Đặc điểm của hứng thú

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 179 - 182)

A. Maslow coi những nhu cầu thể chất, cảm xúc và trí tuệ có tác động qua lại lẫn nhau và điều này có một ý nghĩa to lớn cho giáo dục. Một HS đến trường với

2) Kiên quyết trong hành vi trừng phạt đã được đưa ra

5.6.3. Đặc điểm của hứng thú

Hứng thú của cá nhân có một số đặc điểm sau:

5.6.3.1. Tính nhận thúc của hứng thú

Thông thường, con người chỉ hứng thú với những cái mới, những cái chưa ai biết, chưa được khám phá. Đây chính là ý nghĩa nhận thức của hứng thú.

Còn với những điều đã biết mà không thổi cho nó một luồng ánh sáng mới, đưa nó vào một vị trí khác tích cực hơn thì sẽ kém hứng thú và chóng chán. Tuy

nhiên, không phải mọi cái mới nào cho dù có liên quan đến cái đã biết đối với

một hoạt động nào đó của con người cũng tạo hứng thú. Cái mới trong sinh học có thể làm cho những nhà nghiên cứu môi trường quan tâm nhưng lại không gây nên một tí hứng thú nào đối với những kĩ sư máy tính hay những người làm nghệ thuật.

Tóm lại, điều kiện dé hứng thú xuất hiện là chủ thể phải có hiểu biết sơ bộ và

có kinh nghiệm thực tế trong một loại hứng thú nhất định. Chỉ có làm cho con

người thấy được cái mới, cái phong phú nhiều màu nhiều vẻ, tính chất sáng tạo và

triển vọng trong hoạt động của mình thì mới có thể hình thành những hứng thú

vững chắc được.

5.6.3.2. Tính xã hội của hứng thú

Ý kiến của những người xung quanh, của tập thể xã hội, hoạt động xã hội đối với những nghề nghiệp khác nhau trong xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành hứng thú của cá nhân. Con người thường hứng thú với những hoạt |

động được nhiều người tán thưởng khi thấy nó đem lại lợi ích cho xã hội và thoả

mãn những nguyện vọng của cá nhân.

Hứng thú được phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của tư liệu sản xuất nói chung và các lĩnh vực văn hoá nói riêng. Và đặc biệt hứng thú của mỗi cá nhân hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng lĩnh hội những thành tựu của nền văn minh trong thời đại đó.

5.6.3.3. Tính hấp dẫn của đối tượng hứng thú

Nếu đối tượng gây hứng thú cho HS tiểu học chủ yếu là những sự vật, hiện tượng, hình ảnh... cụ thể, sinh động thì hứng thú của HS THCS đa dạng và rộng hơn. HS THCS có thể hứng thú với khoa học kĩ thuật, thể thao, chính trị — xã hội.

Ở đây, hứng thú đã có ý thức cao hơn, chúng không chỉ là thái độ tích cực đối với bản thân quá trình hoạt động mà cả đối với kết quả của công việc nữa. Đôi khi, ta

còn thấy sự không ăn khớp giữa hứng thú về một hoạt động thực tiễn và việc nhận thức về hoạt động đó (ví dụ: thích hát những bài hát tiếng Anh nhưng lại coi nhẹ giờ học của môn học này).

5.6.3.4. Tính chủ thể của hứng thú

Hứng thú với cái gì? Hứng thú lúc nào?... còn phụ thuộc vào chính đặc điểm tự nhiên, xu hướng tích cực hoạt động cũng như tâm trạng của chủ thể. Hứng thú sẽ luôn bền vững và phong phú nếu nó thường xuyên thức tỉnh sự chú ý và ý nghĩ của mỗi cá nhân, và ngược lại chính tính không bền vững, hay thay đổi của hứng thú sẽ nói lên phong cách sống chưa được xác định của một người nào đó.

5.6.4. Hứng thú học tập

5.6.4.1. Hứng thú học tập là gì?

Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo, là một quá trình căng thẳng, đòi hỏi phải nỗ lực thường xuyên. Vì vậy, hứng thú nhận thức làm nâng cao tính tích cực của HS và làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức.

A.K. Markova và V.V. Repkin cho rằng: “Hứng thú học tập là loại hứng thú chưa được ý thức một cách rõ ràng, có tính chất tình huống, thường chú ý tới những khía cạnh bên ngoài của đối tượng hoạt động học tập, ít có tác dụng thúc

đây hành động học tập theo sáng kiến riêng của người học, được xuất hiện dưới

những phản ứng rất mãnh liệt nhưng ngắn ngủi”. Còn theo A.G. Covaliop, ứng

thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đổi với đối tượng của

hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân.

Hứng thú học tập được chia làm hai loại:

- Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập (còn gọi là hứng thú bên ngoài) là

thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, do

những yếu tố bên ngoài, gián tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động này gây nên.

— Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập (còn được gọi là hứng thú bên trong, hứng thú nhận thức) là hứng thú đến với nội dung tri thức, quá trình học tập và các phương pháp tiếp thu, vận dụng những nội dung tri thức đó.

Hứng thú học tập được thể hiện ở ba tiêu chí, đó là những biểu hiện:

- Về mặt nhận thức, người học nhận thức được vai trò của đối tượng hoạt động học tập trong cuộc sống, trong quá trình lĩnh hội và công tác.

— Về mặt xúc cảm, ham học, chờ đón kiến thức mới, nhận thức và lí giải được

các nguyên nhân tạo ra sự yêu thích ấy ở chủ thê.

— Về mặt hành động, đó là tính tìm kiếm tích cực (biết giả định, tìm cách khắc

phục khó khăn để giải quyết vấn đẻ). Quá trình tích cực suy nghĩ là hạt nhân của hứng thú nhận thức; ngoài ra còn là sự tự giác đọc thêm tài liệu tham khảo, làm thêm bài tập, tìm hiểu và ứng dụng ở trong và ngoài nhà trường lĩnh vực mà mình ưa thích.

Hứng thú học tập còn được thể hiện ở chỗ thích học một vài bộ môn mà cá

nhân cho là phù hợp, từ đó thúc đẩy họ đọc thêm sách báo, hoạt động trong các

nhóm ngoại khoá, làm thí nghiệm liên quan đến bộ môn. Các mặt biểu hiện trên của hứng thú học tập không tách biệt, độc lập với nhau mà chúng có mối liên quan chat ché với nhau. Song nó chỉ được biểu hiện rõ nét, bên vững khi hứng thú học

tập của chủ thể bền vững, trực tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động học tập.

Để nghiên cứu có hiệu quả hứng thú học tập ở người học, chúng ta cần cụ thê hoá mỗi tiêu chí trên thành những biểu hiện đặc trưng, sát thực.

5.8.4.2. Cấu trúc tâm If của hứng thú học tập

Giống mọi hứng thú khác, hứng thú với đối tượng học tập của HS có ba yếu

tố đặc trưng:

a) Yéu té gid tri của đối tượng hay nhu cầu của chủ thể HS. Câu hỏi ở đây là đối

tượng học tập của HS là gì? Có thoả mãn được nhu cầu học tập của các em không? Nếu đối tượng học tập có giá trị đối với HS thì tự nó trở thành động cơ lôi cuốn, hấp dẫn HS đến với nó. Đối tượng học tập, phương pháp dạy của thây/cô giáo càng hấp dẫn thì sức lôi cuốn càng mạnh. Nói cách khác, HS càng có hứng thú học tập môn đó.

b)_ Yếu tổ cảm xúc của chủ thể đối với đối tượng. Cảm xúc là sự rung cảm của chủ thể đối với một đối tượng nào đó. Vì vậy, để tạo ra hứng thú học tập, đối

tượng học tập không chỉ có giá trị thoả mãn nhu cầu của HS, mà phải tạo ra được cảm xúc dương tính ở các em, từ đó làm xuất hiện sự say mê thích thú và tò mò ở

cac em.

c)_ Yếu tố nhận thức đối tượng. HS nhận thức được vai trò, ý nghĩa và niềm vui của hoạt động học tập và của đối tượng học tập cũng như sản phẩm học tập

của mình. Yếu tố nhận thức trong cảm xúc này là cơ sở vững chắc để duy trì

hứng thú.

Trong hứng thú học tập, ba yếu tố trên quan hệ chặt chẽ nhau và tuỳ vào

các giai đoạn phát triển của HS mà mỗi yếu tố có thể mạnh lên, chiếm ưu thế.

Chẳng hạn, đối với HS nhỏ tuổi, yếu tố cảm xúc đối với đối tượng học và đối với việc dậy của các thây cô đóng vai trò quan trọng; ở tuổi THCS hay THPT yếu tố

nhận thức của xúc cảm hay yêu tô giá trị chiêm ưu thê.

5.6.4.3. Các loại hứng thú học tập

Có hai loại hứng thú học tập phổ biến: hứng thú tức cảnh và hứng thú cá nhân.

- Húng thú tức cảnh là loại hứng thú xuất hiện trong các hoạt động cụ thé như

hứng thú với bài giảng của thầy/cô giáo, hứng thú với hoạt động tập thể lớp, một

cuốn sách... ứng thú cá nhân là hứng thú bền vững của cá nhân được hình thành

và phát triển qua trải nghiệm của cá nhân đối với một hoạt động nhất định; hứng

thú đối với môn học của HS là một dạng của hứng thú cá nhân.

- Hứng thú tức cảnh và hứng thú cá nhân cùng tổn tại trong hoạt động dạy

học và có quan hệ tương hỗ nhau. Hứng thú tức cảnh càng cao và ổn định sẽ trở thành hứng thú cá nhân. Đồng thời, hứng thú cá nhân là cơ sở để tạo thành và duy trì hứng thú tức cảnh.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 179 - 182)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)