2.3. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi thiếu niên và đầu thanh niên
2.3.2. Đặc điểm tâm Ii lứa tuổi thanh niên mới lớn
2.3.2.4. Một số đặc điểm tâm lí chủ yếu của lúa tuổi đầu thanh niên
a)_ Sự phát triển của tự ý thức
Ý thức và tự ý thức của tuổi đầu thanh niên đã phát triển ở mức độ cao và có
nhiều khác biệt so với các lứa tuổi trước. Điều này được bộc lộ qua sự ý thức về
thân thế; tự đánh giá các phẩm chất tâm lí của cá nhân và tính tự trọng.
- Hình ảnh về than thé:
Ngay từ giai đoạn tuổi dậy thì, trẻ em đã rất quan tâm đến các vấn đề liên quan tới thân thê của mình. Thái độ này vẫn được duy trì trong suốt thời kì đầu
thanh niên. Câu hỏi thường trực đối với nhiều em là hình ảnh thân thể của mình
thể nào trong mắt người khác, nhất là trong mắt bạn. Nhiều thanh niên (cả nam và nữ) thường xuyên đứng trước gương để ngắm nhìn và kiểm tra cơ thể của mình; lo lắng về tầm vóc nhỏ bé hoặc béo phệ, mụn trứng cá, nốt ruồi trên mặt... Không ít thanh niên xây dựng và thực hiện rất nghiêm kế hoạch rèn luyện thân thể và các hành vi ửng xử, không phải chủ yếu để tăng cường sức khoẻ mà để tao ra hình ảnh hấp dẫn, uy tín và sự mến phục của bạn bè. Những thanh niên chậm lớn hoặc quá béo, chậm xuất hiện các dấu Hiệu giới tính phụ thường cảm thấy băn khoăn, khổ tâm, mặc cảm tự tỉ trước bạn bè. Thông thường, các trải nghiệm này được dấu kín, nhưng cũng có nhiều trường hợp được bộc lộ qua các phản ứng tiêu cực về ăn uống (như biếng ăn hoặc ăn uống vô độ), về hành vi ứng xử (làm dáng quá mức)...
Nói chung, hình ảnh về thân thể là một thành tố quan trọng trong ý thức của tuổi
đầu thanh niên và đây chính là một trong những đặc trưng tâm lí điển hình của lứa tuổi này.
— Khả năng tự đánh giá bản thân:
Cũng như thiếu niên, HS lứa tuổi đầu thanh niên lớn khao khát muốn biết họ
là người như thế nào, có năng lực gì. Vì vậy, tự đánh giá là một nét tâm lí điển
hình của lứa tuổi này. Tự đánh giá của thanh niên mới lớn có các đặc điểm sau:
+ Thứ nhất, tự đánh giá có chủ kiến rõ ràng và đã có sự đối chiếu với các chuẩn chung của xã hội. Điều này khác với các lứa tuổi trước, ở đó đánh giá về
bản thân thường lặp lại ý kiến đánh giá của người lớn. Ở lứa tuổi đầu thanh niên,
khi đánh giá bản thân mình thường chủ yếu dựa vào nhận thức của mình. Tuy nhiên, do khả năng nhận thức về bản thân chưa thực sự khái quát và sâu sắc, nên nhiều thanh niên chưa đánh giá đúng, khách quan về bản thân mình.
+ Thứ hai, sự phản tỉnh về các phẩm chất tâm lí của mình là một trong những
đặc trưng điển hình của tuổi đầu thanh niên.
Phản tỉnh là sự quay vào bên trong bản thân của ý thức, làm cho các phẩm chất tâm lí của cá nhân được phản ánh rõ nét hơn. Sự phản tỉnh của tuổi đầu thanh niên,
giúp các em không chỉ ý thức được rõ hơn “cái tôi” của bản thân, mà còn ý thức
rõ hơn địa vị xã hội của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội. Những vấn đè
như tôi là ai? Tôi là người như thế nào? Tôi có những năng lực vượt trội nào?
Lí tưởng của tôi là gì? Ai là bạn, ai là thù của tôi? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi phải làm gì để cho bản thân tôi cũng như cho mọi người xung quanh
được tốt hơn?... là những vấn đề trăn trở trong suốt thời kì thanh niên, nhất là giai
đoạn đầu thanh xuân. Chúng trở thành nhu câu và là một yếu tổ quan trọng của sự tự xác định về mặt đạo đực — xã hội của thanh niên, quy định các hành vi tu dưỡng của các em. Nhu cầu tự phân tích bản thân, đặt ra những yêu cầu cao đối
với bản thân, là tiền đề của tự giáo dục có mục đích của đầu thanh niên và là dẫu
hiệu để xác định sự phát triển về mặt nhân cách của lứa tuổi này. Về phương diện
thực tiễn, biểu hiện dé nhận thấy sự phản tỉnh của đầu thanh niên là đa số có số tu
dưỡng, nhật kí dưới nhiều hình thức; thông qua sự quan tâm đến các hành động tự tu đưỡng, xây dựng và “ướm thử” theo các mẫu người lí tưởng mà thanh niên ngưỡng mộ trong văn học, nghệ thuật, thê thao...
