Từ ngày 13-8-1942, với cái tên mới “Hồ Chí Minh", Bác thực hiện một cuộc hành trình sang Trung Quô’c, chắp nôi những liên hệ với các tổ chức yêu nưốc của Việt kiều và tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các lực lượng đồng minh chông phát xít đôl với cách mạng Việt Nam.
Sáng sốm ngày 27-8-1942, Bác mặc bộ quần áo xanh chàm, khoác áo khoác ngoài, tay cầm gậy trúc, lưng đeo túi lưới đựng đồ dùng như của ngưòi dân tộc Nùng ở Việt Nam vẫn dùng. Độ này, Bác đã để râu, trông Ngưòi giông như một thầy địa lý đi tìm đất tôt, diện mạo ung dung hiên triết.
Vừa đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Bác bi chính quyền Tưởng Giới Thach bắt giiỉ trái phép, lưu đàv qua 18 nhà tùị 13 huyện, thị trong 400 ngày đêm, tức là đến ngày 10-9-1943"’ Bác mới được trả tự do.
Sau này qua tư liệu lưu trữ và sách báo viết về sự kiện “//ô Chí Minh bị bắt giữ trái phép' mới biết đó chỉ là sự tình cò của một cảnh sát ở Túc Vinh muôn đòi tiền nià không được, nên “òắí giữ cho bõ tức". Sự việc đến tai tướng Trương Phát Khuê (đaiig nuôi dưỡng các quái thai Việt Cách ở Liễu Châu đối lập với Việt Minh), mà tên tướng quân này biết: Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, là Lý Thụy, là Hồ Quang, là Việt Minh... nên Bác phải trải qua thòi gian dài gian khổ và chính từ không gian và thời gian đó, những vần thơ trong “Ngục trung nhật kỷ' (Nhật ký trong tù) đã ra đời với hơn 100 bài để “đỢỉ ngày tự do”.
Tập nhật ký bằng thơ này, Bác bỏ quên ở một nơi nào đó trên một tỉnh biên giới.
Một hôm, có một người không rõ địa chỉ gửi theo đường bưu điện về Hà Nội, trao lại cho cơ quan Trung ương Đảng. Thật là may mắn!
Qua tập vở nhỏ này lại giúp chúng ta biết thêm một tài năng lớn, phẩm chất lớn của Bác. Những bài thơ nhỏ đó đã nâng Bác Hồ lên hàng “thi sĩ hiện dại Việt Nam’. Tập thơ được dịch, giới thiệu trong nước nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
(1) Có tài liệu ghi ngày 13-9-1943.
Tập thơ viết bàng chữ Hán. Có lần, Bác giải thích lý do với nhà thơ Cu Ba, Phêlít Pita Rôdrigết khi ông đến gặp Người, năm 1966:
- Tôi viêt th(i trong thời gian bị giam ó các nhà tù của Tưởng Giới Thạch tại Trung Quốc. Nếu tôi dùng tiếng Việt đê viết, bọn cai ngục khi nhìn thấy một thứ chữ mà chúng không hiéu. chắc chắn chúng sẽ tịch thu mất. Do đó, tôi phải viết bằng chữ Hán.
Nhân dịp này. Rôdrigết nêu ý kiến nhận định vê' giá trị cao của tập thơ, Bác Hồ liền nói:
- Không! Tôi đã viết tập thơ này, nhưng tôi không phải là nhà thơ chuyên nghiệp.
- Xin lỗi. thifa Chủ tịch, không có một nhà thơ nào trong thực tế là một nhà thơ chuyên nghiệp...
Bác Hồ nhìn nhà thơ Cu Ba. có vẻ ngạc nhiên;
- Vậy thì các nhà thơ sông bằng gì?
- Bằng văn xuôi, thưa Chủ tịch, luôn luôn bàng văn xuôi.
