1 1. “KIM LIÊN CÓ CÁNH SEN VÀNG”
15. RÚT RUỘT VUA - CHÉM ĐẦU TÂY ■
Phan Bói Châu
Hè năm 1904, chôn cất bà ngoại xong, Côn được cha dẫn đi thăm các bạn thân trước ngày ông phải vào kinh đô nhậm chức. Cũng lúc này, Phan Bội Châu đã lập Duy Tân Hội cùng với Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Nguyễn Hàm, Nam Xương, Lê Võ... Các nhà sáng lập Duy Tân Hội đã mòi Cường Để làm hội trưởng rồi đưa sang Nhật cầu viện.
Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là bạn chí thân của Phan Bội Châu, nhưng ông không tham gia Duy Tân Hội. Ong không tỏ thái độ tán
thành mà cũng chẳng phản đối con đuòng của Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý về những nỗi đau mất nước. Quan niệm của ông là sự nghiệp lớn lao đó lốp người hiện thòi như ông chưa thực hiện được, mà phải thê hệ sau, con cháu mới có thể gánh vác điíợc.
Côn thường được nghe cha đàm đạo những quan niệm ấy với Phan Bội Châu, Vưđng Thúc Quý. Có lần Côn nghe cha và ông Phan nói với nhau:
- Mục đích của Hội Duy Tân là gì?
- Là quét sạch bọn Tây dương ra khỏi bò cõi!
- Đó là nguyện vọng của hai mươi triệu con cháu Lạc Hồng chúng ta. Nhưng lấy cái gì, dựa vào đâu để cái mục đích ấy thành đạt được?
- Không được đâu anh ạ! Vọng ngoại tất vong"\
Sau cuộc bàn luận giữa cha và Phan Bội Châu, Côn trăn trở nghĩ về những điều đã nghe được.
Nhân lúc trên đường cùng cha tiễn Phan Bội Châu xuất ngoại, Côn “chiết tự” về mục đích của Hội Duy Tân. Côn viết lên bàn tay chữ “Vương” biến ra chữ “Tam”, chừ Tây” biến ra chữ “Tứ”.
Quan Phó bảng Huy đọc những chữ đó trên tay con, chưa rõ ý, bèn hỏi:
- Con muôn nói gì về cách chiết tự này?
- Dạ thưa cha, con nghe chú Phan nói chuyện với cha về công việc “hội kín”, trong đầu con bỗng lóe lên cái trò chiết tự, vổi nghĩa của nó là: Rút ruột vua (bỏ cái sổ), tam dăn'^^ bình đẳng chém đầu Tây (bỏ nét đầu), tứ chủng giai huynh^^\
Quan Phó bảng sắc sửng sốt nhìn con và thấy sự suy nghĩ của con cũng giông sự suy nghĩ của ông về công cuộc cứu nước.
(Theo Sơn Từngỳ
16. “Tự DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI” LÀ CÁI THỨ G Ì?
Từ khi thực dân Pháp chiếm sáu tỉnh Nam kỳ (1867), đến năm 1905, tên Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-m e (Paul Doumer) ký lệnh thành lập trong phạm vi cả nước một loạt trường tiểu học, gọi là trường Pháp - bản xứ, đặt ở các thành phô' và các tỉnh lớn, để dạy tiếng Pháp kèm thêm quốc ngữ và chữ Hán.
ớ các tỉnh Trung kỳ được Toàn Quyền Đông Dương cho phép mở trường Pháp - Việt, thu hút thanh niên và nho sinh của các thầy đồ ở hương thôn. Nhiều thầy nho đã than thở và lại ghét chữ Pháp và quốc ngữ, cho đó là chữ của giặc Pháp.
(1) Trông chờ vào bên ngoài giúp ắt sẽ thất bại.
(2) Tam dân: dân tộc độc lập. dân quyền tự do. dân sinh hạnh phúc. Ỳ nói: đánh đổ chế độ vua chúa, mọi người binh đẳng.
(3) Tứ chủng: Theo quan niệm ngày xưa có bốn màu da: vàng, trắng, đen, đỏ. Tại Đại hội Đảng lần thứ III, B á c Hồ nói: “Quan sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh e m ”. Trong "Nhật ký chìm tàu” (1930), B á c viết:
“Răng đây bốn b ể một nhà, vàng đen trắng đỏ đều là anh e m ”. Cách chiết tự trên của Côn, ý nói: Đánh đuổi giặc Tây, mọi người đều là anh em.
