1 1. “KIM LIÊN CÓ CÁNH SEN VÀNG”
17. CHỌN MỘT LÓI ĐI
Tròi nhá nhem tốì. Trong nhà đã tỏ ánh đèn, đĩa dầu hai bấc le lói tỏa sáng. Phảng phất mùi hương và hoa huệ từ trên bàn thò tỏa theo chiểu gió.
Quan Phó bảng Huy nói với các con:
- Bữa nay giỗ mẹ các con, cha cho phép các con uông chén rượu cho ấm bụng.
- Con xin mồi cha! Đạt thưa.
- Con xin mời cha và anh! Thành thưa.
Ba cha con quan Phó bảng ngồi quanh mâm cơm thành th ế chân kiềng trên phản.
Gió se se lạnh lướt qua rèm, rót cái gió lạnh vào trong nhà. Có tiếng người ngoài sân.
Thành lên tiếng:
- Có người... cha ạ!
Ông Phó bảng đặt bát xuống mâm, nói:
- Thành ra coi ai ở ngoài đó con.
Thành cầm đèn, bàn tay trái khum lại che gió, Đạt giúp em nâng cánh rèm lên.
Bóng ngưòi từ ngoài sân tôi bưổc vào, lên tiếng;
- A! Cháu Thành! Cha cháu có nhà chứ?
Thành nâng tay đèn quá đầu, ngó ra:
- ơ! Chú Đặng... Chú Đặng Thái Thân!
- Nói nhỏ thôi cháu, ô n g Đặng nhắc Thành.
Hai người bước vào và sau khi chủ - khách chào hỏi, mời cơm, mời nước, Đặng Thái Thân giọng thận trọng;
- Phan Tiên Sinh (Phan Bội Châu) lại vừa cử đồng chí về nước tiếp tục đón người sang Nhật. Phan Tiên Sinh có dặn tôi chú trọng yết kiến quan bác và xin cho cháu Thành xuất dương. Chỗ tôi biết Phan Tiên Sinh và thúc phụ tôi là Đặng Tử Kính đã có lưu tâm về cậu ấm Côn từ hồi còn học với thầy Vương Thúc Quý... Một thiên tư hiếm có!
Quan Phó bảng Huy ôn tồn:
- Đa tạ lòng ái mộ của chư huynh. Giò đây cháu đã ở tuổi lý tính, mà việc xuất ngoại là để mưu nghiệp lớn, cứu nước, cứu nòi... Rất trọng đại, tôi xin để tự ý cháu lựa chọn!
Hai ngưòi ngồi trầm ngâm. Một lát sau, quan Phó bảng gọi:
- Thành... đâu?
- Dạ! Thưa cha con đang dở tay.
- Con để đó anh Đạt con làm cho, lên ngay đây con.
Thành đứng lễ phép trước cha và ông Đặng Thái Thân.
- Cho phép con ngồi xuống gần chú Đặng - ỏ n g Phó bảng nhìn về phía Đặng Thái Thân: - Đế cháu được tự nhiên thư thái hầu chuyện hiền huynh, tôi vô trong sửa soạn mấy việc cho ngày mai. Tôi với hiển huynh sẽ con bàn luận nhiều. - Nói xong, ông đi khuất vào sau cửa.
Đặng Thái Thân chậm rãi, nhỏ nhẹ:
- Chú nghe tin cháu học giỏi, chú mừng lắm. Cháu là một thiếu niên tuấn tú, thiên tư, sớm có nhiều tâm huyết. Theo ý cụ Phan, chú muôn bàn việc đưa cháu sang Nhật học. Người Nhật họ đã hứa sẵn sàng giúp Việt Nam mình đánh đuổi giặc Tây Dương...
Ong Đặng chăm chú nhìn Thành.
