dưới chỗ đặt môi và một chuông bằng, kim loại hình cái ly ở đâu
cuối cùng,.
Người ta tin rằng loại nhạc cụ này có nguồn gốc từ Trung, Quốc và du nhập vào bán đảo Hàn ở vào khoảng thế kỈ 15. Nó được dùng trong quân nhạc và một số thể loại nhạc cung đình khác trong, suốt thời kỳ Choson (1392 - 1910) nhưng bây giờ người ta thường dùng nó trong nhạc lễ tổ tiên, trong, Hoàng, tộc, trong những ban nông nhạc. Âm thanh của nó cao và sắc, rất thích hợp
với những tổ khúc biểu diễn ngoài trời.
e Danca
Dân ca là một phần quan trọng của âm nhạc bản địa và văn chương truyền miệng Hàn Quốc. Những bài dân ca đã ra đời từ rất
sớm trong lịch sử, gắn liên với đời sống hàng ngày của người dân
trên bán đảo Hàn. Có những bài dân ca dành riêng cho đàn ông,
lại có những, bài dành riêng cho phụ nữ hay cho trẻ con... Những bài dành cho đối tượng nào thì thường nói về những hoàn cảnh, hoạt động hay tâm tư của những đối tượng đó.
Mỗi miền, mỗi địa phương ở Hàn Quốc đều có những bài đân
ca riêng của mình như đân ca miền Trung, dân ca miễn Nam, dân
ca miền Tây...
Bài dân ca nổi tiếng nhất của người Hàn là Arirang ma ngudi
Hàn có thể hát tập thể hay đơn ca trong cả lúc vui lẫn lúc buồn.
Cũng có Arzang riêng cho các vùng hay các tỉnh. Bài hát kể về những người yêu nhau bất chấp mọi gian nan. Đây là tên của một
Nghề thuật và nghề thủ công. — 287
ngọn đối nhưng, thực ra ở đây không có một ngọn đổi nào cả. Chỉ tới thế kỉ 20 những hẻm núi này mới được đặt tên. Dĩ nhiên bài hát đã tồn tại từ rất lâu và đã được dịch ra nhiều bản bằng tiếng địa phương có giai điệu. Nó đã trở thành bài hát mà không người Hàn nảo không thể hát.
ô Mỳa cung đỡnh
Múa cung đình Hàn Quốc gồm có hai thể loại: một được kết hợp với âm nhạc Trung Hoa thời Đường, một sử dụng, âm nhạc bản địa. Có khoảng hơn 50 điệu múa cung đình. Những người trình điễn được chia thành hai nhóm: nhóm chính và nhóm phụ họa. Những nam diễn viên được gọi là ÄZudonz còn nữ diễn viên được gọi là Ksaeng. Mfudong chủ yếu phục vụ cho vua, hoàng tử và khách khứa. Còn Kaeng thì trình điễn phục vụ cho hoàng hậu, công chúa hoặc nhà vua và các quan khách tại các buổi lễ tân.
Mua cung đình là loại nghệ thuật múa trang trọng, kiểu cách, huy hoàng, thường được dàn dựng cho các buổi diễn lớn, có khi có tới trên 200 vũ công tham gia. Để làm tăng thêm vẻ hoành tráng.
của các vũ điệu, các vũ công thường mặc y phục rực rỡ, trang sức lộng lẫy, cầu kỳ. Thường thì trong âm nhạc cung, đình cũng, như trong múa cung đình, nhịp điệu phải rất nghiêm ngặt. Vì vậy, trong các điệu múa cung đình thiếu han sw biểu đạt tình cảm cho dù chính nó được mệnh danh la “hinh anh thu nho cua thơ ca và sự duyên dáng của tình cảm con người”.
Có nhiều điệu múa cung đình Trung Hoa du nhập vào bán đảo Hàn và trở thành các vũ điệu chính thức của triểu đình. Nhiều
288 TRA. CUU VAN HOA HAN QUOG thư tịch lịch sử cũng cho thay rằng hầu hết các vũ điệu Trung, Hoa du nhập vào Hàn Quốc đều đã không còn tồn tại. Nhiều vũ điệu được xem là có nguồn gốc bản địa nhưng thực chất lại là của Trung Quốc. Cho dù vậy, múa bản địa vẫn trở thành một phần quan trọng của múa cũng đình Hàn Quốc, đặc biệt là trong, triểu dai Yi. Điệu múa bản địa cổ nhất được sáng tác dưới thời Shilla, là
một điệu múa rất gần với vũ điệu Shaman. Các điệu múa cũng đình phổ biến nhất là "Chéo thuyén”, “Chim hoa mi",
đẹp hái hoa mẫu don", “Mua tréng”, “Mua kiếm”, "Múa sêu”...