Trong số các bậc khoa bảng có qua lại với cha mình, Nguyễn Tất Thành thấy có vài ngưòi cố xúy cho việc học tiếng Pháp. Họ cho rằng có hiểu được giặc mới hòng thắng giặc. Thời Lê Lợi, nếu Nguyễn Trãi không giỏi Hán tự thì làm sao mà đối đáp đượr; với bọn Phương Chính, Vương Thông ở thành Nghệ An, Đông Quan...? Vậy thòi nay, muốn đánh Tây ắt phải học chữ Tây.
Vốn ghét lối học "'trên cành trên lá", ông Phó bảng Huy thấy được sự cần thiết, hỢp thời của việc học quốc ngữ và sau khi cân nhắc điều hơn lẽ thiệt, ông mạnh dạn cho cả Tất Đạt và Tất Thành xuống thị xã Vinh học trường tiểu học.
Tay quen cầm bút lông, lần đầu tập viết bút sắt, Thành thấy rất ngượng. Nhưng phải công nhận rằng, thứ chữ mới này học chóng hóa thật. Chính ở lóp học này, Thành bắt đầu tiếp xúc với mấy chữ Tự do, Binh đẳng, Bác ái treo trên tường lớp học. Thành bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa của những từ hấp dẫn đó. v ề sau, anh đã có dịp nhắc lại những kỷ niệm ấy; “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp: ‘T ự do, Binh đẳng, Bác ái". Thế là tôi muôn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những
ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Khi học từ vựng Pháp, Thành thường ghi chữ Hán bên cạnh để dễ nhớ nghĩa.
Năm 1905 là năm thứ tám của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp ở Đông Dương. Nào là các đưòng thuộc địa từ Việt qua Lào; ngày 27-3-1905 tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh được khánh thành bằng chuyên xe lửa chạy tiếp từ Hàm Rồng.
Đưòng phố’ ở Vinh được mở rộng. Nào là nhà máy sửa chữa xe lửa Trưòng Thi, các hiệu buôn của Pháp và Hoa kiều, trụ sở các Chi nhánh Hội lâm nghiệp và làm diêm Đông Dương (SIFA), công ty Pháp Á... được xây dựng ở Vinh - Bến Thủy. Rồi công ty Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ được độc quyền kinh doanh rượu, muối, thuốc lào, thuốc phiện từ Hà Tĩnh trở ra theo Nghị định ngày 20-12-1902 của Toàn quyển Đông Dương.
Thực dân Pháp đã từng dùng chiêu bài '"truyền giáo" để dễ dàng xâm lược nước ta.
Từ những năm giữa thế kỷ 19 tên đội lô"t thầy tu Gô-chi-ê (Gauthier) với cái tên Việt là Ngô Gia Hậu đa lập ra vung Thien chúa giáo xă Đoài (1846). Khi bình định được nước ta, bọn phản động đội lốt thầy tu là cánh tay đắc lực trong công cuộc cai trị, đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp.
Phải chăng những cái gì mà thực dân Pháp thu được trong chương trình khai thác thuộc địa mà Thành đã nhìn thấy trong phạm vi nhỏ hẹp ở Vinh là Tự do, Binh đắng, là Bác ái của bọn cướp nước đôi với Tổ quốc ta, đối với dân tộc Việt Nam ta?!
Cái nôi quê hương giàu truyền thông bất khuất với bản sắc riêng của xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc và ý chí
“/àm trai cho đáng nên trai”, những tấm gương của những thầy giáo và những hoạt động sôi nổi của các bậc cha chú như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý... đã kích thích cao độ chí làm trai của Thành. Và thái độ bất hợp tác, ngầm chông đốì thực dân, phong kiến và sự thức thòi, lòng thương dân yêu nước của thân phụ có ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành.
Thành vô cùng cám ơn cha đã tạo cho anh được theo bước bộ hành của cha qua nhiều địa phương, đế tâm hồn anh càng gắn bó với nhân dân, tầm nhìn của anh được mở rộng và nâng cao trình độ nhận thức, phân biệt được bạn thù. cản h đói khô của dân nghèo tương phản với cảnh xa hoa đài các của thực dân Pháp, của bọn quan lại,
bọn địa chủ, thương gia và cảnh tan hoang, chết chóc của những vùng bị khủng bô’, cướp bóc... Càng giúp cho Thành rút ra được những cái gì ẩn sau các từ Tự do, Binh đắng, Bác ái mà con cháu ngưòi Gô-loa lấy làm phương châm cho cuộc sôVig, làm mục tiêu cho hành động của mình.
(Theo N XB Nghệ An)