Thành mạnh dạn hỏi:
- Chú ơi! Cháu hãy còn ỏ cái tuổi trẻ thơ mà các chú đã tin, đã định giao phó công việc tôl hệ trọng. Mà chú ơi, mưu việc đánh Tây mà lại trông vào nước Nhật, thưa chú?
Đặng Thái Thân mỉm cười, hy vọng:
- Nhật đã trở thành một cường quốc hùng mạnh nhất châu Á. Ta với Nhật là hai nước ở gần nhau, lại cùng giông da vàng, họ sẽ hết lòng giúp ta đánh đuổi bạch quỷ.
- Cháu xin phép chú được nói ra sự cạn nghĩ của cháu.
- Cháu cứ mạnh dạn! - ô n g Đặng chấp thuận ngay.
Không cần suy nghĩ lâu, Thành thưa:
- Cháu nghĩ rằng nước ta và nước Tàu ở gần nhau, lại cùng giông da vàng, viết chung một thứ chữ Hán. Vậy mà nước Tàu đã bao phen thông trị nước ta, mưu toan diệt nòi người Nam... Ngay cả Nhật cũng đã chiếm Cao Ly (Triều Tiên) làm thuộc địa.
Vậy thì người Nhật họ thương gì người Nam ta... Tìm con đường cứu nưốc, cứu dân là tối trọng. Phải thận trọng, phải nghĩ kỹ... Bởi "'Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Tái hồi đầu thị bách niên thân" (Sai một bước, ôm hận suốt đời, lúc ngoảnh nhìn lại thì đã trăm tuổi mất rồi).
Đặng Thái Than cô gang thuyét phục them:
- Nói như cháu cũng đúng. Nhưng thời cơ đang thuận lợi cho ta là người Nhật họ đang có thiện cảm với ta... cháu ạ!
Thành cũng nói thêm:
- Thưa chú! Cháu trộm nghĩ; Tây Dương hiện là cừu địch của dân ta, của nước ta.
Muôn đánh đuổi được kẻ địch ấy thì phải biết rõ chúng. Người xưa nói: “biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Cháu cho là việc sang Nhật để mưu sự đuổi Tây chưa chắc đã phải là thượng sách.
Ổng Đặng Thái Thân mặt lấp lánh ánh sáng cảm động nhin như soi lên đường ngôi mới hình thành trên đầu Nguyễn Tất Thành, ô n g rót hai chén trà, một đặt vào bàn tay Thành, giọng cảm động, ân cần và tha thiết;
- Cháu uông với chú một chén trà để nhớ mãi cái đêm kỷ niệm này. Dù cháu không cùng đi một con đường với chú, nhưng chú vẫn tìm thấy ở cháu một đồng chí, đồng tâm. Vì chú cháu mình đều cùng một trái tim: “Yêu nước”... Điều CUỐI cùng chú cháu mình hẹn nhau: “Cứu nước! Cứu nước! Cứu nước!”.
(Theo Sơn Tùng)
18. LẠI MỘT CHUYẾN “LAI KINH”• ■
Cuối tháng 5-1906, không thể lần lữa mãi được, ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy phải có mặt tại triều đình H uế để nhận chức thừa biện ở Bộ Lễ thay cho quan Phó bảng Phan Châu Trinh đã dâng tò biểu xin từ chức.
Đường làng Sen ngào ngạt hương. Những bông sen trong đầm xòe cánh lụa mượt mà dưới nắng mai dìu dịu.
Cái tin quan Phó bảng vào Kinh nhậm chức làm xôn xao dư luận trong làng, ngoài xã. Bà con làng Sen, làng Chùa rủ nhau đến chúc mừng và chia tay ông, có người ngỏ ý xin đi cùng... ô n g nói:
- Tôi đi chưa chắc đã làm quan, mà nếu có làm quan chăng nữa cũng chưa dám nói là lâu hay chóng.
Hiểu bụng ông, bà con rỉ tai nhau;
- Ngưòi ta đi làm quan là để vinh thân, còn ông Phó bảng đi làm quan chẳng qua là để che thân mà thôi.
