Đặc điểm của hoạt động học

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 75 - 81)

3.1. Khái niệm hoạt động học

3.1.2. Đặc điểm của hoạt động học

- Đối tượng của hoạt động học là toàn bộ kinh nghiệm lịch sử — xã hội đã được hình thành và tích luỹ qua các thế hệ, ton tại dưới dạng các vật phẩm văn hoá và trong các quan hệ xã hội. Học tập là quá trình biến những kinh nghiệm của xã hội thành kinh nghiệm của cá nhân. Những kinh nghiệm xã hội đó cố thể là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng và các giá trị... |

— Mục đích của hoạt động học không phải hướng đến tạo ra sản phẩm vật chất

hay tinh thần mới cho xã hội như các loại hoạt động khác, mà hướng đến làm thay đổi chính bản thân mình.

- Cơ chế của hoạt động học là bằng hệ thống việc làm của mình, người học tương tác với đối tượng học, sử dụng các thao tác thực tiễn và trí tuệ để cấu trúc lại đối tượng bên ngoài và chuyển vào trong đầu, hình thành và phát triển các cấu

trúc tâm lí, qua đó phát triển bản thân.

_ Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới mà còn tiếp thu được cả phương thức dành tri thức đó (cách học).

— Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của HS. Trong các giai đoạn phát triển của cá nhân, có một hoạt động đóng vai trò chủ đạo, đó là hoạt động chi phối mạnh mẽ việc hình thành các chức năng tâm lí đặc trưng của giai đoạn lứa tudi đó.

Trong suốt quá trình phát triển của HS, từ tiểu học đến trung học phố thông, hoạt động chủ đạo của các em là học tập. Điều đó có nghĩa là mợi chức năng tâm lí cơ bản của HS như sự phát triển trí tuệ, tình cảm, ý thức, nhân cách... đều được quy định dưới tác động mạnh mẽ của hoạt động học tập của các em.

3.1.3. Cấu trúc hoạt động học theo lí thuyết của A.N. Leonchev

Vận dụng phương. pháp tiếp cận hoạt động của A.N. Leonchev vào phân tích hoạt động học ta có thể mô tả cầu trúc của hoạt động học như sau:

Hoạt động học ‹©> Động cơ học

1 1

Hành động học <-› Mục đích học

t t | + Hoàn cảnh cụ thể = Nhiệm vụ học

Thao tỏchọc ô> Phương tiện học

N ⁄

Sản phẩm học

(sự phát triển của HS)

Hoạt động học có 6 thành tố liên hệ mật thiết với nhau. Một hoạt động học

bao giờ cũng được thúc đây bởi động cơ học. Hoạt động học luôn nhằm thoả mãn nhu cầu học của con người. Khi nhu cầu học sặp đối tượng học (tài liệu học tập, bài giảng của GV...) thì trở thành động cơ học. Đối tượng học là động cơ đích thực của hoạt động học. Động cơ học là mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động học. Một hoạt động học bao gồm nhiều hành động học. Hành động học cụ thể luôn gắn với zmực đích học cụ thể (Động cơ học được cụ thể hoá trong các

mục đích học bộ phận). Để đạt được hành động học, HS phải tiến hành các thao tác học, dựa theo các phương tiện, điều kiện học.

Ví dụ: hoạt động học có động cơ là chiếm lĩnh những thành tựu văn hoá của loài người để phát triển nhân cách. Hoạt động học bao gồm nhiều hành động: lên lớp, đọc tài liệu ở nhà, thi... Mỗi hành động gồm các thao tác: giở sách vở, viết...

Mỗi hành động học lại có mục đích cụ thể: đủ điều kiện để thị, tiếp thu và hiểu kiến thức, kĩ năng... Khi tiến hành các thao tác, sử dụng các phương tiện, điều kiện: lớp học, bàn ghế, ánh sáng điện...

3.2. Hình thành hoạt động học cho học sinh trong dạy học 3.2.1. Hình thành động cơ học

Theo A.N. Leonchev', động cơ hoạt động chính là đối tượng hoạt động.

Chuyển vào trọng dạy học, hình thành hoạt động học cho HS là hình thành đối tượng học cho các em.

Ở mức khái quát nhất, đối tượng học là kinh nghiệm lịch sử - xã hội được các thé hé san sinh và tích luỹ, giúp con người tổn tại và phát triển. Mỗi cá nhân muốn

thích ứng được với môi tường tự nhiên và xã hội, làm chủ cuộc sống của mình thì phải tiếp nhận và chuyển những kinh nghiệm xã hội — lịch sử của chung thành

kinh nghiệm riêng của mình. Hoạt động học tập, thực chất là cá nhân tiến hành

các hành động với các phương tiện nhất định để chiếm lĩnh những kinh "nghiệm đã có của loài người nhưng còn mới đối với cá nhân đó.

