Các phương pháp quản lí lớp học

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 196 - 199)

1) Xích mích, cãi cọ, nói xấu lẫn nhau giữa các thành viên

6.2.4. Các phương pháp quản lí lớp học

Các GV có thê sử dụng nhiều phương pháp đề tiến hành công việc quản lí lớp

học; trong đó, có 6 phương pháp phổ biến:

6.2.4.1. Phương pháp cứng rắn - Kiểm soát chặt chẽ của giáo viên

Đây là phương pháp thiên về mệnh lệnh, đòi hỏi GV phải định rõ các quy định về hành vi và những hậu quả phải chịu nếu không tuân theo các quy định đó, phải phố biến rõ ràng đến mọi HS các quy định và hậu quả đó. Theo cách này, dần

hình thành ở HS tính kỉ luật và luôn ý thức được ai là người đứng đầu lớp. HS dần

hiểu được GV mong đợi họ ứng xử theo một cách nhất định trong lớp học. GV phải phản ứng ngay tức khắc và đúng mức hành vi sai trái của HS. Những hành vi sai ở mức nhẹ sẽ gan với hình phạt nhẹ, nhưng nếu tiếp tục tái diễn, hình phạt sẽ

nghiêm khắc hơn. Người theo phương pháp này cho rằng, hành vi sai trái có tính lan truyền và nếu không được ngăn chặn sớm sẽ lan toả. Nếu bỏ qua các hành vi

sai trái ngay từ đầu sẽ dẫn đến hậu quả không kiểm soát được và ngày càng có - nhiều HS gây rối.

Yêu cầu của phương pháp này là GV phải duy trì các hành vi kỉ luật dựa trên ý thức có trách nhiệm của chính HS. GV phải nhanh chóng chiếm được uy tín thủ lĩnh của lớp; đưa ra các quyết định; tiếp xúc với HS trên thái độ điềm tĩnh, ôn hoà nhưng cương quyết; phải kết hợp giữa yêu cầu rõ ràng và phản ứng nhanh, kịp

thời đối với hành vi sai và kiên quyết đến cùng với sự nhiệt tình và khuyến khích đối với tất cả HS.

Sử dụng phương pháp cứng rắn, GV phải thiết lập sự quản lí chặt chẽ lớp học ngay từ đầu năm học bằng cách: 1) Đưa ra các yêu cầu tích hợp đối với các

hành vi tích hợp; 2) Nhận thức được những vấn đề ki luật đang tồn tại hay tiềm ấn;

3) Quyết định kết quả tiêu cực hay tích cực của hành vi phù hợp với HS hay hoàn cảnh; 4) Học cách làm thế nào để duy trì đến cùng và thực thi kết quả này.

Một số gợi ý cho các GV áp dụng biện pháp kỉ luật cứng TẤN:

— Xác định rõ những kì vọng của mình cho HS.

— Thể hiện quan điểm (Khẳng định:“Tôi thích, tôi muốn cái này”, “Tôi không thích cái này”).

— Sử dụng giọng nói dứt khoát, có sức mạnh.

— Sử dụng giao tiếp bằng mắt, điệu bộ, cử chỉ dé hỗ trợ ngôn ngữ.

— Dua ra những lời khen một cách chân thật.

~ Đặt ra các yêu cầu đối với HS và bắt buộc phải thực hiện.

—- Đưa ra các giới hạn đối với HS và bắt buộc phải theo.

— Chỉ ra hậu quả của hành động và giải thích tại sao những hành động là cần thiết.

— Bình tĩnh và kiên trì, tránh xúc động và sợ hãi.

— Kiên tri, bat buộc những quy định tối thiểu và không từ bỏ.

6.2.4.2. Phương pháp khoa học ứng dụng - Sự tham gia tích cực của giáo viên Phương pháp khoa học ứng dụng trong quản lí lớp học được dựa theo phương pháp quản lí theo khoa học trong hoạt động quản lí, lấy công việc và hiệu quả công việc làm trục trung tâm. Một lớp học vận hành tốt, HS cư xử theo có nề TIẾP, có kỉ luật tốt và tích cực tham gia học tập, khi đã định hình một kiểu lớp học rõ ràng, hành vi của HS và những hoạt động có chỉ dẫn của GV. Trong đó, việc chỉ dẫn HS khi các em tham gia vào công việc nào đó là một hướng được quan tâm, dựa trên nguyên tắc quản lí hướng vào công việc trong khoa học quản lí — tập trung vào công việc và hoàn thành công việc một cách thiết lực, ngăn. nắp và có hiệu quả.

