Sự phát triển nhận thức của học sinh

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 122 - 126)

4.1. Hoạt động dạy học

4.2.2. Sự phát triển nhận thức của học sinh

Cấu trúc nhận thức (các sơ đồ nhận thức) là cấu trúc tâm lí của cá nhân, phản ánh các mức độ nhận thức đối tượng và sự phát triển các thao tác trí óc để khám phá đối tượng.

Theo J. Piaget, sự phát triển nhận thức ở trẻ em là sự phát triển các sơ đồ nhận thức: sơ đỗ tri giác, sơ đồ trí nhớ và sơ đồ trí tuệ. Cả ba nhóm sơ đồ trên đều bắt

nguồn từ sơ đồ đơn giản nhất: sơ cấu giác — động. Trong đó, đáng chú ý nhất là sơ đồ trí tuệ. Sự phát triển của sơ đồ trí tuệ trải qua bốn giai đoạn lớn, theo logic sau:

So dé giác — động —› Các sơ đồ tiền thao tác —> Sơ đỗ thao tác cụ thể —› Sơ đồ

thao tác hình thức.

a)_ Giai đoạn cảm giác — vận động (từ 0 — 2 tuôi)

Giai đoạn này chia thành 6 thời kì nhỏ: Thời kì 1 (0 — 1 tháng), các phản xạ có tính chất bẩm sinh, hình thành sơ cấu cảm giác và cử động, hình thành phản ứng vòng tròn sơ cấp; thời kì 2 (1 — 4 tháng), hình thành tri giác và thói quen vận động;

thời kì 3 (4 — 8 tháng), phản ứng vòng tròn thứ cấp; thời kì 4 (8 — 12 tháng), hình thành khả năng phối hợp phương tiện — mục đích, xuất hiện dấu hiệu của trí khôn, trên cơ sở sơ đồ mục đích — phương tiện; thời kì 5 (12 — 18 tháng), phát hiện ra các phương tiện mới, khả năng mục đích — phương tiện; thời kì 6 (18 — 24 tháng), phát sinh các “giải pháp sáng tạo” (hiện tượng bừng hiểu) trong ứng xử.

b)_ Giai đoạn tiền thao tác (từ 2 — 6 tuổi hoặc 7 tuổi)

Trong giai đoạn này, các sơ đồ hành động dần được nhập tâm để tiến tới hình

thành biểu tượng. |

Trước hết là khả năng bắt chước hanh dong. Tiép dén chuyén tir biéu trong

trên hành động (bắt chước hành động) sang biểu tượng trong ý nghĩ. Từ đó, ở trẻ em xuất hiện hành động tượng trưng (các trò chơi tượng trưng: ru búp bê ngủ, cho

bé ăn) và hành động vẽ hình. Ở trình độ tiền thao tác, các hình ảnh tỉnh thần có

tính chất tĩnh, thường khó tái hiện ra sự vận động hay biến đổi cũng như kết quả của chúng. Chỉ khi đạt đến trình độ thao tác (7 - 8 tuổi), trẻ em mới có khả năng hình dung ra sự vận động, biến đổi và kết quả của chúng.

Trong giai đoạn này, xuất hiện của tiếng nói, nhờ đó ở trẻ hình thành chức

năng kí hiệu (biểu trưng).

Đặc trưng nỗi bật trong trí tuệ và ngôn ngữ của trẻ em giai đoạn này là tính duy kỉ, trực giác tổng thể và triển khai bằng cách xếp kẻ các hình ảnh. Hiện tượng đuy kỉ (lây mình làm trung tâm), là thời kì quá độ của quá trình đứa trẻ tự tách mình

ra khỏi thế giới và ý thức bản thân mình như một thực thể khách quan. Tính tự ki trung tâm ở thời kì tiền thao tác (3 — 5 tuổi) là đo trẻ chưa có khả năng đi theo quá trình biên đôi của sự vật và chưa có khả năng đảo ngược các sơ đô.

c)_ Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7 — 11 tuỗi hoặc 12 tuổi)

Sự xuất hiện thao tác gắn liền với các đặc trưng đảo ngược và bất biến. Điều

này liên quan đến khả năng bảo toàn.

— Hình thành khả năng bảo toàn. Nếu trước 6 — 7 tuôi trẻ em chưa có khái niệm bảo toàn (chưa thực hiện được các bài tập bảo toàn trong các thí nghiệm

kinh điển của Piaget), thì sang 7 — 8 tuổi trẻ đã có khả năng này. Trước hết là sự bảo toàn chất liệu (trút nước từ một cốc sang hai cốc khác nhau), tiếp đến là bảo toàn trọng lượng (9 — 10 tuổi) và bảo toàn khối lượng (11 — 12 tuổi).

