Thưa cha, mẹ nhủ: “Nhà có phúc sinh con giỏi lội, nhà có tội sinh con hay trèỏ' ạ!
7. ĐI XEM MẶT VUA THÀNH THÁI
Trong sô' bạn học ỏ thành nội, Công tôn nữ Huệ Minh là bạn thân nhất của Côn.
Huệ Minh là dòng dõi nhà vua, hơn Côn vài ba tuổi. Còn bạn Diệp Văn Kỳ là con ông Diệp Văn Cương, người Sài Gòn, làm quan thông ngôn tiếng Pháp cho vua Thành Thái Kỳ cùng tuổi với Côn. Tuổi nhỏ tuổi nhất, Côn vẫn là trung tâm trong đám “học trò thành nội” của “ô n g Cử Nghệ”.
Hôm ra chơi ngoài Phu Văn Lâu, nhìn về dãy núi phía Tây Nam thành Huế, Côn hỏi Huệ Minh;
- 0 Minh đi, con sông ni có tên là Hương, cái lầu kia là Phu Văn Lâu, cái cửa lớn ở chính giữa là Ngọ Môn, cửa bên là Thượng Tứ, là Đông Ba. Vậy cái hòn núi tận xa kia tên là chi?
- Hòn núi đó tên là Ngự Bình, Côn ạ.
- Ngự Bình - Côn chau mày, hỏi gạn: - Hương Giang là sông Thơm. Vậy Ngự Bình nghĩa là gì; o có biết không?
- Hòn núi đó thỉnh thoảng được Hoàng Thượng tói ngồi ngắm cảnh, nên gọi là
“Ngự”. Núi ấy lại giống như cái bình phong chắn phía Tây Nam cho cung thành nên gọi là “Bình”.
Nghe thế, Côn lại nói:
- Chỗ tụi mình thường ngồi chơi đây nên đặt tên là bến Ngự Đồng, nghe.
Công tôn nữ Huệ Minh hơi sửng sôt nhìn Côn. Khiêm thì trề môi: “Vẽ chuyện'’. Kỳ thì hào hứng nói:
- Côn sáng ý lắm. Ta nên đặt tên cho những nơi chúng mình hay tụ họp nhau lại chơi.
Huệ Minh quát:
- Chúng mình đã phạm thượng! Vua là đấng thiên tử. Chúng mình thuộc quyền chăn dắt của vua. Cho nên, từ quan chí dân không ai được làm việc chi ngoài sự quy định của vua.
Côn chớp chớp mắt nhìn về phía điện Thái Hòa, nhổ lại có lần bà ngoại nói với Côn:
“Vua là con trời...”, Côn chưa thể tin, nên hỏi:
- o Minh ơi! Nói trời là cha của vua, sao trồi lại để cho ngưòi Tây dương đến bắt vua nước Nam ta phải ở dưới quyền cai trị của họ?
Huệ Minh và cả đám bạn nhỏ mặt tái mét nhìn sang phía tòa Khâm sứ, nhìn quanh bôVi phía, sỢ quan binh Tây nghe thấy.
Chị cử Sắc từ trong thành đi ra phía bờ sông. Một bạn nhỏ thấy mẹ của c ôn liền giục cuốhg cuồng:
- Mẹ của mi... Côn ơi! Trôn mau đi...
Côn ngước nhìn về phía mẹ. Khiêm và các bạn nhỏ đều đã trôn vào bụi cây ven sông. Côn không trốn mà ròi khỏi bò sông đi tới với mẹ. Chị cử sắ c giục:
- Về nhà nằm để mẹ hỏi tội, mau lên.
Côn ngoan ngoãn đi về nhà. Khiêm và đám trẻ cũng lục đục đi tít đằng sau.
Về đến trước cửa nhà, chị sắc nhắc:
- Rửa chân đã rồi vô phản nằm sấp xuống.
Côn nằm úp mặt xuô'ng phản, hai tay ôm lấy mông đít đợi những ngọn roi của mẹ.
Chị Sắc ngồi xuông mé phản. Đám trẻ từ ngoài ngõ ngấp nghé nhìn vào. Chị sắ c dặt dặt cái roi xuôVig mông đít con:
- Côn!
-D ạ !
- Sao con không nghe lòi mẹ dặn? Đã biểu là không đưỢc ra bò sông chơi đùa, lỡ sẩy chân chết đuối... thì sao?
Côn mếu máo nói:
- Con trèo cây thì cha cấm, mẹ nhủ là: "Nhà có phúc sinh con biết lội, nhà có tội sinh con hay trèo”. Bây giò con tập lội thì mẹ...
Nghe đến đây chị cử sắc phì cười, mắng yêu;
- Tổ cha cái thằng... đã vụng chèo lại khéo chông!