Ra đi làm quan mà lòng ông Nguyễn Sinh Huy ngổn ngang trăm mối lo âu. ô n g giao cho con gái Nguyễn Thị Thanh chăm nom vưòn tược, cửa nhà, còn hai con trai được chuẩn bị hành lý để cùng cha vào Huế. Chị Thanh nhìn em, nước mắt lưng tròng.
Chị em lại phải xa nhau. Tất Thành reo lên vui mừng khi được phép cắt bỏ hai cụm tóc trái đào của mình, đã vì nó mà Thành rầy rà với bạn bè ở Vinh.
Dự cảm thấy chuyên đi này sẽ đi xa và lâu ngày, Thành đi chào tạm biệt ba con họ hàng, bè bạn và cũng không quên các thầy giáo cũ. Thanh và bà con họ hàng thân thích tiễn chân cha cùng hai em tới cầu Hữu Biệt. Ba cha con quan Phó bảng Huy bước từng bước bịn rịn, còn những người thân đi tiễn đứng rải rác dưói bóng tre nhìn theo cha con ông đi xa dần. Thanh đứng chơi vơi bên bò đầm Sen như hòn đá.
Con đường sắt Vinh - Đông Hà đang làm dở dang. Ba cha con ông Phó bảng vẫn phải đi bộ. Nhớ lại mưòi năm về trước, cậu bé Côn còn ngồi sau lưng cha hoặc trên một đầu thúng của mẹ, mà nay đã là một chàng trai đến tuổi thanh niên.
Đi đến khu vực Bến Thủy, núi Quyết nằm sát sông Lam, nơi đây vẫn còn di tích
“Phượng hoàng Trung Đô” mà Quang Trung Nguyễn Huệ đã làm cho quân Thanh khiếp vía, kinh hồn. Qua Bến Thủy là quê hương Nguyễn Du với Truyện Kiều nổi tiếng - Một kiệt tác sông mãi trong hàng triệu trái tim người Việt Nam, trong đó có câu như lòi cảnh tỉnh của Nguyễn Du mà quan Phó bảng luôn tâm đắc; “Áo xiêm ràng buộc lấy nhaul Vào luồn ra cúi công hầu mà chi”.
Vừa rảo bước, hai anh em Thành vừa thi nhau đọc các áng hùng văn hoặc kể cho nhau nghe những câu chuyện lịch sử một cách sảng khoái. Nào ''Hịch tướng sĩ\ nào
“Bình Ngỏ đại cáò' hay những bài thơ tứ tuyệt của Lý Thường Kiệt, của Trần Quang Khải V . V ' . . .
Mỗi lần Thành nhắc tới Nguyễn Trãi, quan Phó bảng luôn tỏ thái độ thành kính, đôi mắt xa xăm nhìn vào khoảng không gian vô tận. ô n g khâm phục Nguyễn Trãi, một thiên tài sáng ngời nhân nghĩa như vậy mà cuô’i đòi lại bị bọn nịnh thần và ngu q u ín dãn đến tai họa "tru di tam tộc".
Leo dổc lên Đèo Ngang, cảnh núi non, biển cả hùng vĩ và đầy thơ mộng đã giữ chân ba cha con quan Phó bảng dừng lại khá lâu. Tự nhiên, hai anh em Thành đều cao hứng ngâm mấy vần thơ của Bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang hóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông rợ‘ mấy nhà.
Hai anh em đố nhau câu nào hay nhất. Thành cho rằng câu nào cũng hay, nhưng anh thích nhất là hai câu:
Nhớ nước đau lòng con quốc quôc '^ ' Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Nghe hai con chuyện trò tíu tít. ông Huy lại tự thấy thú vị với hai câu kết:
Dừng chăn đứng lại, trời non nước Một mảnh tinh riêng, ta với ta!
(Theo N. An)