Trong thực tiễn dạy học, hình thành đối tượng học cho HS thực chất là xác định mục tiêu và thiết kế nội đung dạy học. Tuy nhiên, không phải bao giờ mục tiêu và nội dung dạy học cũng trở thành động cơ học của HS. Muốn mục tiêu và nội dung dạy học trở thành đối tượng học cho HS cần đáp ứng những yêu cầu sau:

~ Thứ nhất, đối tượng học (nội dung học) phải đáp ứng nhu cầu học của HS, phải hấp dẫn các em, tạo ra ở các em hứng thú tìm tòi khám phá chúng.

Trước hết và quan trọng nhất, đối tượng học (nội dung học) phải thoả mãn được nhu cầu học của HS; phải là cái gì đó mà khi chiếm lĩnh được nó, HS thoả mãn được nhu cầu học của mình. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên trong đạy học là phải thiết kế nội dung học tập có khả năng kéo HS đến với nó. Trong cuộc sống của mỗi cá nhân có rất nhiều nhu cầu. Một trong những nhu cầu mang tính nên tảng tạo ra tính tích cực hoạt động của cá nhân ở mọi lứa tuổi là nhu cầu nhận thức (khám phá), tìm tòi, sáng tạo. Do đó, nội dung học tập của HŠ trước hết phải thoả mãn được các nhu cầu nhận thức trên. Mặt khác, nhu cầu cá nhân cũng như

! A_N. Leonchev (1989), Hoạt động — Ý thức — Nhân cách, NXB Giáo dục.

cách thức.thoả mãn chúng phát triển theo lứa tuôi. Điều này đặt ra yêu cầu đối

với GV, cần phải tính đến đặc điểm lứa tuổi HS khi thiết kế nội dung học tập

cho các em.

Ngoài thoả mãn nhu cầu học của HS, đối tượng học còn phải hấp dẫn các em.

Một nội dung học quá dễ hoặc quá khó, không hấp dẫn, ngược lại, sẽ đễ gây chán nản ở HS.

- Thứ hai, đối tượng (nội dung) học không xuất hiện đây đủ ngay từ đâu đối với HS, mò bộc lộ dân trong quá trình học tập.

Lúc đầu, nội dung học tập chỉ là khách thể đối với HS, khi HS và nội dung

học tập tương tác với nhau, nội đung học tập trở thành đối tượng của HS. Tuy nhiên, bản chất của đối tượng chưa thực sự bộc lộ hoàn toàn trước HS, mà chỉ một bộ phận nhất định nào đó. Quá trình tương tác tiếp theo giữa HS với nội dung học

sẽ làm cho đối tượng dần được hình thành trong tâm lí HS, đồng thời thái độ và

năng lực của HS cũng dần được bộc lộ trước đối tượng. Trong quá trình tương tác giữa HS với nội dung học tập, hoạt động trợ giúp, dẫn dắt của người GV có vai trò

to lớn. Sự tác động của GV sẽ tăng thêm sự hấp dẫn của đối tượng học và làm

tăng tính tích cực học tập của HS.

Tóm lại, để hình thành động cơ học tập cho HS, cần chú ý:

+ Làm nảy sinh nhu cầu của các em đối với các tri thức khoa học.

+ Người thầy luôn sáng tạo trong việc tổ chức cho HS tự phát hiện ra những điều mới lạ và những tri thức mới.

.+ Phải làm cho nhu cầu của các em gắn liền với các mặt khác của hoạt động học tập: mục đích, quá trình hay kết quả.

+ Phải có những biện pháp tác động phù hợp với từng đối tượng HS để có

khả năng khơi đậy tiềm năng của các em.

+ Phát huy tối đa các mặt mạnh: tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em.

3.2.2. Hình thành mục đích học tập

Trong hoạt động học của HS, nếu ví động cơ học là chiếm lĩnh được toà nhà, thì mục đích học được ví như những “nắc thang” dẫn đến toà nhà đó. Mục đích

học là phương tiện để đạt tới động cơ học. Mục đích học được biểu hiện qua các

khái niệm, tri thức cụ thể của nội dung môn học. Hệ thống khái niệm hay tri thức thành phần của môn học tạo ra nội dung môn học. Để chiếm lĩnh được nội dung môn học, HS phải chiếm lĩnh được hệ thống khái niệm của môn học đó. Nói một cách khái quát, mục đích học là đối tượng học của HS, mà khi chiếm lĩnh được nó, cho phép HS đạt (hình thành) được động cơ ( đối tượng) học.

Trong thực tiễn, để mục đích dẫn đến động cơ học tập của HS, phải đảm bảo những yêu cầu sau:

- Thứ nhất, các mục đích, tuy rất đa dạng nhưng đều phải hướng đến thực hiện một chức năng nhất định để dẫn đến động cơ học. Điều này giống như việc

tổ chức bữa liên hoan (đối tượng — động cơ hoạt động), những mục đích bộ phận

như mua thực phẩm, chế biến, chuẩn bị các dụng cụ ăn, dọn đẹp đồ dùng sau khi ăn... là những mục đích bộ phận, chúng có chức năng cụ thể, khác nhau nhưng

đều hướng đến phục vụ bữa liên hoan.