Chị ném cái roi ra sân rồi vỗ mấy phát bàn tay xuô'ng mông con rồi cười giòn, nói:
- Dậy! Mẹ tha đòn cho rồi đó. Đi gọi anh Khiêm về học bài. Cha ở Giám cũng sắp về rồi. Việc học là phải chăm chỉ. Học được nhiều chữ càng sáng mắt ra, con ạ.
... Anh cử Nguyễn Sinh sắc lại thi rớt khoa thi Hội Mậu Tuất 1898. Quan thượng thư Bộ Hình - Đào Tấn thông cảm cảnh nhà túng thiếu và rất trọng nể cái chí, cái tâm của anh cử, nên bàn với ông Nguyễn Viết Chuyên (một ngưòi dưới quyền tại Bộ Hình) đón anh cử sắc về nhà dạy học cho con trai sắp đi thi Hương, tại làng Hương Nổ. Anh cử Sắc dẫn hai con theo để dễ bề học vấn. Chị cử sắ c sống thui thủi một mình trong thành nội, chẳng những không khỏa lấp được nỗi nhớ người thân mà ngày càng thấy nỗi nhớ rộng thêm, sâu thăm thẳm. Chị đành phải bàn vói chồng đưa bé Côn trở về thành nội ở vói chị.
Bé Côn lại sông bên cạnh mẹ trong ngày tháng mẹ đau yếu và sắp sinh em. Vào bữa ăn, Côn thấy mẹ ăn ít quá, vẻ lo âu hiện lên trên ánh mắt của Côn:
- Mẹ ơi! Mẹ đừng ô"m, mẹ nhá!
- Mẹ chỉ mệt mệt trong người thôi. Vì mẹ sắp sinh em cho các con mà!
- Mẹ sinh em gái, chớ sinh em trai cứng đầu khó bảo, mẹ nhá!
- Sao con lại nói thế?
- Cha biểu như vậy mẹ ạ!
Chị Sác nhìn con cười, một nụ cười chứa đựng ở bên trong nỗi lo âu... Một hôm, trong bữa cdm chiều, Côn thủ thỉ vối mẹ:
- Mẹ ơi! Mẹ cho con theo chị Huệ Minh vô xem lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), mẹ nhá!
Chị Sắc ngạc nhiên:
- Tròi đất! Con to gan thế! Là hạng thứ dân, ai để cho con vô nơi sân rồng, điện ngọc?
- Chị Huệ Minh bảo trẻ nít chẳng ai để ý đâu mẹ! Và chị còn nhận con là em, cho con mượn quần áo hoàng thân, mẹ đừng lo.
- Nhưng con vô chỗ đó liệu có ích gì?
- Dạo còn ở quê nhà, con đã hứa với bà ngoại là lúc vô Kinh đô con sẽ tìm cách nhìn bằng được mặt vua rồi kể lại với bà khi con được về thăm bà.
... Đên giò thiết triều, hoàng tử, chư công, hoàng thân lần lượt tiến vào điện Thái Hòa. Các quan văn võ theo thứ tự phẩm hàm đứng tại Long Trì. Ngoài Ngọ Môn, các đơn vị tượng binh, kỵ binh được dàn thành đội hình hưóng vào sân rồng.
Từ trên lầu Ngũ Phụng của Ngọ Môn, còi đồng nổi lên chín tiếng. Côn nghe cảm thấy ròn rỢn, da nổi gai ốc. Nhưng hai mắt Côn giưdng rộng, không nhấp nháy, nhìn vua Thành Thái ngự trên kiệu rồng từ điện cầ n Chánh, đi qua Đại Cung Môn vào điện Thái
Hòa. Vua còn rất trẻ, mặt hơi trái xoan, mũi thẳng, mắt xếch, lông mày thanh, dài quá mắt, môi đỏ tươi, cằm có rãnh sâu. Vua đội mũ cửu long, tay cầm hốt ngọc, áo gấm, cổ đeo chuỗi ngọc sa xuống trước ngực chiếc kim khánh hình bướm trên đó đúc bốn chữ nổi bằng vàng: “Đại Nam Hoàng Đ ế ’.
Sau buổi đi xem mặt vua, Côn thủ thỉ với mẹ:
- Con thấy vua, người nhà vua, các quan trong triều mặt mũi đều bình thường như mọi người... mà sao họ sướng gấp vạn lần, còn dân lại không được lấy một lần là bởi tại đâu, hả mẹ?
Chị cử Sắc tái mặt, bịt bàn tay lên miệng con:
- Ôi cha! Con còn bé mà... Đã biểu ở gần cung vua, con phải giữ mồm, giữ miệng.
(Theo Búp sen xanh)
8. MỘT TRÁI TIM NGỪNG ĐẬP!• ■
Mùa hè năm CUÔ1 cùng của th ế kỷ mưòi chín.
