22 . THAM GIA ĐẤU TRANH
23. THẦY GIÁO TRƯỜNG DỤC THANH ■
Nguyễn Tất Thành bị cảnh sát săn đuổi. Tòa Khâm sứ cho ngưòi sang trường Quốc học khiển trách vì có học sinh tham gia biểu tình chông “Nhà nước bảo hộ”.
Thầy Lê Văn Miến nói với Thành:
- Trước ngày đi Bình Khê nhậm chức, quan Phó
bảng có dặn thầy: “hãy vì tình bằng hữu giúp tôi trong việc chăm sóc các cháu Đạt, cháu Thành, đặc biệt là cháu Thành học tới thành chung”. Thầy rất quý cái tâm, cái trí sáng của trò. Thầy muôn trò chịu nhẫn nhục để học cho tới bằng thành chung, rồi trò sẽ tự quyết con đường sông của mình.
- Thưa thầy! - Thành nói từ tôn - Con không lỗi đạo thầy trò. Vừa qua, con hành động đúng. Con đã có năm ba chữ, biết suy nghĩ, con sang tuổi mưòi tám rồi, con không thể thờ ơ trước đồng bào mình bị chà đạp, phải đứng dậy đòi được quyền sống... Con cam chịu bị đuổi ra khỏi nhà trường, chứ không thể bị trói mình nộp mạng cho Tòa Khâm!
Thầy Miến tiếp tục thuyết phục, nhưng lòng Thành đã quyết:
Sảnh chính trường Dục Thanh
- Thưa thầy! Lão Khâm sứ đã dám chìa l)ản “đầu thú” viết sẵn ra trước mặt đức vua Thành Thái giữa lúc vua bước ra khỏi hoàng cung lên đường đi đày. Đức vua đã ném cái tò giấy nhục nhã ấy xuông đất, ngẩng cao đầu: ''Muôn dân nô lệ từng đàn, vua chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta"... Thưa thầv, vua ung dung đi đày, không quay trở lại ngồi lên ngai vàng nô lệ. Cái ghế học trò! Con yêu nó như yêu cái thềm nhà in dấu vết con tập bò, tập đi. Nhưng con không thê chịu nhục ôm cái ghế đê có mảnh bằng thành chung. Thầy hiểu cho lòng con.
Thầy Miến với hai bàn tay bưng lấy mặt, nói:
- Tât Thành! Con đừng nói thêm một lời nào nữa! Con hãy đi... đi theo tiếng gọi cùa lòng con...
Rồi ông từ biệt Thành, người học trò đã để lại trong tâm trí ông cái ấn tưỢng như con sô' 1 đứng ở đầu hàng số dài vô tận.
... Nắng Huế! Một thứ nắng như từ biển dâng lên, tràn đầy!
Gió! Gió Huế! Một loại gió nóng từ bên kia Trường Sơn tràn về dữ dội!
Nóng! Cái nóng như lửa bôc vây hãm cả bôn phía Kinh đô Huế. Mặt tròi như một cái vung lửa úp xuông Huế! H uế ngột ngạt!
Đạt ngồi lặng nhìn hai bàn chân em luôn xê dịch trên nền nhà, rồi anh hỏi em một cách đột ngột:
- Em định thế nào?
- Em rời khỏi H uế ngay hôm nay.
- Em đi đâu? - Đạt ngạc nhiên hỏi.
- Em đi lần vô miên trong.
- Đế làm gì?
- Em còn muốn đi xa, đi xa hơn nữa! Đi để biết, để học, để rồi làm được một việc gì cỏ ích cho dân mình, nước mình.
- Em đã nghĩ kỹ chưa?
- Từ lâu em đã tìm, đã lựa chọn cho mình một hướng đi, anh ạ!
- Em đã quvết thì thi hành. Anh học hết niên khóa này, anh cũng sẽ chọn một hướng sống hỢp với mình...
Hai anh em nhìn nhau. Mắt ướt! Ngoài vườn lặng lẽ, tiếng chim ròi rạc vọng vào như từng giọt lệ rơi: quốc... quôc.
Nguyễn Tất Thành sải bước trên đường phô' nóng ran. Những chiếc lá rơi, gió cuôn trên đường thăm thẳm. Anh thấy bầu tròi Huế, mặt đất Huế..., thành quách, cung điện..., đền đài Huế quay tít trong đám lá bụi mịt mù. Anh cũng cảm thấy mình đang như một chiếc lá ròi khỏi cành bay trong gió cuôn.
Qua khỏi đèo Hải Vân, vào thấu thị xã Quảng Ngãi, Tất Thành ở lại đây vài ngày vì thấm mệt qua chuyên đi đường dài. 0 đây, cũng như con đường đi qua Quảng Nam, Thành nghe nhiều tiếng than, lòi nguyền rủa thực dân Pháp và ta thán bọn tay sai buôn dân bán nước. Thành còn nghe cả tiếng dân ca ngợi, thương tiếc những người vì nghĩa lớn đã bị chém giết tù đày, trong đó họ kể cả lòng thương dân, tinh thần tiết tháo của quan Trần Văn Phổ (cha Trần Phú) làm tri huyện Đức Phổ. ồ n g không chịu hỢp tác với tên công sứ Đô-đê đàn áp nhân dân nổi dậy chông sưu cao, thuế nặng.
Rời Quảng Ngãi, Thành đi vào Bình Dịnh, rồi đến huyện Bình Khê.
