được coi là sự thể hiện tốt nhất trong trường phái hiện thực và các tranh chân dung của Kim cũng được ngưỡng mộ, thì Kim, cùng với Shin Yun Bok, được coi là những ngọn cờ đầu của phong, cách hội họa mô tả cuộc sống của những người dân thường xuất hiện ở cuối thời kỳ Choson. Chính vì lí do này mà cùng với An Kyon và
Chang Sungop, Kim được coi là một trong ba họa sĩ bậc thầy của thời Choson.
Người ta nói rằng khi Kim còn trẻ, ông không những có tài mà còn có sức lôi cuốn quần chúng, điều nảy có lẽ đã bổ sung vào bút pháp cũng như vào tính hải hước của ông. Kim nổi tiếng là hấp dẫn và gần gũi, được quần chúng, ưa thích nhất trong số các hoa sĩ đương thời, ngay ca nha vua cũng thích ông.
Năm 29 tuổi, ông vẽ chân dung Thái tử và năm 44 tuổi, ông
đi du ngoạn các nơi trong nước và vẽ tranh cảnh vật ở những nơi ông đến để sau đó gửi tới nhà vua. Trong những, năm ở tuổi 50, ông vẽ tranh phong cảnh miêu tả núi, cây cối và suối từ cảnh thật và sáng tạo những tác phẩm độc đáo về phong cách và kĩ thuật.
Ông có một sự cảm nhận tuyệt vời về không gian và dùng những, nét bút nhanh để tạo ra những đường nét mạnh, kết hợp chúng, với màu sắc dịu dàng, bằng cách đó, ông đã thể hiện được xúc cảm của người Hàn Quốc.
Kim dành những năm cuối đời của mình để vẽ tranh phong
cách — một loại tranh nghệ thuật miêu tả các sự việc bình thường
trong cuộc sống hàng ngày. Trường phái hội họa này là một sự phê bình nghệ thuật đối với tầng lớp quí tộc Yangban và thị hiếu
Những nhà văn hóa lớn a 359
nghệ thuật của nó. Điều nay co thể làm một số người ngạc nhiên vì Kim là một họa sĩ ăn lương chính phủ.
Những tác phẩm của ông đã ảnh hưởng nhiều đến bút pháp của nhiều họa sĩ sau này và để lại một đấu ấn rõ nét trong lịch sử nghệ thuật Hàn Quốc. Tranh của ông cũng được dùng làm tư liệu sống, của người Hàn trong thời đại Choson. Những tranh còn lại được xếp hạng là vật quý của quốc gia và được trưng bày ở các
bảo tăng, nghệ thuật lớn trong nước.
Giống như các thiên tài nghệ thuật khác, Kim chết trong cảnh vô độc, trong, bệnh tật va nghéo nan, được ít người tưởng nhớ.
ô- Kim So Wol (1903 - 1994)
Tén that la Kim Cheong Sik. La nha tho tri tình lớn nhất của thế kỈ XX. Ông được sinh ra trong một gia đình nông dân truyền thống, ở Kusong, thuộc góc Đông, Bắc bán đảo Hàn, và đã theo học Ở trường Osan nổi tiếng, nơi ông đã được gặp người thây lớn của cuộc diời mình, Kim Ok (1893 - 1950). Bai thơ đầu tiên của ông, được công, bố trên tạp chí văn học Kaebyok năm 1921. Những tác
phẩm còn lại được viết khi ông chưa quá 22 tuổi. Ông đã thất bại
khi thị vào trường Thương mại Tokyo và trở về nhà cưới vợ năm 1924. Nhiều lần quyết tâm làm thương mại đã thất bại và ông, đã nỗ lực như một phóng, viên địa phương, cho té bao Tonga Ilbo.
Ông đã huỷ hoại bản thân mình bằng thuốc phiện vào 1934. Phan lớn những, khổ thơ của ông mang, âm sắc thi ca dân gian, giản dị va dé đi vào lòng người.