Việc quản lí lớp học theo phương pháp khoa học bao gồm: đề ra và truyền đạt cho HS tiêu chuẩn, quy trình và sự phân công công việc; giám sát công việc của

HS và phản hồi về phớa HS. ơ—

a)_ Đề ra và truyễn đạt về sự phân công và yêu cầu về công việc

GV đề ra và giải thích rõ ràng cho HS biết và hiểu công việc, đặc điểm công

việc, những tiêu chuẩn cần đạt và quy trình thực hiện. GV cũng có thể thiết kế các trang web riêng làm phương tiện thông báo tới HS, cha mẹ biết sự phân công công việc và điểm số. Một số điều lưu ý khi truyền đạt công việc:

- Đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng về sự phân công, có thể dùng cả lời nói, bảng viết để truyền đạt công việc. GV cần có bản sao giao cho HS và có thé yêu cầu các em ghi chép đầy đủ, cần lưu phân công công việc trên bảng thông báo chung.

— Dựng lên các tiêu chuẩn mẫu mức độ kết quả và thời hạn nộp bài. Trước khi làm công việc gì đó, HS cần biết quy định chung của công việc đó, các mẫu chung của việc trình bày; thậm chí càng cụ thể càng tốt như mẫu giấy, bút đê viết, kiểu chữ... Những thông báo này nhất thiết tất cả HS đều được biết. Trong trường

hop cần thiết phải có một nhóm HS giúp đỡ, thường xuyên nhắc nhở số HS có

“vấn đề” trong việc tuân theo các mẫu chung này.

— Đề ra quy trình thực hiện rõ ràng, nhất là đối với HS vắng mặt trong buổi

thảo luận chung.

b)_ Giám sát công việc của học sinh

Giám sát công việc của HS giúp GV phát hiện những HS gặp khó khăn và khích lệ các em tiếp tục làm việc. Việc giám sát bao gồm, giám sát công việc của nhóm, của cá nhân; giám sát hoàn thành công việc; giữ lại các thông tin về công việc của HS.

c)_ Phản hồi về phía học sinh

Phản hồi nhanh chóng, thường xuyên và cụ thé là điều quan trọng để củng cố việc giám sát công việc và các bước tiến hành. Tiến trình công việc, bài tập về nhà, hoàn thành bài tập, bài kiểm tra nên được kiểm tra kịp thời.

Việc phản hồi có hiệu quả cần có sự tập trung chú ý vào những khó khăn.

Chú ý vào phản hôi việc hoàn thành công việc (nhất là những bài tập về nhà) ngay từ những ngày đầu năm học là rất quan trọng. Lần đầu, HS không hoàn thành nhiệm vụ với lí do không chính đáng, GV phải nói chuyện ngay với HS. Nếu HS cần sự giúp đỡ, GV giúp ngay, nhưng phải đảm bảo HS đó hoàn thành công việc đang làm. Nếu có vấn đề, GV phải làm việc với cha mẹ, không nên để đến lúc

tổng kết, cho điểm mới lưu tâm tới vấn đề này.

6.2.4.3. Phương pháp điều chỉnh hành vi - Sự can thiệp nhiều của giáo viên Trong phương pháp điều chỉnh hành vi, GV sử dụng các liệu pháp rèn luyện và củng cố nhằm làm tăng sự xuất hiện của những hành vi đúng bằng cách khen thưởng và giảm hành vi không mong đợi từ phía HS thông qua trách phạt. Cơ sở tâm lí của phương pháp này là các nghiên cứu của Tâm lí học hành vi.

a)_ Những nguyên tắc cơ bản của phương pháp điều chỉnh hành vi

— Hành vi được hình thành từ chính hiệu quả của nó đối với HS, chứ không phải do nguyên nhân thuộc về tâm lí HS hay những điều kiện của nhóm HS.

- Hành vi được mạnh lên bởi các củng cố (phần thưởng) ngay tức thì. Những

biện pháp củng cố tích cực là khen thưởng hay khen ngợi. Củng cố tiêu cực (củng

cố loại trừ) là làm mắt hay dừng lại các hành vi không mong đợi ở HS.

— Hành vi được mạnh lên nhờ sự củng cố có tính hệ thống. Nếu thiếu tính hệ thống, hành vi sẽ dần yếu đi.

— HS phản ứng tốt với các củng cố tích cực hơn là với củng cố tiêu cực hay trách phạt. Trừng phạt có thể làm mất một số hành vi không mong đợi, nhưng cần hạn chế dùng nó.

— Khi một hành vi tốt của HS không được khen thưởng kịp thời thì những hay

vi sai trái hay xấu sẽ có chiều hướng phát triển, chiếm ưu thế và bị lợi dụng để

thắng thế sự củng cố.

— Liên tục củng cố một hành vi tốt, mỗi khi nó xuất hiện thường được tận dụng đề hình thành một hành vi mới, đặc biệt là trong hoàn cảnh có điều kiện hay

hoạt động học tập mới.

— Một hành vi tốt đã được hình thành và ồn định thì tốt nhất là nên củng cố

theo phương pháp gián đoạn — sự củng cố thi thoảng xảy ra.

Chương trình củng cố gián đoạn bao gồm: 1) Chương trình củng cố có tính chất biến thiên (đưa ra củng cố bất ngờ) và khoảng thời gian thay đổi; đưa ra sự củng cố theo sau sự phản ứng đúng đầu tiên và sau khoảng thời gian nhất định;

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 196 - 199)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)