Quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 133 - 136)

— Trong thực tiễn có ba nhóm quan niệm về mối quan Hệ giữa dạy học và phát - triển trí tuệ học sinh.

+ Thứ nhất, dạy học và phát triển đường như độc lập với nhau, dạy học đi song song và dựa trên thành tựu của sự phát triển, làm bộc lộ sự phát triển đó.

+ Thứ hai, dạy học chính là sự phát triển.

+ Thứ ba, dạy học đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển. Quan niệm

này do L.X. Vưgotxki và các nhà tâm lí học Nga cùng xu hướng đề xuất. Đây là quan niệm khoa học và cách mạng, còn hai quan niệm trên không phản ánh đúng mối quan hệ và vai trò của dạy học đối với sự phát triển trí tuệ trẻ em.

Quan niệm đy học ổi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển gắn liền với khái niệm vùng phát triển gần nhất do L.X. Vưgotxki phát hiện.

- Theo L.X. Vưgotxki, tại một thời điểm nhất định trong sự phát triển của trẻ

em luôn có hai trình độ phát triển: ứrình độ phát triển hiện tại và khả năng phát

triển gần nhất (vùng phát triển gần nhất).

+ Trình độ phát triển hiện tại là trình độ mà ở đó các chức năng tâm lí đã đạt tới mức chín muỗi, còn vùng phát triển gần nhất là vùng trong đó các chức năng tâm lí đang trưởng thành nhưng chưa chín. Về phương diện chân đoán, mức độ

hiện tại được biểu hiện qua tình huống trẻ em độc lập giải quyết nhiệm vụ, không cần sự trợ giúp từ bên ngoài.

+ Khả năng phát triển gần nhất được thể hiện trong tình huống trẻ hoàn thành nhiệm vụ khí có sự hợp tác, giúp đố của người khác, mà nếu tự mình, đứa trẻ sẽ không thực hiện được.

Như vậy, hai trình độ phát triển của trẻ, thể hiện hai rmức độ chín muôi của

các chức năng tâm lí ở các thời điểm khác nhau. Đồng thời, chúng luôn vận động, vùng phát triển gần hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ hiện tại và xuất hiện vùng phát triển gần mới.

Vùng phát triển Vùng phát triển

hiện tại l 2 .—”~ + gần nhất 1

* `

. / 1

| \ °

` iB S ° ` 2

Vùng phát triên "=—.“ ow Vùng phát triên

hiéntai2 - : gan nhat 2

Sơ đồ vùng phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất

Theo L.X. Vưgotxki dạy học và phát triển tâm lí, trí tuệ của trẻ em phải luôn luôn gắn bó với nhau. Ông cho rằng, mọi ý đồ dạy học zách rời sự phát triển, coi hai yếu tố này độc lập với nhau và dạy học đi sau sự phát triển, hoặc cho rằng dạy học trùng khớp với sự phát triển, đều dẫn đến sai lầm, làm hạn chế vai trò của dạy học. Nếu hiểu đúng đắn vấn đề thì dạy học và phát triển phải thường xuyên có

quan hệ hữu cơ với nhau, nhưng đạy học không phải là yếu tố đi sau sự phát triển,

là điều kiện để bộc lộ nó. Dạy học có tô chức đúng đẫn sẽ kéo theo sự phát triển trí tuệ của trẻ, tạo ra sự sống cho hàng loạt quá trình phát triển, mà đứng ngoài dạy học thì không thể làm được. __

Như vậy, dạy học là yếu tố cơ bản, cần thiết, bên trong của quá trình phát triển ở trẻ em, những yếu tố mang tính chất lịch sử của con người. Nói cách khác, chỉ có cách dạy học đi trước sự phát triển mới tạo ra vùng phát triển gần nhất, mới

thực sự kéo theo sự phát triển, định hướng và thúc đây nó. Dĩ nhiên trong thực

tiễn phải lưu ý dạy học không được ổi trước quá xa-so với sự phát triển, càng không được đi sau nó. Dạy học và phát triển phải cận kê nhau, đồng thời phải quán triệt tư tưởng dạy học là sự hợp tác giữa người dạy và người học. Hoạt động dạy và hoạt động học là hoạt động hợp tác giữa GV và HS. Chỉ có như vậy, dạy học mới đạt hiệu quả tối ưu đối với sự phát triển của trẻ em.