360 TRA CUU VAN HOA HANQUOG
e Kim Su Chol
Một họa sĩ, học trò của Kim Cheong Hui va 6ng 1a ngutii gidi nhất trong việc thể hiện những bức tranh phong cảnh, đặc liệt là những bức tranh về hoa. Là một họa sĩ chuyên nghiệp của tường, Đông Nam, trong công việc, ông, biểu lộ cá tính của mình, v: kiểu vẽ bằng bút lông của ông đã thể hiện rõ lòng, đũng cảm zà sự phóng khoáng, tự do. Ông đã tự tạo ra loại mực để diễn dat thing điều ông muốn. Cùng với sự tương phản nổi bật của ánh sáng và bóng tối, ông đã cải tiến màu vẽ của mình bằng cả những lá zàng, lá bạc. Ông là bậc thầy của kĩ năng vật luận như là sự chơi clữ của người Trung Quốc và người Hàn.
¢ Kim Tong In (1900 - 1951)
Là một nhà văn với một số lượng truyện ngắn rất phon; phú, Sinh ra ở Pyongyang và được nuôi dưỡng như một tín đỏ, sai khi du học ở Tokyo, ông về Hàn Quốc và năm 1919 thành lập tp chí Văn học Changjo hay là “5S sáng (ao” (1919 - 1921), nó đã 0n tại trong quan niệm hiện đại của ngôn ngữ và cho văn học mư là
nghệ thuật thuần tuý. Năm 1930 là năm những tác phẩm tiêt biểu
của ông ra đời cùng với những tiểu thuyết mang tính lịch sr như
“Mùa xuân ở lậu đài Unhyon” (1933) và tiểu sử văn học Ukhi Mundok (1946). Ông, đã chết tại nhà vì bị viêm màng, não.
Nhữnc nhà văn hóa lớn 361 e Kim Tong Ni (1912)
Tần thật của ông là Kim S¡ Jong. Ông sinh ra ở Kyongju, nơi
ma bin thân ông đã tự học hỏi và trở thành một người hiểu biết rộng. Vào năm 1933, ông đã đến Seoul và trở thành bạn của một nha tơ tài năng mới chớm nở là Cheongju. Vi vậy, ông đã thử làm thơ vì năm 1935 ông đã đoạt giải thưởng của một tờ báo lớn với
bài tơ * AJgười thửa kế của Hwarang". Sự kiện này đã thực sự đưa
ông iến với văn đàn. Năm 1963, ông, xuất bản tác phẩm “Buc tran} cua Mudang” viết về cuộc đối đầu của đạo Shaman với đạo
ức mạnh của Thiér Chua. Quan điểm về sự siêu nhiên và những,
thiên nhiên được thể hi
rất điển hình trong, tác phẩm của ông,
Để tánh sự hiện diện của người Nhật ở Seoul, ông đã tới Manhuria vào năm 1940 và năm 1945, ông đã trở lại
Kyorgsangnam. Từ bỏ ủng hộ cánh tả của mình, ông đã hướng theo quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật và ông đã chuyển tới Seou, bắt đầu quan tâm tới vận mệnh đân tộc. Tác phẩm cuối
cùng của ông không được ưa thích lắm nhưng ông đã giữ được
vị tr của mình như là một trong những người đứng đầu giới văn lọc.
¢ ko Hui Dong (1886 - 1965)
Nhân vật tiêu biểu trong lịch sử của hội họa hiện đại Hàn Quố:. Ông đã học theo phong cách nghệ thuật truyền thống ở Seotl từ Sohwa Misurwon (7huật thư pháp và câu lạc bộ thư phá). Nhưng ông đã đến Tokyo năm 1909 và tìm ra con đường,
UO!
