Thưa cha, mẹ nhủ: “Nhà có phúc sinh con giỏi lội, nhà có tội sinh con hay trèỏ' ạ!
5. TRÊN CON ĐƯỜNG THIÊN LÝ
Sương sớm ám mái nhà. Tiếng chim cu gáy trên khóm tre làng văng vẳng. Nắng trải dài trước ngõ. Một ngày cuối năm At Mùi 1895.
Trên sân nhà, Khiêm và Côn chạy ra, chạy vào ríu ra ríu rít vối mấy thứ đồ chơi quen thuộc mà hai anh em sắp phải xa chúng.
Trong nhà, hai mâm cơm đã dọn sẵn, không ai muốn ăn trước cái cảnh người đi xa, người ở lại.
Bà đồ tay luýnh quýnh điểm lại từng thứ đồ đạc trong hai cái thúng của con gái sắp phải đi theo chồng vào Kinh. Bà nhìn trăn nhìn trở cái bó dép mo cau do bà làm cho con và cháu mang đi đường trường, nước mắt ướt mèm gò má nhăn nheo, nhưng bà vẫn giữ vẻ thản nhiên trước con cháu. Chị cử sắc luôn dặn em và con gái lo toan công việc nhà trong khi chị đi vắng nhà và thay chị chăm sóc bà đồ lúc trái gió, trd trời. Bà con hàng xóm lần lượt đến tiễn đưa gia đình “quan cử" vô Kinh.
Bé Côn chợt nhận ra đã đến giờ mình và anh cùng cha mẹ đi xa nhà. Côn chạy từ ngoài hè nhà sà vào lòng bà. Bà đồ ôm choàng lấy cháu, môi mím chặt không cho bật lên tiếng khóc. Phải một lúc nghẹt ứ cổ bà mới nói trôi mấy tiếng:
- Các cháu đi đưòng xa, bà lo lắm... Bà ở nhà sẽ khấn tổ tiên phù hộ cho các cháu, cho cha mẹ các cháu được chân cứng đá mềm.
Bé Côn lắc tay bà:
- Bà! Bà lại khóc rồi!
Một không khí rộn rịp mà bồi hồi giữa kẻ ở với ngưòi ra đi. Chị cử sắc xỏ chân vào dép mo cau, đặt gánh lên vai. Bé Thanh vẫn bịn rịn bên chân mẹ. Cô An và các bạn gái xúm xít quanh chị sắc, bé Khiêm đã chạy ra ngõ trước. Bé Côn cầm tay bà ngoại đi sau mẹ. Anh cử sắc mang tay nải vải tây điều, chiếc ô gọng đồng mắc ngang khuỷu tay, chân đi dép da bò mỏng. Anh bước chậm rãi giữa đám bạn danh nho và anh em bên làng Sen sang tiễn đưa.
Đám người tiễn gia đình anh cử sắc đi tới cổng làng, rồi tới con đường quan. Anh cử Sắc dừng lại, đứng trước bà đồ:
- Thưa mẹ! Tròi khá trưa rồi, chúng con xin mòi mẹ về kẻo mệt. Vợ chồng con và hai cháu luôn luôn cầu mong mẹ ở nhà mọi sự được bình yên. Dì An và cháu Thanh sẽ thay vỢ chồng con sớm hôm săn sóc mẹ. Chừng nào đỗ đạt, chúng con lại sẽ trở về làm ấm tuổi già của mẹ.
Bà đồ sụt sùi, tay xoa đầu hai cháu Khiêm, Côn:
- Các con đi đi cho chân cứng đá mềm.
Đối với bà con, bạn bè anh cử sắ c cảm tạ và chúc ở lại an khang. Kẻ ỏ người đi, ai nấy giọt ngắn giọt dài, bịn rịn không muôn rời tay...
Một cơn gió thổi cuôn theo những chiếc lá vàng, cát bụi chạy dài trên con đường nắng cháy. Bé Côn ôm chặt cổ cha, mặt vẫn ngoảnh lại phía sau gọi:
- Bà... a... ơi... bà về nhá!
Những cái nón, dải khăn giơ lên vẫy theo và khuất dần sau rặng cây bên lôl về làng Chùa.