Trong đó, điệu mua “Chim họa mĩ” là điệu múa đơn và chain
nhất trong, số các điệu múa cung đình. “AZứa sêu” là múa đôi nhai lại những cử chỉ âu yếm của đôi chim sếu. Còn “A⁄Zưa kiêm” là một trong những vũ điệu phổ biến nhất từ thời Shilla do 2 hoặc 4 nữ vũ công biểu diễn, cũng là một trong những vũ điệu mà các thầy Shaman trình diễn trong nghỉ lễ đặc biệt của họ.
e Mua nghi lé va ton giao
Múa tôn giáo và nghỉ lễ truyền thống Hàn Quốc gồm ba lo¿i
là múa Nho giáo, Phật giáo và Shaman giáo.
Múa nghỉ lễ Nho giáo du nhập vào Hàn Quốc từ đầu thế kỉ 12 và bản chất trang trọng của nó đến nay vẫn còn được bảo tổa nguyên vẹn. Múa nghỉ lễ Nho giáo được gọi chung là 7//zzz và vẫn
còn được trình diễn trong các lễ tế mùa xuân, mùa thu tổ chức tại các miếu thờ Khổng Tử ở Seoul để dâng lễ cho đức Khổng Tử vì các môn đệ của Người. Múa nghỉ lễ này cũng được trình diễn
Nghệ thuật và nghề thủ công — —_ —. 269
trong lễ hội mùa xuân hàng, năm tại Thái miếu Hoàng gia. Các điệu múa đó được phân biệt bởi những động tác cứng, nhắc và những lần cúi đầu kính cẩn khác nhau và chủ yếu bởi số lượng vũ công trong môi điệu múa.
Múa nghỉ lễ Phật giáo được du nhập vào xứ Hàn qua đường, Trung Quốc vào thế kỉ thứ 8 và từ thế kỉ thứ 9 trở đi thì hoàn toàn bị Hàn hoá, mất đi nhiều đặc điểm nguyên sơ của nó. Tuy vậy, đến nay vấn còn lại bốn điệu trong bộ sưu tập múa nghĩ lễ Phật giáo chính. Các điệu múa nảy được diễn trong các buổi lễ Phật như lễ thần núi, cầu xin đức Phật phù hộ độ trì cho lĩnh hồn người quá cố được siêu thoát về chốn Tây thiên. Một số điệu múa Phật Mua là điệu múa được thể hiện bằng, những động tác dịu đăng,
giáo nổi tiếng ở Hàn Quoc la “Mua bum", “Mua trong”
buon
tinh tế và kiểu cách, toát lên vẻ thanh thoát va siéu pham. Diéu
múa này thường, do hai nhà sư thực hiện với trang phục là áo ca sa
bằng vải gai trắng hay vàng, tay áo phải thật rộng, và dài. Cũng có
khi họ còn khoác áo cả sa màu đỏ tươi vắt qua mot bén vai. “Mua trồng” là điệu múa hành xác, thường do một nhà sư độc diễn với một chiếc trống tròn đường, kính khoảng 60 cm, có âm thanh như tiếng sấm. Vị sư này chỉ phác những động tác rất đơn giản và đánh trống. Cùng vơi múa trống còn có “A/ta chăm choe”, đây là một trong, những điệu được coi là khó nhất trong múa nghi lễ Phật
giáo, nó đòi hỏi sự điều khiển khéo léo hai động tác nâng lên cao
khỏi đầu và xoay liên tục từ trước mặt ra sau gáy cặp chăm choẹ rất to và nặng. Người thực hiện điêu múa này thường vận y phục rất sặc sỡ.
290 TRA CỨU VĂN HÓA HAN QUO IO
e Mua dan gian
Đây mới thực sự là tính hoa của múa Hàn Quốc. Có nguồn gốc từ các nghỉ lễ Shaman hơn 3000 năm trước, ý tưởng sử dụng các cử chỉ bên ngoài để diễn tả nội tâm thể hiện rõ rang nhất trong các điệu múa này.