Chiều sâu và cường độ của sự phản tỉnh phụ thuộc vào đặc điểm tâm lí cá nhân (xu hướng nhân cách: hướng nội hay hướng ngoại; khả năng nhận thức, trình độ - học vấn...) và phụ thuộc vào các nhân tố xã hội của cá nhân đó (điều kiện giáo dục gia đình, nhà trường, môi trường xã hội...).
+ Thứ ba, tự đánh giá của HS đầu thanh niên có chiêu sâu và khái quát hơn
nhiều so với tuổi thiếu niên. Các em không chỉ ý thức và đánh giá về “cái tôi”
hiện thực (tôi là a1?), mà còn đánh giá “cái tôi” lí tưởng (tôi muốn trở thành người như thế nào?), “cái tôi” năng động (tôi sẽ cố gắng để thành người như thế nào?).
Mặt khác, HS đầu thanh niên không còn đánh giá từng đặc điểm thể chất hay
phẩm chất tâm lí riêng của mình như tuổi thiếu niên mà đã đánh giá khái quát về
thể chất, tâm lí và nhân cách của mình dựa trên cơ sở phân tích và khái quát hoá các đặc trưng riêng.
Điều cần lưu ý, dù tự đánh giá của các em đã có tính độc lập, có chiều sâu va mang tính khái quát, nhưng đo ít đựa vào ý kiến của người khác, nên không phải bao giờ cũng phù hợp với cái thực có của mình. Nhiều em đánh giá quá cao
bản thân mình, dẫn đến tự cao, coi thường người khác hoặc đánh giá quá thấp,
coi mình là bất tài, vô dụng. Nhìn chung, yếu tố “1í tưởng hoá” vẫn phổ biến trong tự ý thức và tự đánh giá của thanh niên mới lớn.
+ Thứ tư, sự tự đánh giá của HS ở lứa tuổi đầu thanh niên được thực hiện theo
hai cách.
e Cách thứ nhất: So sánh mức độ ki vọng, mong muốn của mình với kết quả
đạt được. Để khẳng định khả năng của mình, các em sẵn sàng trước những công
việc khó khăn, mạo hiểm (thậm chí quá sức hoặc nguy hại đến bản thân). Nhiều thanh niên không thích hoặc thậm chí coi thường những công việc bình thường hàng ngày; coi đó là những việc làm không tương xứng với mình. Kết quả là, một mặt, thanh niên thường có những hành động quả cảm, phi thường mà các lứa tuổi khác không có; mặt khác, có thể xuất hiện các hành động nguy hại mà người trưởng thành không chấp nhận, như càn quấy, ngang tàng, các trò chơi mạo hiểm, phạm luật... Những thanh niên có hành vi này thường bị quy kết về đạo đức. Tuy nhiên, không hoàn toàn như vậy, phân lớn trong số này chỉ muốn thử thách, kiếm tra sức mạnh và các phẩm chất tâm lí của mình. Vì vậy, xã hội không nên cam đoán các em, cần tạo điều kiện và định hướng các em vào các trò chơi, các hành động phù hợp với xã hội và với tâm lí thanh niên.
Sự kì vọng về bản thân và tính sẵn Sàng cao dé khang định mình là đặc điển tâm lí quý báu của thanh niên, là cơ sở của tính tích cực hoạt động của tuổi thanh niên. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải bao giờ cũng có sự phù hợp giữa kì vọng về bản thân và tính sẵn sàng của thanh niên với kết quả hành động. Trong nhiều trường hợp, do khả năng và kinh nghiệm còn hạn chế nên thanh niên có thể thất bại (theo kì vọng của họ và của xã hội). Từ đó, thường xuất hiện sự tiêu cực khi đánh giá về bản thân. Trong trường hợp như vậy, người trưởng thành cần giúp đỡ,
động viên, giúp các em lượng giá đúng khả năng của mình và biết cách khắc phục những trở ngại để thực hiện mục tiêu của mình.