Bình Khê là một huyện nhỏ miển núi, nghèo, xa xôi của Bình Định, nằm dưới chân đèo. An Khê, cách Kinh đô Huê hơn ba tràm câv số về phía Nam. Đây là đất Tây Sơn làm nên'cuôc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Sau khi vua Quang Trung mất, Nguyễn Ánh cho quân đến tàn phá vùng này. Dân bỏ chạy, làng xóm tiêu điều.
Ông Nguyễn Sinh Huy ít khi có mặt ỏ huyện đường Bình Khê, mà thường đi thăm dân ỏ huyện lỵ. ồ n g không muốn xét xử những vụ dân kiện cáo lẫn nhau về tranh chấp ruộng đất, mà khuyên họ hòa giải:
- Nước mất không lo, lo tranh nhau cái bờ.
Huyện đưòng Bình Khê là một ngôi nhà chạy dài, một tầng, nhìn ra một sân rộng, hai bên có hai dãy nhà phụ.
Thành bước vào cửa huyện đường Bình Khê thì gặp cha và mấy người lính lệ đang làm vườn. Thành đến gần chắp tay:
- Con chào cha! Cha có được khỏe không, thưa cha?
- Cha rất khỏe... Con đi đâu mà qua đây?
- Dạ! Con đến đây tìm cha!
- Nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì?
- Con đến thăm cha để rồi... con đi...
Nét mặt quan huyện đã ấm lại và thoáng cười tươi:
- Được! Cha tưởng con đi theo cha thì đáng buồn. Con phải tự tìm ra cho mình một hướng đi, một con đường. Đời cha không có con đường, chỉ có ngõ cụt. Cha đã không làm được điều mình ước nguyện: Vì Tổ quô'c mà ngã giữa trận tiền, vì công bằng mà rơi đầu trước đám cường quyền bạo ngược. Cha đành chịu phận: Chí đoản hận trường (chí nhỏ, hận dài).
Nghe vậy, Thành nói ý nguyện của mình:
- Nhớ lòi cha dặn con hồi năm ngoái, nay con định đến Phan Thiết, trao phong thu Cỉảa
cha tới ông Hồ Tá Bang. Con sẽ xin được dạy học ở trường Dục Thanh một thời gian cha ạ!
- Phải! Con cứ mạnh dạn làm, một khi lòng đã quyết. Phải nhớ là: Lúc ta còr t’hơ ấu thì thuộc quyền cha mẹ, lúc ta lớn lên thuộc về đất nước, lúc về già lại phải cành cho lớp ngưòi sau là quan trọng nhất"’.
... Thế rồi dấu chân Nguyễn Tất Thành in xuông cực Nam Trung Bộ. Dưới ánh nắng thiêu, bóng anh nghiêng nghiêng bên bóng những tháp Chàm trần trụi.
Cửa biển Phan Thiết hình cánh cung. Những con dã tràng kiên nhẫn xe cát tnên bãi biển. Thành tình cò gặp bạn cũ - Phạm Gia c ầ n (con Phạm Khắc Doãn, làm cuan biên tu Quốc sử quán ở Huể) từ Bình Thuận về Nghệ An. Sau khi tâm sự, Thành viiết vội lá thư gửi về quê cho chị Thanh và anh Kliiêm;
Em đã nhận được chân dạy học tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết. Trường này có các lớp tư, lớp ba, lớp nhì và lớp nhất'^'. Học trò được học ba thứ chữ: Quốc Igữ,
(1) Sau lần này, Thành không gặp cha nữa. Nguyễn Sinh Huy mất ngày 26-11-1929.
(2) Lớp tư: cours Préparatoire, nay là lớp hai.
Lớp ba: cours élémentaire, nay là lóp ba.
Lởp nhì: cours moyen, nay là lởp bon.
(đúng ra có lởp nhì năm thứ nhất = cours moyen fremière année và lớp nhi năm thứ hai = cours moyen deuxièm e année).
Lớp nhất: cours supérieure, nay là lớp nam.
chù Tây, chữ Nho. Các môn sử kỷ, địa dư, cach í rí, toán pháp, toán đố... đều được soạn dạy theo mục đích của nhà trường: mở mang h i thức cho học sinh, đào luyện họ thành ngiiời ích nước, lợi nhà... Em nhận dạy chữ Táy cho lớp nhi, dạy sử ký, địa dư cho lớp nhót. Em được nhận vô dạy trường này là co sự giúp đỡ của ông Hồ Tá Bang'", hạn thâi của cha. Em còn được phụ trách thể dục huổi sáng của trường.
■Cuôi thư Thành dặn chị gái và anh trai:
'Trường Dục Thanh là một cung trên con đường em đi... Em sẽ ỏ lại đây một thời giar. để rồi đi tiếp vô Sài Gòn và đi xa hơn nữa..."
rhành là một tấm gương về tình thương yêu học sinh và lòng say mê học hỏi.
Troig trường, ban ngàv càng nhộn nhịp vui vẻ bao nhiêu, thì đêm khuya càng vắng lặn^% tĩnh mịch bấy nhiêu. Phía sau có hồ sen, hương thơm man mát, làm cho Thành lại ;cô'n xang nhớ làng Sen, nhớ Huế. nhổ bao kỷ niệm thân thương của cuộc đời.
(Theo Búp sen xanh và N. An)