Bác gật đầu rồi nói đùa:
- Chắc là như thế, bởi vì, đồng chí biết đấy... tập thơ "'Nhật ký trong từ" đã được dịch ra nhiêu thứ tiếng, nhưng chưa bao giờ họ trả cho tôi một xu tiền nhuận bút.
Mọi người cùng cười vui vẻ.
Xói về con Rồng trong Nhật ký trong tù. Bác có viết một số bài thơ, nhưng ý nghĩa và nội dung hoàn toàn khác với Rồng Tre - kịch bản sân khấu củng do Bác viết lúc ở E^háp, nhân dịp vua bù nhìn Khải Định được "mẫu quôV’ đưa sang Pháp để làm quảng cáo cho hội chợ thực dân. tháng 6-1922.
Đại ý vở kịch Rồng Tre là: Có những câv tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cố lấy vê đẽo gọt thành con rồng. Nó là một thứ đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chí là một khúc tre. Là một khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy, nó chỉ là một con vật vô dụng. Vơ kịch Con Rồng Tre được đem đi diễn tại “Câu lạc hụ Iigoại Û" cí Paris và đã đưỢc liũaii hô nhiệt liệt. Qua vỏ kịch, vua bù nhìn Khíii Định ‘đã bị tác giả đả kích không thương xót”.
Còn trong Nhật ký trong từ, Bác có ba bài thơ rất độc đáo nói về con rồng. Trong bài thơ "Ngọ", Bác viết;
"Trong ỉừ khoan khoái giấc han trưa, Một giấc miên man suốt mấy giờ;
Mơ thấy cưỡi rồng lên thưipĩ^giới, Tinh ra trong ngục vẫn nằm trơ." •
Bài thơ "Bang' cũng nói đến con rồng, nhưng vối ý tưởng độc đáo:
''Rồng quấn vòng quanh chân với tay, Trồng như quan võ đủ tua, đai;
Tua đai quan vỗ hằng kim tuyến Tua của ta là một cuộn gai".
Còn bài "Con rồng thật" theo lôi "chiết tự", Bác viết:
"Người thoát khỏi tù ra dựng nước, Qua C(fn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn, Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay."
Qua ba bài thơ của Bác Hồ, ta thấy rõ Bác giàu tính dân tộc, vì Bác hiểu con irồng:
là hình tượng được nhân dân yêu thích, quý trọng từ mấy nghìn năm qua. Bác dùag hình tượng con rồng trong thơ để giáo dục tinh thần bất khuất, tự hào dân tộc, cho cán bộ cách mạng và nhân dân nói chung.
(Theo Ph. p. Rôdrigết và Lã Vọng:
59. “ÔNG HÓ LÀ NHÂN VẬT ĐÁNG sợ, THẬT LÀ KỲ TÀI”
Tháng 9-1943, sau khi ra khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ được đưa về Liễu Châu. Bác ở một căn phòng nhỏ trong một ngôi nhà tám mái dựng trên ngọn đồi bên sông Liễu Giang. Đâv là nhà Văn hóa Trung Sơn cũ. được ngăn làm đôi, một bên là thư viện, một bên là nhà ăn của sĩ quan thuộc Bộ tư lệnh chiến khu 4.
Thấy Bác vừa ra tù, lại ăn uôrig kham khổ, kiều bào ta ở Vân Nam gửi ông Lê Tùng Sơn chuyển cho Bác 2.000 đồng (tiền Trung Quốíc) để Bác bồi dưỡng sức khỏe. Bác không muôn nhận, bảo:
Căn nhà B ác sống và làm việc ở Liễu Châu
- Mình ở đây tuy khổ nhưng không đến nỗi đói, còn anh em trong nước hiện nay đói không có cđm ăn. Đó là chưa nói đến cán bỗ sống trên rừng núi sốt rét liên miên.
Nếu không biết đồng cam cộng khổ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, sẽ khó mà vượt qua thử thách.