© Cách thứ hai đề thanh niên tự đánh giá các phẩm chất tâm lí của mình là so sánh, đối chiếu ý kiến đánh giá của người xung quanh về bản thân. HS ở lứa
tuổi đầu thanh niên rất nhạy cảm với các ý kiến của người khác đánh giá về mình
và thường coi đó là các tiêu chuẩn để đánh giá và đánh giá lại. Trong quá trình tiếp nhận sự đánh giá ngoài, các ý kiến của người lớn rất được thanh niên coi trọng. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý kiến của bạn cùng tuổi với của người lớn (đặc biệt đối với các chuẩn đạo đức), các em thường có xu hướng nghiêng về ý kiến của người lớn. Vì vậy, khi đánh giá của người lớn không đúng hoặc không thống nhất (giữa lời nói và việc làm) sẽ tạo ra tốn thất lớn về niềm tin trong các em.
— Tính tự trọng của thanh niên mới lớn:
+ Tính tự trọng là sự /in tưởng, tôn trọng và chấp nhận chính bản thân, nhân cách của mình, trên cơ sở tự đánh giá đúng đắn, khái quát về bản thân. Tính tự trọng là thái độ tích cực, lạc quan của cá nhân, thể hiện sự đánh giá khách quan, nghiêm túc, yêu cầu cao đối với bản thân mình. Người có tính tự trọng thường không chấp nhận sự đánh giá không đúng về mình; không chấp nhận sự xúc phạm đến cỏc giỏ trị sốn ứ và hạ thấp nhõn cỏch của mỡnh.
+ Một trong những đặc trưng nỗi bật của tuôi đầu thanh niên là sự phát triển đến mức độ cao, ổn định của tính tự trọng. Mức độ tự trọng ở thanh niên có phô rat rộng, từ mức thấp nhất là cá nhân hầu như không có sự tôn trọng bản thân (thiếu tự trọng), đến tự trọng cao.
e Tự trọng cao là sự đánh giá đúng mức về bản thân, biết bảo vệ danh dự của
mình một cách phù hợp trong các hoàn cảnh cụ thé.
® Tự trọng thấp là sự coi thường, thiếu tin tưởng vào bản thân, tự hạ thấp mình, chấp nhận hoặc không coi trọng các đánh giá không đúng hoặc xúc phạm đến giá trị nhân cách của mình.
® Thiếu tự trọng thê hiện thái độ tiêu cực của cá nhân đối với bản thân. Nó là một yếu tố dẫn đến sự thiếu tôn trọng của người khác đối với mình. Những thanh
niên có tính tự trọng thấp thường gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và cản trở sự phát triển nhân cách của mình.
+ Cần phân biệt tính tự trọng với tính tự kiêu, thái độ nhút nhát hay sự thiếu phê phán đối với bản thân của HS đầu thanh niên. Nhiều em trong số đó đánh giá không đúng bản thân mình (quá cao hoặc quá thấp); từ đó có thái độ không đúng
đối với bản thân và với người khác. Sự tin tưởng bản thân một cách quá mức và
thiếu căn cứ thường gây khó chịu, xung đột và thất vọng từ phía người lớn.
Cách tốt nhất để giúp những thanh niên này không phải là phê phán các em mà
can tô chức cho các em hoạt động và giao tiếp, dé thông qua đó các em có các trải - nghiệm thực tế. Bằng con đường tự trải nghiệm HS ở tuổi đầu thanh niên sẽ có
thái độ đúng về bản thân mình. |
b) Li tưởng sống và tính tích cực xã hội của HS ở lứa tuổi đầu thanh niên
— Sự hình thành lí tưởng sống và kế hoạch đường đời HS ở lứa tuổi đầu thanh niên:
+ Lí tưởng sống của thanh niên mới lớn. Lí tưởng sống, theo đúng nghĩa của nó,
được hình thành và phát triển mạnh ở tuổi đâu thanh niên. Ở lứa tuổi này, “hình mẫu người lí tưởng” không còn gắn liền với các cá nhân cụ thể mà có tính khái quát
cao về các phẩm chất tâm lí, nhân cách điển hình của nhiều cá nhân trong các lĩnh vực hoạt động, nghề nghiệp, được thanh niên quý trọng và ngưỡng mộ, noi theo...
Lí tưởng sống của HS ở tuổi đầu thanh niên đã có sự phân hoá /í rrởng nghề va li twong đạo đức cao cả. Lắ tưởng này được thể hiện qua mục đích sống, qua sự say mê với việc học tập, nghiên cứu và lao động nghề nghiệp; qua nguyện vọng được tham gia các hoạt động mang lại giá trị xã hội lớn lao, được cổng hiến sức trẻ của mình, ngay cả trong trường hợp nguy hiểm đến tính mạng của bản thân.
Nhiều thanh niên luôn ngưỡng mộ và cố gắng theo các thần tượng của mình trong tiểu thuyết cũng như trong cuộc sống.