Điệu múa dân gian cổ nhất và phổ biến nhất là "/8u mưa cửa người nông dân”. Phiên bản ngày nay là sự pha trộn của hai dạngy, một dạng có nhịp nhanh và thoải mái, dạng kia thì phức tạp Và
- tỉnh tế hơn. Chiếc mũ quay tròn có đải đuôi lệch xuất hiện trước tiên rồi đến những chiếc mũ bằng hoa giấy to lớn khác thường được lắc nhẹ cùng mỗi vòng quay. Với tiếng trống, cổng chiêng inh tai, các nghệ sĩ múa quay tròn và nhảy như điên cuồng xung quanh khi họ nhảy từ nhà này qua nhà khác để xua đuổi những tả ma ra khỏi nhà cửa.
Người ta tin rằng những vũ kịch mặt nạ đầy màu sắc đã đến từ Trung Á như một phần ảnh hưởng, của văn hoá Phật giáo da du nhập vào Hàn Quốc thế kỉ thứ 7. Có nguồn gốc tôn giáo, những;
chiếc mặt nạ đẹp đề là vật thiêng và thường được đốt đi ngay sau
môi buổi trình diễn. Tuy vậy, ở Hàn Quốc thời phong, kiến, vũ
kịch mặt nạ trở thành những trò châm biếm để nói lên điểm xấu của các thầy tu tham nhũng, các Yangban giả dâm đăng, các thương gia tham lam, các bà chủ nhà bắn tính và các thầy tế Shaman bip bom. Do la cac vii diéu Pongsan hay “Mua su tr” ma ngày nay vẫn thường được trình điễn. Con sư tử vốn không được biết tới ở Hàn Quốc, xé xác kẻ có tội chống, lại đức Phật nhưng; bay giờ nó nuốt chứng cả những nhà quý tộc ngớ ngẩn và những thầy
Nghệ thuật và nghề thủ công. 291 tu tinh quai. Voi sự pha trôn của hát, múa, kịch câm, những đoạn đối thoại ứng khẩu hài hước, những bộ trang phục sặc sở và những chiếc mặt nạ rất đẹp, đây là dạng gần gũi nhất với nhà hát nguyên mẫu đã từng có ở Hàn Quốc trước kia.
Các điệu múa mạnh mẽ nhất trong, số các điệu múa đân gian của Hàn Quốc là Sungrmu và Sanpurr. Diệu Sungmu hay điệu múa
của những nhà sư có thể có nguồn gốc từ một truyền thuyết cổ về một kĩ nữ xinh đẹp, được phái đi quyến rũ một nhà sư nổi tiếng vì cuộc sông, độc thân của ông, Trong, bộ quân áo và chiếc mũ nhà chua, nàng đi đến nơi ở của nhà sư và bắt đầu chẳm chậm đánh những nhịp điệu xúc động trên chiếc trống của mình. Nàng bước đi càng lúc càng nhanh, lắc lư và nhảy múa trước nhà sư đã xuất thần bị mê hoặc. Cuối cùng, khi bộ quần áo của nàng tuột xuống.
đất, nhà sư bất hạnh đã hoàn toàn mất tự chủ và háo hức vì +, quyến rũ. Biểu diễn một mình, người múa xuất hiện trong bộ quần áo trùm đầu của nha su, nhảy xung quanh một chiếc trống lớn, lúc tiến, lúc lùi. Sau cùng như không thể cưỡng lại được, người múa bên rút những chiếc dùi trống từ trong áo và bắt đầu gõ solo đến đứt hơi trên chiếc trống đó. Nhịp trống nhanh dân cho đến khi người chơi dừng lại, kiệt sức. Thành công của điệu nưía nhà sử phụ thuộc hoàn toàn vào sự cuốn hút nội tâm của người biểu diễn.
Nếu được những người giỏi nhất biểu diễn, điệu múa nảy có thể làm cho khán giả rơi nước mắt.
Trong Sa/puri, tai năng, của người múa là quan trọng, nhất.
Điệu múa nhằm làm cho tỉnh thần được thanh thản, thoát khỏi nỗi khổ đau, đưa khán giả từ chỗ buồn chán tới sự vui sướng, ngất ngây trong khoảng vài phút. Khi được biểu điễn với những cảm
292 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC xúc mạnh mẽ thì nó là hình ảnh thu nhỏ cua nghệ thuật múa Hàn Quốc.
sô Kịch rối
Kịch rối truyền thống Hản thường do một người tên là
“Namsadang" trình điễn ngoài trời vào buổi tối trong ánh lửa.