262 _ TRA CUU VAN HOA HAN ¢
đến với hội họa phương Tây hiện đại. Trở về Hàn Quốc năm 1915, ông đã thiết lập Hội nghiên cứu hội họa để đẩy mạnh xu hướng;
nghệ thuật phương, Tây với việc sử dụng đầu và than chỉ. Dưới
ảnh hưởng của truyền thống dân tộc trong thời kỳ thuộc địa, Ko trở lại với hội họa truyền thống Korea. Hiện nay, ông đang cố gắng, để hoàn thành một tác phẩm mới với sự tổng hợp cả nghệ thuật phương Đông và phương Tây. Sau giải phóng, ông đã kêu gọi những người có chức vụ và thầm niên trong, tổ chức hiên dang, để phục hồi nghệ thuật Hàn Quốc với nhiều cuộc triển lãm nghe
thuật.
¢ No Chun Myong (1912 — 1957)
Có le bà là nhà thơ nữ hiện đại đầu tiên của Hàn Quốc. Sinh ra ở Chanhyon thuộc tỉnh Hwanghae, tốt nghiệp khoa Văn học ở trường nữ Ehwa vào năm 1934, bà bắt đầu làm thơ từ khi còn là sinh viên. Sau đó, bà trở thành nhà báo rồi xuất bản tập thơ đầu tiên trong tạp chí Son năm 1935. Bà có một mối tình rất lãng, mạn với một thầy giáo và mối tình đó đã ảnh hưởng lớn đến những phụ nữ đương thời. Trong thời kỳ chiến tranh năm 1950, bà sống, ở Seoul. Trong những tháng ngày cộng sản chiếm đóng ở
đây, bà bị bắt do bị nghỉ ngờ đã hợp tác với họ. Sau đó, nhờ có các
đồng nghiệp khác xin với chính quyền, bà được trả tự đo vào mùa
xuân năm 1951.
Năm 1950, bà bắt đầu theo Thiên Chúa giáo và lấy tên thánh
là Veronica. Cũng từ đó, thơ của ba bat dau mang mau sắc tôn
Những nhà văn hóa lớn 363
giáo. Những năm sau đó, thơ ba lại thiên về chủ đề cuộc sống cô độc và nghèo khổ, Các tác phẩm chính của ba bao gém: Rang san hô(1938), Bức tường thuy tỉnh (1945), Dâu dạ? và Bài ca của những chủ hươu (1958).
¢ Park Yon (1378 - 1458)
Là một nhà cải cách âm nhạc dưới thời vua Sejong. Năm 1426, ở cương vị là một quan chức bậc 5 tại Pongsang, ông được giao trọng, trách tạo ra một chuông đá hòa âm mới cho đàn nhạc để phù hợp với bộ chuông được mưa từ Trung Quốc. Ông cũng được giao một trong trách nữa là phải khôi phục lại những điệu nhạc Trung Quốc cổ được dùng cho nghỉ lễ. Ông cùng làm việc với một bậc đân anh của mình tên là Cheong In Ji, Ho da lam cae nhac cu dua trên các thanh và giai điệu của Trung Quốc do Zhu Xi và Ling Yu tạo ra. Kết quả rất khả quan, mặc dù không phải hoàn toàn hồi phục được những âm thanh của Trung Quốc. Lần đầu tiên biểu điện vào năm 1433, họ đã được hoan nghênh nhiệt liệt và Park da được thăng chức, Niễm đam mê làm trong sáng âm nhạc nghỉ lễ đã cuốn hút ông. Trong 30 năm cuối của cuộc đời mình, vua
Sejong, đã nhận được 40 lời đề nghị và gợi ý của ông mà hầu hết là những, lời để nghị sản xuất và sử dụng các nhạc cụ, nhưng chỉ có một sôi ít trong những lời để nghị đó được nhà vua chấp thuận. Là người bị ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, ông phản đối gay gat
tử dụng các cô gái nhảy múa trong các nghi lễ. Ông tuyển
nhiều nam thanh niên làm vũ công và may nhiều quần áo cho họ.
Điều quan trọng hơn cả là ông vẫn tiếp tục biên soạn âm nhạc lễ