Có sự khác nhau khá rõ về giới giữa lí tưởng của nam và nữ thanh niên. Đối với nữ thanh niên, lí tưởng sống về nghề nghiệp, về đạo đức xã hội thường mang tính nữ và không bộc lộ rõ và mạnh như nam.
Điều cần lưu ý là trong các em, vẫn còn một bộ phận bị lệch lạc về lí tưởng sống. Những thanh niên này thường tôn thờ một số tính cách riêng biệt của các nhân cách xấu như ngang tàng, càn quấy... và coi đó là biểu hiện của thanh niên anh hùng, hảo hán...
Việc giáo dục lí tưởng của thanh niên, đặc biệt là các em ở tuổi đầu thanh niên cần đặc biệt lưu ý tới nhận thức và trình độ phát triển tâm lí của các em.
+ Kế hoạch đường đời là một khái niệm rộng, bao hàm từ sự xác định các giá trị đạo đức, mức độ kì vọng vào tương lai, nghề nghiệp, phong cách sống... Ở tuổi đầu thanh niên, tính tất yêu của sự lựa chọn trở lên rõ ràng. Từ nhiều khả năng, ở
tuổi thiếu niên dần dần hình thành nên đường nét của một vài phương án hiện thực
và có thê được chấp nhận. Đến cuối tuổi đầu thanh niên, một trong số vài phương án ban đầu sẽ trở thành lẽ sống, định hướng hành động của các em.
Vấn đề quan trọng nhất và là sự bận tâm nhất của HS lứa tuổi đầu thanh niên trong việc xây dựng kế hoạch đường đời là vấn đề nghề và chọn nghệ, chọn
trường học nghê. Xu hướng và hứng thú nghề đã xuất hiện từ tuổi thiếu niên. Tuy
nhiên, chỉ đến khi bước sang tuổi thanh niên thì xu hướng nghề mới trở nên cấp
thiết và mang tính hiện thực. Hầu hết HS ở tuổi đầu thanh niên đều phải đối mặt
với việc lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai. Việc lựa chọn nghề và trường học
nghề luôn luôn là mối quan tâm lớn nhất và là sự khó khăn của đa số HS THCS và THPT. Về chủ quan, sự hiểu biết về nghề của HS còn hạn chế. Nhiều HS tuổi đầu thanh niên chưa thực sự hiểu rõ mạng lưới nghề hiện có trong xã hội, chưa phân
biệt rõ sự khác nhau giữa nghề và trường đào tạo nghè, nên ít em hướng đến việc
chọn nghề mà chủ yếu chọn trường để học. Việc chọn nghề của số thanh niên này
không phải với tư cách là chọn một lĩnh vực việc làm ôn định phù hợp với khả
năng và điều kiện của mình, không phải là một nghề để mưu sinh, mà chủ yếu chỉ là sự khẳng định mình trước bạn hoặc chủ yếu là theo đuổi chí hướng có tính chất
lí tưởng hoá của mình. Vì vậy, mặc dù các em ý thức được tầm quan trọng của việc chọn nghề nhưng hành vi lựa chọn của các em vẫn cỉm tinh. Về khách quan,
trong nền kinh tế hiện đại, mạng lưới nghề rất đa dạng, phong phú và biến động,
nên việc định hướng và lựa chọn giá trị nghề của thanh niên trở lên rất khó. Việc giáo dục nghề và hướng nghiệp cho HS luôn là việc làm rất quan trọng của trường
phổ thông và của toàn xã hội.
— Tính tích cực xã hội của HS tuổi đâu thanh niên:
So với các lứa tuổi trước, tuổi đầu thanh niên có tính tích cực xã hội rất cao và được thê hiện qua nhiều khía cạnh như sau:
| + Nhu cau tinh thần cia HS 6 tudi dau thanh nién rat cao, 1A tang lép rat nhay cam với các sự kiện chính trị — xã hội, kinh tế... của đất nước. Các em không chỉ quan tâm tới hoạt động chính của mình (học tập hoặc lao động sản xuất) ma con quan tâm sâu sắc đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong nước và trên thế giới.
+ Hứng thú nhận thức và hứng thú tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, nghệ thuật, thể thao như đọc sách, xem phim, ca nhạc, ham thích tham gia các hoạt động thé thao, văn nghệ, du lịch, các câu lạc bộ, các diễn đàn tuổi trẻ về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan trực tiếp tới HS.
+ Một trong những biểu hiện rõ nhất của tính tích cực xã hội của tuổi đầu thanh niên là phạm vi và mức độ tham gia các hoạt động xã hội.
Phạm vi hoạt động xã hội của thanh niên HS Tất rộng. Dù rất bận học tập hoặc lao động sản xuất, các em vẫn say mê các hoạt động xã hội, từ các hoạt động