Tuy sống với bé Côn trong thành nội, nhưng nỗi nhớ cứ trập trùng lòng chị cử sắc.
Nhất là về đêm, nằm với con trong ba gian nhà trống vắng, chị cử sắc càng thấy nỗi nhố càng mạnh và từ nỗi nhớ kéo theo nỗi lo xa. Chị lo; mẹ già như chuốỉ chín cây, ở quê nhà, không biết mấy năm qua thiếu bàn tay săn sóc của vỢ chồng mình, mẹ sống ra sao? Em gái mình liệu có làm tròn việc phụng dưỡng mẹ sớm hôm như mình đã dặn dò lúc ra đi?
Bé Thanh lúc vắng cha niẹ, nó có Iigoan với bà, với dì không? Việc đồng áng nó có chịu thương, chịu khó vối dì An không? Nó đã xấp xỉ tuổi mưòi sáu! Cái tuổi ấy mình đã sinh con đầu lòng! Mình đã sớm bước vào đời làm vỢ, làm mẹ, mình không có tuổi xuân bay nhảy như các bạn gái ở làng mình! Mình ru con nhiều hơn là được hát!
Hằng ngày, Côn đi theo đám trẻ thành nội hái cành củi khô trên các hàng cây cao để mẹ có củi đun bếp. Hôm đầu tiên, Côn đội một bó củi về, mồ hôi nhễ nhại, chị cử Sắc hốt hoảng:
- Ây chết! Con di, ai biểu con đi mần cái việc ni?
- Con thấy mẹ phải lượm từng chiếc lá khô quanh nhà làm củi đun, nên CDn giúp mẹ một tay mà! Các anh lớn trèo bẻ cành khô ném xuô'ng. Con ở dưới nhặt xếp .ại từng đống. Rồi các anh ấy chia phần cho con mẹ ạ!
- Nhưng mà... con phải học bài, phải tập viết cho chữ đẹp...
- Con chỉ nhẩm một buổi sáng là thuộc làu hết mẹ ạ!
Đối với Côn, mẹ là một kho truyện cổ tích, Truyện Kiều và ca dao, dân ca. Mẹ thưòng dạy anh em Côn những câu dễ nhớ: “Đóỉ cho sạch, rách cho thơm”, 'Thương người như thể thương thân”, “Có công mài sắt có ngày nên kim”.V. V ...
^hững đức tính quý báu ấv của mẹ cha như những sỢi tơ dệt nên nhân cách Ngu’ễn Sinh Côn trong thời thơ ấu.
Nột hôm, Côn đang cặm cụi gom từng đông lá dưối hàng cây thì một bà hàng xóm chạy ra gọi:
-Côn ơi! Mẹ cháu đau bụng chuyển sinh rồi.
(ôn hô’t vội những đống lá vào sọt, na bên lưng, chạy vội về nhà. Côn để cái sọt lá vào góc sân, chạy vào buồng với mẹ.
Chị Sắc vừa rên, vừa nói:
- Con có dám đi sang Dương Nổ gọi cha về ngay không?
- Con đi gọi mụ (bà đỡ) cho mẹ đã.
- Mẹ đã nhò người đi mời bà mụ rồi.
Côn vội khoác cái áo, vừa đi vừa cài khuy. Nắng chiều xiêu xiêu trên thành nội.
Bóng Côn ngã dài trên ngõ vắng rgập lá vàng rơi.
Ngay tối hôm đó, anh cử sắc cùng con trai từ Dương Nổ về thành nội. Chị sắc sinh con trai. Anh cử đặt ngay tên cho đứa con út là Nguyễn Sinh Nhuận.
Anh giải thích:
- Đã gần mưòi năm, nav nhà mổi sinh thêm một lần nữa. Vì vậy, tên con là Nhuận, có nghĩa là thêm. Ví như ‘'năm nhuận” là năm có dôi ra một tháng. Còn tên chữ của con là Tất Danh.
Tháng 8 năm Canh Tý (1900), ông tiến sĩ Trần Đình Phong, Phó chủ khảo trường thi Thanh Hóa, biết anh cử sắ c văn hay, chữ tô"t, tính tình cẩn trọng, nên tiến cử anh đi làm sơ khảo ở trường thi. Bé Khiêm được cùng đi với cha. Bé Côn ở lại vối mẹ tại Huế.
Bệnh hậu sản của chị cử sắ c ngày càng nặng. Sức khỏe của chị suy sụp rất nhanh từ sau ngày anh cử đi vắng nhà.
Với cái tuổi lên mưòi, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình cho mẹ.