Người này sử dụng những, con rối bằng gỗ mà chân tay được gắn
trên những, chiếc que để người biểu diễn dé đàng, điều khiển khi ông ta nấp ở bên đưới sân khấu. Tất cả các con rối đều được lồng, dây điểu khiển. Người điều khiến rối thường nói lời thoại, một thành viên khác trong đoàn đứng hoặc ngồi phía trước sân khẩu để dẫn giải và chỉ đạo những đoạn thoại trong suốt buổi diễn, Nhiều khi, chỉ có duy nhất một vở kịch rối nhưng những đoạn
thoại có thể thay đổi đối với mỗi buổi diễn.
Lịch sử của bộ môn nghệ thuật này thật khó hiểu, nhưng có
những con rối ở Koguryo mà người ta phỏng đoán rằng, có thể nó có nguồn gốc từ lục địa Trung Quốc, hay một nơi nào đó là trung, tâm của châu Á. Những vở kịch trước đó có thể để diễn tả sự tôn sting dao Phat, chế giễu tầng lớp quý tộc và những, vị sư sải hay những thói hư tật xấu phổ biến trong thời đại Choson. Nó có vỏ
như là để giải trí hơn là để phản kháng xã hội.
e Kich va phim ảnh
Kịch Hàn Quốc bắt nguồn từ những nghĩ lễ tôn giáo thời tiên sử. Trong toàn bộ các chương trình biểu diễn của nhà hát truyền
ê thuật va nghề thủ công 293
thông, nhạc và múa chiếm vai trò chủ đạo. Một thí dụ cho hình thúc kịch cổ điển này là những điệu múa mặt nạ, còn gọi là 7alsheum, một hình thức nửa múa, nửa kịch cam, hai hước và trảo
phung một cách trần tục. Ở các vùng khác nhau, những vũ điệu
mặt nạ này cũng khác nhau chút ít về phong cách, hội thoại, trang,
phuc, song cho đến đầu thế kỉ này, ở đâu chúng cũng được nông
dân ưa chuộng. #ansorz bài hát đân gian đài kể lại các chuyện quen thuộc và Kkok£ukakshi norum, tức trò múa rối do các nghệ sĩ
lang thang diễn, đều hấp dẫn người xem. Các nghỉ lễ tâm linh, còn gọi là ẤXz, vừa có tính chất giải trí vừa có ý nghĩa tôn giáo trong,
thời kỳ hiện đại.
Nhà hát Hàn Quốc đầu tiên xây theo kiểu châu Âu là Won - gaksa được mở cửa tại Seoul năm 1908. Cho đến tận lúc đó, các
nghệ sĩ vẫn diễn trên các sân khấu tạm dựng hoặc ở bất kỳ sân làng nào đủ rộng để tập trung người xem. Trong nhà hát đầu tiên mới mở này, người ta diễn lan đầu một vỏ kịch kiểu phương Tây,
sự kiện này mở đầu thời kỳ của các Trường phái kịch mới về các
chuyện lãng mạn nổi tiếng. Vào những năm 1920, một phong trào quy mô hơn đo một nhóm sinh viên văn học phương Tây ở Tokyo
khởi xướng, họ đã dịch và biểu diễn những vở kịch hiện thực phương, Tây. Những vở này mang tính nghệ thuật hơn là thương, mại và phong trào này đã tác động một cách lâu dải đến thế hệ tiếp theo của các nhà viết kịch Hàn Quốc. Kịch nghệ bị thu hẹp lại
Tô ràng trước sự bùng nổ của ‘cong nghiép dién anh vao nhung
năm 1960 và sự xuất hiện của vô tuyến sau đó. Những năm 70, một số ngh
trẻ vẫn học và tiếp thu các phong cách cũng như để tải của kịch nghệ truyền thống, như các vũ điệu mang mặt nạ, lời ca tâm linh và các Pansori. Quỹ văn hoá và nghệ thuật Hàn Quốc