— Hình thành những thao tác cụ thể. Sự xuất hiện các hành động ngược, dẫn đến khả năng đảo ngược và báo toàn đã giúp cho trẻ em giai đoạn này hình thành các thao tác cụ thé (các thao tác liên quan trực tiếp với đồ vật). Các thao tác này kết hợp với nhau tạo thành những cấu trúc tổng thể, nhưng vẫn chưa có khả năng khái quát (do thao tác trên vật): cầu trúc phân loại, phân hạng, cấu trúc số, cấu trúc không gian, thời gian và tốc độ.

đ)_ Giai đoạn thao tác hình thức (từ 13 — L5 tuỗi)

Điểm đặc trưng trong sự phát triển cấu trúc trí tuệ của trẻ em từ 13 — 15 tuổi là các cấu trúc trí tuệ được giải phóng khỏi vật cụ thể và chuyên vào các mệnh đề. Tất cả sự biến đổi ấy đều do tư duy của trẻ sử dụng những giả thuyết, những suy luận bằng những mệnh đề được trừu xuất khỏi những nhận biết cụ thể và

thực tế của giai đoạn trước. Thành tựu trí tuệ này được biểu hiện qua hình thành nhiều cấu trúc tư duy và trí tuệ mới: Tư duy hình thức và tổ hợp. Trẻ em đã phân tách ra được nội dung và hình thức của vật, nhờ đó chủ thể có thể suy luận, phán.

đoán đúng đắn bằng những mệnh đề có tính giả định đơn thuần (giả định 1 con

vịt có 4 chân, thì 2 con sẽ có 8 chân). Chính điều này đã tạo ra sự khởi đầu của tư duy giả định diễn dịch hay tư duy hình thức; các thao tác hình thức và các nhóm thuận nghịch. Ở lứa tuổi 11 — 12 xuất hiện hàng loạt cấu trúc thao tác mới.

Các nhóm đã có tính thuận nghịch, nhờ các thao tác trên mệnh để, như đã thấy ở

phan trên.

Sự phát triển các cấu trúc nhận thức và trí tuệ của trẻ em qua các giai đoạn nêu trên là cơ sở tâm lí quan trọng để các GV thiết kế các hoạt động dạy (mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học) phù hợp.

4.2.2.2. Sự phát triển các chức năng nhận thức

a) Sự phát triển cảm giác và tri giác

Cảm giác của trẻ em xuất hiện ngay từ khi còn là bào thai. Khi sinh, ở trẻ em bình thường, các giác quan đều hoạt động bình thường và có khả năng thu nhận được các tín hiệu đặc trưng. Trẻ càng lớn, các giác quan càng hoàn thiện về giải phẫu và chức năng. Qua hoạt động, đặc biệt là hoạt động học tập và hoạt động nghề nghiệp, độ nhạy cảm của các giác quan ngày càng nâng cao (cảm giác da của các bác sĩ, cảm giác thị giác của bác thợ tiện, thợ quan trắc...).

Trên cơ sở phát triển của các giác quan, tri giác của trẻ em xuất hiện từ tháng thứ 2 sau khi sinh. Sự phát triển tri giác và tạo ra các hình ảnh tri giác của trẻ nhỏ phụ thuộc nhiều vào sự vận động của trẻ; vào môi trường sống (tự nhiên và xã hội) và vào văn hoá của cộng đồng. Trong suốt quá trình phát triển từ sơ sinh đến trước tuổi học phố thông, sự phát triển tri giác đóng vai trò chủ đạo và chỉ phối các chức năng nhận thức khác như trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Giai đoạn đầu, tri giác của trẻ quy định tư duy, tạo nên hiện tượng “tự kỉ trung tâm” ở trẻ, trong những giai đoạn sau, tri giác dần phụ thuộc vào các chức năng khác như ý thức, tư duy, ý chí, trí nhớ...