... Thành Vinh hiện ra trước mắt cậu bé Côn. cảnh lạ, ngưòi đông, cái gì cũng làm cho bé Côn trầm trồ, ngơ ngác. Lần đầu tiên, Côn thấy có nhiều con đưòng tỏa ra như bàn cò và nhà cửa san sát dọc theo đưòng dài tăm tắp. Côn càng ngạc nhiên trước những dòng người đi chân đất, quần áo rách rưới. Lại có cả những ngưòi ngồi trên xe cho ngưòi kéo.
Côn níu chặt bàn tay cha, bước chầm chậm trên hè phô. Đôi dép mo cau ôm dính chặt vào hai bàn chân Côn thon thon như hai chiếc lá non. Côn chăm chú nhìn mọi cảnh vật mới lạ trên đường phô', quên cả đói bụng, mỏi chân.
Dọc điròng từ quê nhà, qua thành Vinh, rồi đèo Ngang, đến kinh đô Huế, bé Côn không ngớt hỏi cha chuyện này, chuyện nọ, nào là cái ông to đùng, bụng phệ nằm trên xe bắt một ông gầy gò kéo đi (Tây đi xe kéo), nào là cái nhà cao lớn có hào sâu, lính gác (thành Vinh), nào là chuyện kết bạn với những khách bộ hành đê đỡ lo cướp, lo hổ báo v.v... Rồi khi đến đèo Ngang, bầu tròi trong vắt, gió biến gọi cây ngàn, gia đình anh cử Sắc nghĩ chân trên bãi cỏ dưới chân đèo.
Lần đầu thấy dãy núi cao nằm chắn ngang con đường thiên lý, gió biển lật lật tà áo và hai cụm tóc trái đào bay lõa xõa quanh đầu mà bé Côn vẫn không hay biết. Bất chợt, Côn hỏi:
- Cha ơi cha, trên đỉnh núi kia có cái chi vắt qua núi, m àu đo đỏ như sỢi dây ngoằn ngoèo ấy cha?
Anh cử Sắc nhìn lên đèo:
- O! Cái như sợi dây đo đỏ trên núi ấy là con đường mòn đó con ạ! Lát nữa cha con mình sẽ leo lên đó rồi mới sang bên kia dãy núi được.
Mặt trồi ngó xuống đỉnh đèo. Bé Côn đòi cha cho được tự do leo lên dốc, lúc nào mệt thì cha hẵng cõng... Qua khúc lượn quanh sườn núi, gió đồng đẩy lùi lại, họ phải nhoai người lên phía trước, tay níu cây bên đường mối bước lên được từng bậc dốc. Chị Sắc áo sũng mồ hôi vẫn theo sát gót chồng con. Đằng sau, còn có những tốp người đi vào Kinh đô, cũng đang tiếp tục vượt đèo.
Trên đỉnh đèo cao, gió lộng, biển trải dưới chân đèo, xa mênh mông. Mọi ngưòi ngồi nghỉ chân, phanh ngực đón gió lành. Bé Côn trầm trồ nhìn ra chân tròi xa thấy “Cái ao lớn quá” {biển), rồi lại thấy những “con bò to” lội trên biển (thuyền)...
Anh cử Sắc cứ bâng khuâng nhìn con và cảm thấy ở đứa con mình có thiên tư khác thường.
Côn ôm lấy cổ cha, bóng trải dài trên đỉnh đèo Ngang cao vòi vỢi. Biển xanh xa vẫy gọi dưới chân bé Côn. Từ trong triền núi xa xa vọng tới tiếng chim: Quốc... quổíc... gia...
gia. Côn hỏi cha:
- Ổ đây cũng có chim cuốc và cả tiếng chim chi đó nữa, nghe “gia gia” lạ quá cha ạ!
- Vì có loài chim ấy kêu mà người xưa khi đi qua đây đã vịnh thơ: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc... Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”.
Bé Côn hai tay vẫn ôm chặt cổ cha, nhắc từng tiếng câu thơ “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc” theo nhịp bưốc của cha xuốhg dốc đèo Ngang.
... Sau một tháng đi bộ ròng rã trên con đưòng thiên lý dài hàng trăm dặm, gia đình anh cử Nguyễn Sinh sắc vào tới Kinh đô H uế an toàn.
Nơi ăn chốn ở đã ổn định, chị cử sắc bắt tay vào kéo sỢi, dệt vải, lấy công làm lãi đê nuôi con, giúp chồng ăn học.
Anh Sắc vào học Quốc Tử Giám, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy.
(Theo B úp sen xanh)