294 TRA CUU VAN HOA HAN QUOC tai trợ cho liên hoạn kịch tổ chức hàng năm nhằm khuyen khích điền kịch.
Phim đầu tiên của Hàn Quốc ra mặt đồng, đảo người xem vào năm 1919, No mang tên “Sự báo thủ công bằng” và là một phim kịch có kết hợp màn biểu điễn trên sân khấu. Phim truyện đầu tiên
“Eồi thề dưới trăng” ra đời năm 1923. Năm 1926, phim “Arirang”
của đạo diễn kiêm diễn viên Na Un Gyu, với nội dung chống lại ách áp bức của Nhật Bản đã được người xem nhiệt tình hưởng ứng. Các phim buổi đầu thường mang tư tưởng yêu nước, chống Nhật, hướng sự chú ý về nỗi thống khổ của nhân dân Hản Quốc
dưới sự đô hộ của Nhật. Nhưng vì tất cả các hoạt động, trên lĩnh vực phim ảnh đều bị Nhật giám sát nên vào cuối những, năm 30, các phim đều thoái hoá biến chất, trở thành phương, tiện tuyên truyền cho đường lối sô-vanh của Nhật.
Từ giữa những, năm 50 trở đi, nên điện ảnh phát triển râm rọ trong vòng, một chục năm. Nhưng hai thập kỉ tiếp theo lại là thời gian điện ảnh bị đình trệ. Trong số các lí đo có sự phát triển nhanh, mạnh của vô tuyến và sự giảm bớt hứng thú của người xem. Tuy vậy, đến đầu những năm 80, điện ảnh lại tìm được sức sống chủ yếu là nhờ một số đạo diễn trẻ tài năng, những người đã dũng cảm
phá bỏ các cách thức cũ. Phim của họ được chiếu tại các liên hoan
phim ở Cannes, “hicago, Berlin, Vơnidơ, London, Tokyo và Matxcova và đoạt nhiều giải thưởng
ô Hội hựa
Mặc dù chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của Trung Quốc nhưng nền hội họa ban đầu của Hàn Quốc vẫn có những, đặc điểm dân
tệ thuật và nghề tí
rất riêng, của bán đảo Hàn. Những, bức họa Hàn Quốc được biết đến sớm nhất là những, bức bích họa được vẽ trên tường các ngôi mộ thời kỳ Ba Vương quốc (năm 57 trước Công nguyên - năm 668 sau Công nguyên). Những bức tranh trên vách mộ vào thế kỉ thứ 4 đã vẽ các vị thần Shaman, những cảnh nhảy múa, săn bắn và các phong tục thời đó có sức sống rất mạnh mẽ. Núi non và động, vật,
những đảm mây bay, cây va hoa là những để tai rất phổ biến của
giải đoạn này. Người ta xác định rằng một số tranh phong, cảnh sớm nhất được vẽ trên tường ở vào khoảng, thế kỉ thứ 7. Các họa sĩ Han Quốc thời kỳ này đã hoạt động rất tích cực ở Nhật Bản và đã góp một phần quan trọng vào việc phát triển nên nghệ thuật của
N
tật Bản. Những, bức họa thời Kogurvo thường sống động, và có nhịp điệu; những bức họa thời Paekche thì thanh lịch vả tỉnh tế;
những bức họa thời Shilla thì suy tư và kĩ càng, Vào thời Shilla, khi Phật giáo phát triển đến đỉnh cao của nó thì các cảnh hiện thực và thân thánh trong, kinh Phật đã được vẽ rất nhiều. Người ta biết rất
¡t về hội họa thời Shilla thống, nhất (669-935) vì chỉ còn lại một bức duy nhất nhưng người ta tin rằng hội họa đã nở rộ vào thời kỳ có một nền văn hoá phong, phú và hài hoà này. Trong thời Koryo (918-1392), hội họa phát triển rất đa dạng, mặc dù ảnh hưởng nặng, nề của Phật giáo được phản ánh vào nhữz+ bức họa ở các đền chùa nhưng thực tế thì hội họa đã trở thành thú vui giải trí của tầng, lớp trên trong thời kỳ này. Không chỉ các họa sĩ chuyên nghiệp mã cả các thầy tu, các nhà quý tộc và các học giả đều vẽ tranh tôn giáo, tranh phong, cảnh như tranh chim muông, hoa lá, tre trúc và họ còn vẽ cả chan dung. Nhiều đaph họa vẽ những tác phẩm thuộc loại được gọi là “7 quân tử" (mai, lan, cúc, trúc).