Ở lứa tuổi HS, đặc biệt là HS THCS và THPT, tri giác đã thực sự phát triển và

trở lên tỉnh tế (chẳng hạn các quan sát của nhà thơ Trần Đăng Khoa khi 8 tuổi), ổn định, trở thành năng lực (năng lực quan sát). Tuy nhiên, tri giác của trẻ em có

thực sự phát triển trở thành năng lực quan sát hay không không chỉ do sự nhạy

cảm của các giác quan mà chủ yếu là do có được học tập và rèn luyện trong môi trường thuận lợi hay không. Vì vậy, dạy học trong nhà trường, một mặt khai thác các hình ảnh tri giác của HS; mặt khác, quan trọng hơn, hình thành và phát triển năng lực quan sát cho các em, cả HS có năng khiếu và bình thường.

b)_ Phát triển tư đụy và tưởng tượng

Sự phát triển tư duy và tưởng tượng của trẻ em diễn ra qua ba giai đoạn:

— Tư duy và tưởng tượng tiền thao tác:

Và phương diện nhận thức, trẻ em gần 2 tuổi đã hình thành được các hình ảnh

tỉnh thân nhờ lưu giữ và xử lí các hình ảnh tri giác. Nhờ đó trẻ có thê tạo ra các

hành động bắt chước mà không có đối tượng trước mắt (giả vờ trên cơ sở nhớ lại).

Bước tiếp theo trẻ em hình thành các biểu sượng về không gian, thời gian, số lượng, kí hiệu... (nêu được phải trái, trên dưới, to nhỏ, nói được sơ đồ từ nhà đến lớp mẫu giáo...). Tuy nhiên, để có các hình ảnh tỉnh thần và cao hơn là các biểu tượng, trẻ em chưa có và chưa sử dụng các thao tác tư duy hoặc thao thác tưởng tượng mà

theo phương pháp “xếp kề” các hình ảnh, giống hành động ghép tranh của trẻ.

Trong giai đoạn này, các hành động thực tiễn của trẻ em như hành động biêu trưng, xếp hình, vẽ tranh và các trò chơi khác là tác nhân quan trọng để phát triển khả năng tư duy và tưởng tượng của các em.

— Tư duy và tưởng tượng dựa trên thao tác cụ thể:

Ở giai đoạn cuối mầm non và đầu lớp 1, vốn biểu tượng của HS phát triển mạnh, kết hợp với các hành động thực tiễn theo kiểu xuôi và ngược, nhờ đó tạo cơ sở để trẻ hình thành các thao tác tư duy. Những thao tác tư duy cơ bản là phân tích — tổng hợp; so sánh, trừu tượng hoá — khái quát hoá, cụ thể hoá. Các thao tác tưởng tượng như chấp ghép, loại suy, điển hình hoá...

Sự phát triển các thao tác tư duy và tưởng tượng trong giai đoạn đầu (các lớp đầu tiểu học) gắn liền với các hành động thực tiễn vật chất, cụ thể và vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tố không chủ định. Vì vậy, trong dạy học tiểu học,

cần đặc biệt quan tâm tổ chức cho HS tiến hành các hành động thực (hành động

bằng tay với đồ vật) để qua đó hình thành và phát triển các thao tác tư duy và tưởng tượng của các em..

— Tư duy và tưởng tượng đựa trên thao tác mệnh đề, lí luận:

Ở giai đoạn cuối tiểu học, đầu THCS, tư duy và tưởng tượng của HS dần dần đạt mức trưởng thành, tức là HS tiến hành các thao tác tư duy và tưởng tượng dựa trên các mệnh đề ngôn ngữ, kí hiệu (Toán, Lí, Hoá...) mang tính hình thức. Những năm cuối THCS, các thao tác tư duy của HS đạt mức tư duy trưởng thành, tư duy

của HS đạt tới tư duy lí luận. -

Sau nhiéu nam hoc trong nha trường tiêu học, THCS và THPT, HS dần hình thành và phát triển các kiểu tư duy khác nhau, theo đặc điểm tâm lí cá nhân, theo nội dung và kiểu học tập chiếm ưu thế của HS (tư duy hành động, tư duy lí luận, tư duy khoa học, tư duy hình tượng...).

Nhờ phát triển tư duy lí luận, sự phản ánh của chủ thể hoàn toàn phản ánh được bản chất của đối tượng, các mối quan hệ phổ biến và quy luật vận động của nó. Quá trình nhận thức của HS đã chuyên từ nhận thức cảm tính lên lí tính, từ

hình ảnh, biểu tượng cảm tính lên khái niệm lí tính.

Trong quá trình chuyền từ thao tác tư duy cụ thể (tương ứng lớp 3 - 4) lên thao tác tư duy lí luận (lớp 5 - 6), HS thường gặp khó khăn, giữa hai loại tư duy có “hố ngăn cách”. Để giúp HS khắc phục được hố ngăn đó, các thầy cô giáo có

kinh nghiệm thường sử dụng các miô hình (sơ đồ, biểu đồ, kí hiệu, hình vẽ...) để

vừa đảm bảo tính trực quan vừa tạo ra sự trừu tượng của đối tượng nhận thức.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 122 - 126)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)