4.3.6.2. Các phương hướng nâng cao hiệu quả dạy học phát triển trí tuệ Có nhiều con đường nâng cao hiệu quả của dạy học đối với sự phát triển trí tuệ HS; trong đó có hai hướng cơ bản:

a)_ Phát triển trí tuệ HS thông qua hoạt động dạy học các lĩnh vực khoa học Theo cách này, dạy học cần phải hướng đến phạm vi vùng phát triển gần nhất của HS (theo L.X. Vưgotxkl), hay nói cách khác, dạy học phải đi trước sự phát triển tâm lí, hướng đến sự phát triển hoàn thiện hơn. Hướng phát triển này tiến hành theo hai nội dung sau:

- Tôn trọng vốn sống của người học khi dạy học. Cần phải xác định được mức độ phát triển hiện tại của người học, những gì người học đang có và những gì

người học có thể phát triển trong tương lai gần đề từ đó có những cách đạy học

phù hợp nhất. Đây là cách đạy học cá biệt hoá, sát đối tượng. Khi nhà giáo đục làm được điều này sẽ làm tăng hứng thú học tập của người học, tạo ra không khí làm việc thoải mái, tự tin vì những hoạt động hiện nằm trong khả năng của các em.

— Xây dựng việc dạy học trên mức độ khó khăn cao và nhịp điệu học nhanh.

Việc học cần phải được phát triển dần từ thấp đến cao và luôn đặt cho người học những nhiệm vụ cần giải quyết. Khi giải quyết được một vấn đề theo yêu cầu,

người học cần phải xem xét thêm những vấn đề khác có liên quan để tìm hiểu toàn

diện vấn đề đặt ra. Nhịp điệu học nhanh nghĩa là tránh việc để HS giậm chân tại chỗ hay nhắc đi nhắc lại nhiều lần một vấn đề.

— Nâng tỉ trọng tri thức lí luận khái quát. Tuy theo mức độ nhận thức của người học để đưa ra mức độ tri thức lí luận khái quát phù hợp. Tuy nhiên, khi

người học có khả năng thì có thể cho người học các định luật, các quy tắc, các biểu thức để cho người học có thể khái quát hoá các quy tắc hay định luật đó.

— Làm cho người học có ý thức về toàn bộ quá trình học tập, tự giác khi học.

Việc người học ý thức được toàn bộ quá trình học tập giúp cho họ có thể xâu chuỗi kiến thức, tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức đồng thời xây dựng được kế hoạch học tập phù hợp.

Kết quả của cách tác động này sẽ đem lại kết quả sau trong sự phát triển tâm lí người học:

- Góp phần xây dựng động cơ học tập, nhu cầu đối với tri thức và tăng cường

thái độ tích cực đối với học tập.

— Tri thức sâu, chính xác, phản ánh đúng bản chất, kĩ năng kĩ xảo chắc chắn.

— Quan sát sâu, có tính khái quát, trình độ tư duy, năng lực phát triển cao.

b) Phat triển tư đuy, trí tuệ thông qua việc trực tiếp dạy các kĩ năng trÍ tuệ

Cơ sở của hướng tiếp cận này là trong cấu trúc của trí tuệ luôn tổn tại các

thành phần là các thao tác trí tuệ. Vì vậy, có thê tách chúng ra và phát triển theo một chương trình chuyên biệt. Theo hướng này, ngày càng có nhiều chương trình

huấn luyện, bồi dưỡng tư duy, trí tuệ đang được phố biến và ứng dụng. Có thể kế tên một vài chương trình trong số này: Chương trình huấn luyện các thủ thuật trí tuệ của R. Sternberg (1987); chương trình dạy học nhằm hình thành năng lực tư duy toán học cho học sinh của V.V. Đavưđov; chương trình đạy chiến lược tư duy theo chiều ngang và chiều đọc của E. De Bono; phương pháp luyện trí não của O. KagayakI... Những chương trình này cần được giới thiệu riêng để tiện cho việc ứng dụng trong thực tiến.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 133 - 136)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)