— Thứ hai, hệ thống mục đích học (MĐ) phải được thiết kế theo logic tuyến tính:

MB, MĐ; — MĐa —›..— MĐạ (MĐ cuối cùng). Trong thực tiễn, logic các mục đích bộ phận được biểu hiện qua việc thiết kế logic của hệ thống khái niệm trong nội dung học tập của HS, sao cho HS tiếp thu (hình thành) được khái niệm trước sẽ là tiền đề cho việc hình thành khái niệm sau, theo nguyên lí bậc thang.

3.2.3. Hình thành hành động học cho học sinh

Để đạt được các mục đích học, HS phải tiến hành các hành động học. Mục

đích học tập được hình thành khi chủ thể bắt tay vào tiến hành hoạt động học

tập. Khi đó, chủ thể thâm nhập vào đối tượng, nội dung của mục đích dần hiện hình, định hướng cho hoạt động; nhờ đó, chủ thể chiếm lĩnh được tri thức mới,

năng lực mới. .

Muốn hình thành mục đích học tập cho HS phải lấy hành động học tập của các em làm cơ sở. Thông qua việc thâm nhập vào đối tượng, HS sẽ năm được những dấu hiệu bản chất, những mối quan hệ bên trong có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng... dan dan thay đổi mức độ làm chủ những khái niệm, giá trị, chuẩn mực, quy luật, phương thức, hành vi, hành động.

Vì vậy, nhà giáo dục cần tổ chức hoạt động có nội dung hấp dẫn, có khả năng lôi cuốn sự tham gia tích cực, sáng tạo của các em.

Trong hoạt động học có nhiều hành động học khác nhau, tuỳ theo hình thức ton tai của nội dung đối tượng (hình thức ton tại của các khái niệm).

-_ Hình thức tần tại của khái niệm

Nội dung học tập (khái niệm khoa học) có nhiều hình thức tổn tại, trong đó có ba hình thức cơ bản.

+ Hình thức vật chất: khái niệm được khách quan hoá, trú ngụ trên vật thật hay vật thay thế.

+ Hình thức “mã hoá”: logic của khái niệm chuyển vào trú ngụ ở một vật liệu

khác (kí hiệu, mô hình, sơ đồ, lời nói...).

+ Hình thức tinh thần: trú ngụ trong các ý nghĩ, các liên tưởng, các cấu trúc tâm lí của cá nhân.

— Hình thức hành động học tập:

+ Hình thức hành động vật chất trên vật thật: chu thé ding thao tác tay chân

(tháo lắp, chuyền dời, sắp xếp...) tác động vào vật thật. Hành động này phổ biến ở

trẻ nhỏ.

+ Hình thức hành động với lời nói và các hình thức “mã hoá” khác tương ứng

với đối tượng, mục đích nhằm chuyền logic của khái niệm đã phát hiện ở hành động vật chất vào trong tâm lí chủ thê hành động.

+ Hình thức hành động tinh thân: logic của khái niệm được chuyển vào trong tâm lí.

Như vậy, vật chất được chuyển thành cái tinh thần; cái bên ngoài thành cái bên trong.

— Các loại hành động học tập:

Tương ứng với ba hình thức tồn tại của khái niệm, có ba loại hành động học

bao gồm hành động phân tích, mô hình hoá, cụ thê hoá.

+ Hành động phân tích: nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm cũng như cấu tạo logic của nó, gồm: phân tích vật chất, phân tích dựa trên lời nói, phân tích tinh thần. Tri thức cũ đã hình thành là phương tiện quan trọng để tiến hành phân tích, đi sâu vào khái niệm mdi.

+ Hành động mô hình hoá: giúp con người diễn đạt logic khái niệm một cách trực quan; các mối quan hệ của khái niệm được quá độ chuyển vào tỉnh thần.

Trong dạy học thường dùng các loại mô hình sau:

e Mô hình gần giống vật thật: tính trực quan cao, HS có thể theo đối toàn bộ quá trình hành động, vị trí các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau.

e Mô hình mã hoá: có tính chất quy ước, đó là những quy ước hay kí hiệu, trong đó chỉ giữ lại những mối quan hệ logic; là công cụ quan trọng để phát triển tư duy trừu tượng.

+ Hành động cụ thê hoá: giúp HS vận dụng phương thức hành động chung Vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực.

Việc hình thành khái niệm trải qua giai đoạn nắm lấy mối quan hệ tổng quát và giai đoạn sử dụng mối quan hệ ay vào việc chiếm lĩnh các hình thức biểu hiện khác nhau của khái niệm.

Quá trình hình thành khái niệm, kĩ năng, kĩ xảo (sản phẩm giáo dục) phải thông

qua quá trình hình thành các hành động học tập, lấy hành động học tập làm cơ sở.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 75 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)