Ông Tùng Sơn khẩn khoản mãi, Bác nhận tiền, nhưng lại đi mua sách gửi về nưổc.
ớ đây, Bác cùng ăn cơm với các sĩ quan. Tới nhà ăn Bác thường thay đổi chỗ ngồi.
Các sĩ quan rất thích những câu chuyện mới mẻ, nên thường quây quanh Bác để nghe.
Họ đôi với Bác rất thân tình. Theo họ “//ổ tiên sinh” là người rất đáng kính.
Thiếu tướng chủ nhiệm chính trị Hầu Chí Minh là người thân với Bác hơn cả. ô n g ta tặng Bác nhiều sách nói về chủ nghĩa Tam Dân“’. Nhiều nhân sĩ trong chính giới Hoa Nam cũng khâm phục Hồ tiên sinh, cho tiên sinh là người học vấn uyên thâm, có chí hướng lớn và nghị lực phi thường. Nhưng họ cũng t h ấ y “ông Hồ là nhân ưật đáng sự\ Họ phỏng đoán ông Hồ có lẽ chính là Nguyễn Ái Quốíc.
0 Liễu Châu truyền rộng lời khen; ‘'Nếu nói văn của Hồ tiên sinh khác nào nhả ngọc, phun châu, thật chang phải là nói quá. Sao lại có người Việt Nam viết văn Trung Quốc hay thế?"
(1) Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lập, dân quyền tự do. dân sinh hạnh phúc).
Lúc đó ỏ Liễu Châu có nhiêu ngưòi Việt Nam yêu nước thuộc những xu hướng chính trị khác nhau đến tiếp xúc và bàn luận công việc với Bác.
Sống ở Liễu Châu một năm (9-1943 đến 9-1944), Bác có nhiều hoạt động quan trọng: Tham gia lãnh đạo Cách mạng Đồng minh hội là tổ chức của người Việt Nam ỏ Trung Quốc thuộc nhiều đảng phái; dự và đọc báo cáo tại Đại hội quôc tê chông xâm lược: Đại hội các đoàn thể cách mạng hải ngoại; viết thư về nưổc chỉ đạo công tác Đảng;
nói chuyện với một sô học viên do mặt trận Việt Minh từ trong nước gửi sang học Trường Quân chính Liễu Châu; họp báo giới thiệu tình hình cách mạng Việt Nam;
giảng bài ở các lớp huấn luyện...
Một buổi sáng mùa xuân năm 1944, Bác Hồ đến Đại Kiều (cách Liễu Châu 13 cây số) nói chuyện với lớp huấn luyện cán bộ đặc biệt của thanh niên Việt Nam yêu nước, tố chức trong Viện điều dưỡng công nhân Liễu Châu. Qua bản ghi chép của học viên, Bác Hồ có nói:
- Các bạn đều là chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Các bạn phải xây dựng Việt Nam thành một nước Việt Nam hòa binh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh...
Thần chiến thắng đang vẫy gọi các bạn... Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi. Việt Nam
n h ất định sẽ đưỢc độc ỉập...'\
Mùa đông năm 1943, Bác Hồ đi bơi trên sông Liễu Giang, tướng Trương Phát Khuê của quân Quốc dân đảng Trung Hoa cưỡi ngựa đi qua trông thấy liền dừng ngựa, chào Người và nói:
- Hồ tiên sinh ở vùng nhiệt đới, sang đất Liễu Châu chúng tôi chịu đựng được cái rét mùa đông đã là không đơn giản. Thế mà nay Hồ tiên sinh còn bơi được trong dòng nưởc lạnh giá nàv, thật là kỳ tài, thật là kỳ tài!
Sông ỏ Liễu Châu nhưng tâm trí của Bác Hồ hướng về Tổ quổc, chắp môì liên lạc vói Trung ương Đảng ở trong nước, nung nấu kê hoạch giải phóng đất nước.
(Theo Tùng Sơn và Hồng Há)