Hằng n^ày Côn còn phái bê em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em đưỢc bú nhờ. Các bạn nhỏ cũng thường bế em giúp Côn đi xin sữa và gọi bé Danh băng cái tên thân mật là: em Xin.
Thâm thoắt đã hết năm 1900 - năm cuối cùng của th ế kỷ mười chín. Côn sốt ruột hỏi mẹ:
- Seo cha và anh Khiêm đi hoài, đi mãi chẳng thấy về, hả mẹ?
Đêm tháng Chạp. Gió hú dài trên đường thành. Chị cử sắ c đau đớn kinh hoàng khi cản. thấy mình có thể chết - “Bao giờ chồng con mới về?”... và nghĩ đến mẹ già ở quê nhẻ đang mỏi mắt chờ con, lòng chị càng tê tái. Chị đăm đắm nhìn đứa con nhỏ đang b t móm và... bé Côn còn nhỏ quá... rồi lịm dần trong nỗi đau đớn khôn cùng!
Thâ/ mẹ mê man bất tỉnh, em bé đang đói sữa khóc gào. Côn tất bật chạy đi, chạy về, kêu :ứu bà con, cô bác chạy chữa cho mẹ.
Đ ộn| lòng thương xót, nhiều ngưòi đã hết lòng giúp đỡ mẹ con chị cử. Nhiều thầy thuốc g;ỏi trong vùng đến chữa trị cho chị.
Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-02-1901), kinh đô H uế nhuộm màu ảm đạm. Người đi chợ Tết đông như hội. Côn đang ra hàng cơm thì có tiếng Công tôn nữ Huệ Minh gọi yếu ớt:
- Côn ơi! Mẹ... Côn... Côn... ch... ết... Côn... ơi!
Côn chạy một mạch về nhà, miệng la lớn:
- M... ẹ... Mẹ... ơ... i!
Huệ Minh, Kỳ và đám trẻ thành nội cũng chạy theo Côn về nhà. Côn mím chặt môi không cho bật ra tiếng khóc. Càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau nấc tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, đất trời quay tít trước mặt. Côn lại òa lên khóc khi thấy mẹ đã thõng một cánh tay xuông bên thành giường, một tay vẫn ôm vòng qua cổ bé Xin và bé Xin không biết mẹ đã chết cứng, cứ ngậm vú mẹ nhay nhay. Côn phủ phục xuô'ng bên mẹ gọi:
- Mẹ! Mẹ! Mẹ! Mẹ... ơi! Mẹ bỏ chúng con... sao mẹ ơi! Cha... chưa... kịp... về... mẹ ơi!
Huệ Minh chạy vào bế bé Xin ra khỏi vòng tay thi hài chị cử sắc. Bé Xin giãv nảy, chuồi chuồi chân, khóc thét... Ngoài sân, hàng xóm đã đổ tới khá đông. Nhiều tiếng tặc lưỡi và xuýt xoa:
- Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cử vẫn chưa về...
- Tội thân anh em bé Côn! Mẹ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần.
- Giữa lúc năm hết, Tết đến mà mẹ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê ngưòi này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?
- Vậy thì, chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi ngưòi một tay để đưa bà cử về nơi an nghỉ cuôi cùng.
Vì luật của triều đình, chiếc áo quan phải chuyển ra ngoài thành để hành lễ. Bé Côn đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, đi đất, đi sau quan tài mẹ. Huệ Minh bế em Xin đi sóng bước với Côn. Quan tài chị cử sắc được khiêng ra phía cửa hậu, luồn qua Đông Thành Thủy Quan ra bò sông Hương.
Con đò chở áo quan tách khỏi bến, những chiếc đò chở người đưa đám nôl theo sau.
Quan tài được đưa lên táng ở chân núi Ba Tầng, thuộc dãy núi Ngự Bình. Trên đỉnh núi Ba Tầng là nơi Nguyễn Huệ thiết đàn lên ngôi Hoàng Đ ế ngày 25-11 năm Mậu Thân (1788), rồi hành quân cấp tô'c ra Bắc Hà đại phá 29 vạn quân Thanh trong Tết Kỷ Dậu (1789). Mộ chị cử sắ c - Hoàng Thị Loan cách nơi đó khoảng 50 mét. Ngôi mộ được vun cao. Mọi người thành kính đặt một nắm đất cuối cùng lên mộ rồi lần lượt ra về. Người nào cũng ngoảnh lại cám cảnh nhìn hai anh em bé Côn!
Bãi tha ma Nam Giao hoang vắng. Bóng chiều tà ôm tròn ngôi mộ màu đất mới nghi ngút khói hương. Côn phủ phục xuống lạy tạ trước tấm bia gỗ trên đầu ngôi mộ mang mấy hàng chữ đen; Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ trần ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-02-1901) tại kinh đô Huế.
(Theo Búp sen xanh và N. An)