũng nhƣ phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu;

(ii) Các loại sử dụng đất cần đƣợc mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và kinh tế - xã hội;

(iii) Việc đánh giá đất đai bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại sử dụng đất;

(iv) Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững;

(v) Đánh giá khả năng thích hợp đất đai bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi ích) thu đƣợc và đầu tƣ (chi phí) cần thiết của loại sử dụng đất;

(vi) Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành.

Với những nguyên tắc cơ bản trên, đánh giá đất đai sẽ bổ trợ cho việc quy hoạch sử dụng đất bằng cách cung cấp cho tiến trình này những phương án về sử dụng tài nguyên đất. Trong mỗi phương án là những thông tin về: năng suất - mức đầu tƣ (chi phí, lợi nhuận); cách quản lý đất đai, nhu cầu về cải thiện cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng của sử dụng đất đối với môi trường trong và ngoài vùng nghiên cứu (Hội Khoa học Đất Việt Nam, 1996).

b. Đánh giá khả năng thích hợp đất đai

Theo FAO (1990), khả năng thích hợp đất đai là thước đo phản ánh mức độ thích hợp nhƣ thế nào, của một đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) đối với một loại sử dụng đất

được xác định. Khả năng này có thể xem xét ở điều kiện hiện tại hoặc trong tương lai, sau khi đã áp dụng các biện pháp cải tạo đất đai (Nguyễn Văn Nhân, 1992).

Cấu trúc phân loại khả năng thích hợp đất đai theo FAO đƣợc phân chia theo 4 mức: Bậc (Order), Lớp (Class), Lớp phụ (Subclass) và Đơn vị (Unit). Cụ thể có hai bậc: thích hợp (S) và không thích hợp (N).

* Bậc thích hợp - gồm 3 lớp thích hợp

S1 - Thích hợp cao (Highly Suitable): Đặc tính đất đai không thể hiện những yếu tố hạn chế hoặc chỉ thể hiện ở mức độ nhẹ, rất dễ khắc phục và không ảnh hưởng đến năng suất của các loại sử dụng đất. Sản xuất trên các hạng đất này dễ dàng, thuận lợi và cho năng suất cao.

S2 - Thích hợp trung bình (Moderately Suitable): Đặc tính đất đai có thể hiện một số yếu tố hạn chế ở mức độ trung bình có thể khắc phục đƣợc bằng các biện pháp kỹ thuật hoặc tăng mức đầu tƣ. Sản xuất trên các hạng đất này khó khăn hơn hoặc đầu tƣ tốn kém hơn S1 nhƣng vẫn có thể cho năng suất khá.

S3 - Ít thích hợp (Marginally Suitable): Đặc tính đất đai đã thể hiện nhiều yếu tố hạn chế hoặc một yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục. Sản xuất trên các hạng đất này khó khăn hơn hoặc đầu tƣ tốn kém hơn S2 nhƣng vẫn có thể cho năng suất và có lãi.

* Bậc không thích hợp - gồm 2 lớp

N1 - Không thích hợp hiện tại (Currently not Suitable): Đặc tính đất đai không thích hợp với các loại sử dụng đất hiện tại vì có yếu tố hạn chế nghiêm trọng. Tuy nhiên yếu tố hạn chế đó có thể khắc phục đƣợc bằng các biện pháp cải tạo đất đồng bộ, đầu tư lớn trong tương lai để nâng lên hạng thích hợp.

N2 - Không thích hợp vĩnh viễn (Permanently not Suitable): Đặc tính đất đai thể hiện nhiều yếu tố hạn chế nghiêm trọng, hiện tại không thể khắc phục đƣợc và cũng không nên đưa vào sử dụng trong tương lai vì không có hiệu quả (Đào Châu Thu, 1999).

c. Quy trình đánh giá đất đai theo FAO

Từ năm 1976 đến 2012, quy trình có nhiều thay đổi để phù hợp với sự phát triển của xã hội, khoa học và kỹ thuật. Tuy nhiên về cơ bản quy trình đánh giá đất đai được thực hiện theo 6 bước sau:

(i) Đánh giá hiện trạng để lựa chọn và mô tả các loại sử dụng đất phù hợp với

mục tiêu đặt ra, các điều kiện tổng quát về sinh thái tự nhiên - tập quán sử dụng đất và đặc điểm kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu;

(ii) Xây dựng yêu cầu sử dụng đất cho mỗi loại sử dụng đất đai đƣợc lựa chọn dựa trên yêu cầu sinh lý, sinh thái của chúng;

(iii) Xác định các đơn vị đất đai dựa vào điều kiện thổ nhưỡng, nước, khí hậu.

Mỗi đơn vị đất đai sẽ có một số thuộc tính khác biệt với đơn vị đất đai liền kề;

(iv) Mô tả đặc điểm của từng đơn vị đất đai, bao gồm cả việc xem xét chất lƣợng đất của từng đơn vị đất đai. Đây là những yếu tố có liên quan đến khả năng thích hợp để bố trí loại sử dụng đất đã đƣợc lựa chọn;

(v) So sánh giữa yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại sử dụng đất với chất lƣợng đất cuả từng đơn vị đất đai trong vùng nghiên cứu với mục tiêu xác định khả năng thích hợp của từng đơn vị đất đai đối với mỗi loại sử dụng đất đƣợc lựa chọn. Phân loại thích hợp đất đai bao gồm: khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai hiện tại và khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai sẽ đƣợc cải tạo;

(vi) Phân tích những vấn đề kinh tế - xã hội và tác động đến môi trường khi thực hiện các loại sử dụng đất đƣợc đánh giá để lựa chọn loại sử dụng bền vững phục vụ cho đề xuất phát triển sản xuất (FAO, 1976, 1988).

Năm 2012, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành tiêu chuẩn quốc gia:

TCVN 8409 - 2012: Quy trình đánh giá đất sản xuất nông nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Tiêu chuẩn này đƣợc kế thừa, phát triển từ các tiêu chuẩn ngành trước đây, gồm: 10 TCN 343-98: Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp và 10 TCN 68-84: Quy phạm điều tra lập bản đồ đất tỉ lệ lớn.

Nội dung, trình tự đánh giá đất đai và đề xuất sử dụng đất theo FAO (TCVN 8409 - 2012) đƣợc thể hiện ở hình 2.1.

2.1.3.2. Khả năng ứng dụng bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu

Trong thực tế cuộc sống, chúng ta thường phải xem xét đồng thời một lúc nhiều mục tiêu. Các mục tiêu này thường là khác về thứ nguyên, tức là chúng được đo bởi các đơn vị khác nhau. Những tình huống nhƣ vậy tạo ra các bài toán tối ƣu đa mục tiêu. Người kỹ sư người ra quyết định lúc này cần phải tối ưu hoá (cực đại hoá hoặc cực tiểu hoá tuỳ theo tình huống thực tế) không phải là chỉ một mục tiêu nào đó, mà phải kết hợp đồng thời lợi ích của tất cả các mục tiêu đã đặt ra (Nguyễn Hải Thanh, 2005, 2006; Đoàn Công Quỳ, 2002).

Hình 2.1. Các bước và nội dung đánh giá đất đai

Một phần của tài liệu Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn huyện nam sách, tỉnh hải dương (Trang 37 - 41)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(266 trang)